Bá tước Monte Cristo

Lượt đọc: 609 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 107
Hang Sư Tử

❊ ❊ ❊

Một khu của nhà tù La Force, nơi giam giữ những tù nhân nguy hiểm và ngoan cố nhất, được gọi là khoảng sân Saint-Bernard. Bằng thứ ngôn ngữ đầy hình tượng của mình, các tù nhân đã đặt cho nó cái tên "Hang Sư Tử", có lẽ bởi những kẻ bị giam giữ nơi đây đều sở hữu những hàm răng thường xuyên gặm nhấm song sắt, và đôi khi cả các giám thị nữa. Đó là một nhà tù nằm lọt thỏm trong nhà tù; tường ở đây dày gấp đôi các khu khác. Các tấm lưới sắt được cai ngục kiểm tra cẩn thận mỗi ngày; những kẻ cai ngục với vóc dáng lực lưỡng cùng ánh mắt lạnh lùng, tàn nhẫn ấy được chọn để cai trị thần dân của mình chính nhờ sự nhanh nhẹn và trí tuệ vượt trội.

Khoảng sân của khu này được bao bọc bởi những bức tường khổng lồ, nơi ánh nắng mặt trời chỉ có thể chiếu xiên qua khi nó rủ lòng thương bén mảng đến cái vực thẳm của sự biến dạng cả về luân lý lẫn thể xác này. Trên khoảng sân lát đá ấy, người ta có thể nhìn thấy — đi lại dập dờn từ sáng đến tối, xanh xao, hốc hác và tàn tạ như những cái bóng — những kẻ đang bị công lý kìm kẹp bên dưới lưỡi dao sắc bén mà nàng đang mài giũa. Ở đó, nép mình sát vào bức tường thu hút và giữ lại nhiều hơi ấm nhất, thỉnh thoảng người ta lại thấy họ trò chuyện với nhau, nhưng thường thì họ lủi thủi một mình, ngước nhìn cánh cửa chốc chốc lại mở ra để gọi một kẻ ra khỏi đám đông u ám, hoặc tống thêm một kẻ bỏ quên của xã hội vào.

Sân Saint-Bernard có phòng tiếp khách riêng của nó; đó là một căn phòng hình chữ nhật dài, bị ngăn đôi bởi hai lớp lưới sắt đặt cách nhau ba thước để ngăn không cho khách thăm bắt tay hoặc chuyền bất cứ thứ gì cho tù nhân. Đó là một nơi tồi tàn, ẩm ướt, thậm chí đáng sợ, nhất là khi ta nghĩ đến những cuộc gặp gỡ đầy dằn vặt từng diễn ra giữa những thanh sắt ấy. Thế nhưng, dẫu đáng sợ là thế, nơi này vẫn được coi như một chốn thiên đường đối với những kẻ đã đếm từng ngày sống; bởi vì rất hiếm khi họ được rời khỏi Hang Sư Tử để đến bất cứ nơi nào khác ngoài pháp trường Saint-Jacques, khổ sai chung thân, hoặc xà lim biệt giam!

Trong khoảng sân mà chúng tôi vừa gắng mô tả, nơi bốc lên một làn hơi nước ẩm ướt, người ta có thể nhìn thấy một thanh niên hai tay đút túi đang đi lại, kẻ đã khơi gợi sự tò mò lớn cho những cư dân trong "Hang". Kiểu cách trang phục có thể khiến hắn được nhìn nhận như một quý ông lịch lãm, nếu những bộ quần áo ấy không bị rách tơi tả; dẫu vậy, chúng vẫn chưa đến nỗi sờn rách, và phần vải vóc hảo hạng dưới bàn tay chăm chút của người tù đã nhanh chóng lấy lại vẻ bóng bẩy ở những chỗ còn lành lặn, bởi chủ nhân của chúng đang cố hết sức để làm cho chiếc áo trông giống như đồ mới. Hắn cũng dành sự quan tâm tương tự cho phần yếm áo sơ mi bằng vải cambric — thứ đã ngả màu đáng kể từ khi hắn bước chân vào nhà tù, đồng thời đánh bóng đôi bốt da bóng của mình bằng góc chiếc khăn tay thêu chữ cái viết tắt với một chiếc vương miện phía trên.

Một số kẻ sống trong "Hang Sư Tử" đang theo dõi công cuộc làm đẹp của người tù với vẻ thích thú không giấu giếm.

“Nhìn kìa, vị hoàng tử đang làm mã diện kìa,” một tên trộm lên tiếng.

“Hắn là một tay khôi ngô đấy chứ,” kẻ khác tiếp lời; “giá mà có cái lược với ít mỡ chải tóc, hắn thừa sức lấn át mấy tay chơi đi găng tay trắng.”

“Áo hắn trông gần như mới, còn bốt thì sáng loáng. Thật dễ chịu khi có những người anh em ăn mặc tề chỉnh nhường này; thế mà mấy tên hiến binh lại hành xử thật đáng xấu hổ. Đúng là ghen tị ra mặt; lại đi xé rách cả quần áo người ta!”

“Trông hắn cứ như một tay tai to mặt lớn,” một tên khác nhận xét; “ăn vận ra trò phết. Thế mà lại phải vào đây khi còn trẻ thế chứ! Ồ, đúng là nực cười thật!”

Trong khi ấy, đối tượng của sự ngưỡng mộ gớm ghiếc này lại tiến về phía ô cửa sổ nhỏ, nơi một trong những gã cai ngục đang tựa người vào.

“Này ngài,” hắn cất lời, “cho tôi vay hai mươi franc đi; ngài sẽ được trả lại sớm thôi; với tôi thì ngài chẳng có rủi ro gì sảng cả. Hãy nhớ rằng tôi có những họ hàng sở hữu nhiều triệu phú hơn số xu cắc mà ngài đang có đấy. Nào, tôi nài xin ngài, hãy cho tôi vay hai mươi franc để tôi mua một chiếc áo choàng tắm; thật không tài nào chịu nổi cảnh cứ phải mặc nguyên áo vét và bốt mãi thế này! Mà đây lại là chiếc áo vét dành cho một hoàng tử nhà Cavalcanti cơ chứ, hỡi ngài!”

Gã cai ngục quay lưng đi, nhún vai; hắn thậm chí còn chẳng buồn cười trước một lời lẽ mà nếu là người khác thì đã phì cười rồi; hắn đã nghe quá nhiều kẻ nói những câu y hệt như thế — thực chất, hắn chẳng nghe thấy gì khác ngoài những điều đó.

“Này,” Andrea nói, “anh đúng là kẻ vô ơn bạc nghĩa; tôi sẽ cho người đuổi cổ anh khỏi đây đấy.”

Câu nói này khiến gã cai ngục quay đầu lại và phá lên cười lớn. Bọn tù nhân lúc ấy bèn tiến lại gần, vây quanh thành một vòng tròn.

“Tôi nói cho anh hay, chỉ với số tiền còm cõi ấy,” Andrea tiếp tục, “tôi có thể sắm được một chiếc áo, và một căn phòng để tiếp vị khách lẫy lừng mà tôi đang mong chờ mỗi ngày.”

“Tất nhiên rồi — tất nhiên rồi,” đám tù nhân hùa theo;—“ai mà chẳng nhận ra hắn là một quý ông cơ chứ!”

“Thế thì, sao không cho hắn vay hai mươi franc đi,” gã cai ngục vừa nói vừa tựa vào bên vai kia; “chắc chắn là anh không đến nỗi từ chối một người đồng chí chứ!”

“Tôi không phải đồng chí của những kẻ này,” người thanh niên kiêu hãnh đáp, “anh không có quyền lăng mạ tôi như thế.”

Bọn trộm cướp nhìn nhau với những tiếng lầm bầm trong cổ họng, và một cơn bão đang chực chờ tụ họp trên đầu vị tù nhân quý tộc, dấy lên không hẳn vì lời nói của hắn mà xuất phát từ thái độ của gã cai ngục. Vốn chắc chắn về khả năng dập tắt cơn cuồng phong khi sóng gió trở nên quá dữ dội, gã cai ngục để mặc chúng dâng lên đến một mức độ nhất định nhằm trả thù kẻ hay nhũng nhiễu là Andrea, vả lại điều đó cũng giúp gã giải trí đôi chút trong suốt một ngày dài dằng dặc.

Bọn trộm đã áp sát Andrea, vài tên gào lên: “La savate — La savate!”[26] một hình phạt tàn nhẫn, bao gồm việc nện những cú đấm tơi bời vào một tên đồng bọn đã thất thế, không phải bằng một chiếc giày cũ, mà bằng một chiếc giày có gót sắt. Những kẻ khác đề xuất trò anguille, một hình thức giải trí khác trong đó một chiếc khăn tay được nhét đầy cát, sỏi và những đồng xu hai sous — nếu chúng có — mà những kẻ khốn nạn đó sẽ quất vun vút như đập lúa lên đầu và vai của nạn nhân bất hạnh.

“Hãy quất roi tên quý tộc rởm đời này đi!” những kẻ khác hét lên.

Nhưng Andrea, quay người về phía chúng, nháy mắt, đảo lưỡi trong má và chép miệng một tiếng tương đương với hàng trăm từ ngữ đối với bọn cướp khi chúng buộc phải giữ im lặng. Đó là một dấu hiệu hội Tam Điểm mà Caderousse từng dạy cho hắn. Hắn lập tức được nhận diện là người của chúng; chiếc khăn tay bị ném xuống đất, và chiếc giày gót sắt được mang trở lại vào chân của kẻ sở hữu nó.

Vài giọng nói vang lên cho rằng ngài đây có lý; rằng hắn định tỏ ra lịch sự theo cách của riêng mình, và rằng chúng sẽ làm gương cho tinh thần tự do lương tâm — rồi đám đông giải tán. Gã cai ngục ngẩn người trước cảnh tượng đó đến mức hắn nắm lấy tay Andrea và bắt đầu săm soi khắp người hắn, quy sự quy phục bất ngờ của những cư dân trong Hang Sư Tử cho một điều gì đó chắc chắn hơn là vẻ quyeeenf rũ thông thường.

Andrea không hề chống cự, dẫu hắn vẫn lên tiếng phản đối. Bỗng nhiên, một giọng nói vang lên từ ô cửa nhỏ.

“Benedetto!” một thanh tra cất tiếng gọi. Gã cai ngục lỏng tay buông ra.

“Có tôi,” Andrea đáp.

“Đến phòng tiếp khách!” cùng giọng nói ấy vang lên.

“Anh thấy chưa, có người đến thăm tôi đấy. À, ngài cai ngục thân mến, ngài sẽ sớm được thấy một người nhà Cavalcanti có được đối xử như một kẻ phàm phu tục tử hay không!”

Và Andrea lướt qua khoảng sân như một cái bóng đen, lao vút ra ngoài qua ô cửa tò vò, để lại những kẻ đồng cam cộng khổ, và thậm chí cả gã cai ngục, đứng ngẩn ngơ vì kinh ngạc. Chắc chắn là một tiếng gọi đến phòng thăm viếng cũng chẳng khiến Andrea ngạc nhiên hơn họ là bao, bởi vì gã thanh niên ranh mãnh này, thay vì tận dụng đặc quyền chờ được người ta nhận dạng khi mới bước chân vào La Force, lại chọn cách giữ im lặng đến cùng.

“Mọi thứ,” hắn tự nhủ, “đều chứng tỏ rằng tôi đang đặt dưới sự bảo bọc của một nhân vật quyền thế nào đó — sự giàu có bất ngờ này, sự dễ dàng mà tôi đã vượt qua mọi trở ngại, một gia đình bất ngờ xuất hiện cùng một cái tên lẫy lừng được ban cho tôi, vàng bạc đổ xuống như mưa, và những mối lương duyên huy hoàng nhất sắp được thành đôi. Một cú ngã ngựa bất hạnh cùng sự vắng mặt của người bảo bọc đã quật ngã tôi, quả thực là thế, nhưng không phải là mãi mãi. Bàn tay vừa rút lui trong chốc lát ấy sẽ lại chìa ra để cứu lấy tôi đúng vào khoảnh khắc tôi tưởng mình đang chìm xuống vực sâu. Tại sao tôi phải liều lĩnh thực hiện một bước đi bất cẩn chứ? Nó có thể làm phật lòng người bảo bọc của tôi. Ngài ấy có hai cách để kéo tôi ra khỏi vũng lầy này — một là cuộc tẩu thoát bí ẩn được sắp đặt bằng tiền hối lộ; hai là dùng vàng để mua chuộc các thẩm phán của tôi. Tôi sẽ không nói gì và cũng chẳng làm gì cho đến khi tôi tin chắc rằng ngài ấy đã hoàn toàn từ bỏ mình, và khi đó——”

Andrea đã vạch ra một kế hoạch khá khôn ngoan. Gã thanh niên bất hạnh này vốn gan dạ trong tấn công và cứng cỏi trong phòng thủ. Hắn đã chịu đựng được cảnh tù đày cùng đủ mọi thứ thiếu thốn; thế nhưng, dần dần bản năng, hay đúng hơn là thói quen, đã chiến thắng, và hắn bắt đầu thấy khổ sở vì cảnh rách rưới, bẩn thỉu và đói khát. Chính vào khoảnh khắc khốn cùng ấy, giọng nói của viên thanh tra đã gọi hắn đến phòng thăm gặp. Tim Andrea cảm thấy như nhảy cờn lên vì vui sướng. Quá sớm để một vị thẩm phán điều tra đến thăm, và cũng quá muộn đối với giám đốc nhà tù hay bác sĩ; vậy chắc chắn đó là vị khách mà hắn hằng mong đợi. Phía sau tấm lưới sắt của căn phòng mà Andrea vừa được dẫn tới, trong lúc đôi mắt mở trừng trừng vì ngạc nhiên, hắn nhìn thấy khuôn mặt tối tăm và sắc sảo của ngài Bertuccio, người cũng đang đăm đăm nhìn với vẻ ngạc nhiên đầy u buồn vào những thanh sắt, những cánh cửa cài then và cái bóng đang chuyển động phía sau lớp lưới bên kia.

“A,” Andrea thốt lên, vô cùng xúc động.

“Chào buổi sáng, Benedetto,” Bertuccio cất tiếng bằng giọng trầm và vang như từ đáy giếng.

“Chính là ông… ông ư?” gã thanh niên nói, sợ hãi đảo mắt nhìn quanh.

“Cậu không nhận ra tôi sao, đứa trẻ bất hạnh?”

“Im đi… hãy im đi!” Andrea nói, kẻ thừa biết cái thính giác tinh tường của những bức tường nhà tù; “vì Chúa, xin đừng nói to thế!”

“Cậu muốn nói chuyện riêng với tôi phải không?” Bertuccio hỏi.

“Ồ, vâng.”

“Thế thì tốt.”

Và Bertuccio, thọc tay vào túi, ra hiệu cho một gã cai ngục mà hắn nhìn thấy qua khung cửa sổ của ô tò vò.

“Đọc đi?” hắn nói.

“Cái gì thế?” Andrea hỏi.

“Một lệnh dẫn giải cậu đến một căn phòng, và để cậu ở đó trò chuyện với tôi.”

“Ôi,” Andrea kêu lên, nhảy cờn lên vì vui sướng. Rồi hắn thầm nghĩ trong đầu: —“Quả nhiên vẫn là vị ân nhân vô danh của ta! Ta không bị lãng quên. Họ muốn sự kín đáo, bằng chứng là chúng ta sẽ trò chuyện trong một căn phòng riêng. Tôi hiểu rồi, Bertuccio đã được phái đến bởi ân nhân của tôi.”

Gã cai ngục trao đổi vài câu với một viên chức, rồi mở những cánh cổng sắt và dẫn Andrea lên một căn phòng ở tầng một. Căn phòng được quét vôi trắng như thói quen của các nhà tù, nhưng nó trông vô cùng rực rỡ đối với một người tù, dẫu rằng một chiếc lò sưởi, một chiếc giường, một cái ghế và một chiếc bàn đã cấu thành toàn bộ nội thất sang trọng của nó. Bertuccio ngồi xuống ghế, Andrea ngả người phốc lên giường; gã cai ngục lui ra ngoài.

“Nào,” vị quản gia lên tiếng, “cậu có điều gì muốn nói với tôi?”

“Còn ông thì sao?” Andrea hỏi ngược lại.

“Cậu nói trước đi.”

“Ồ, không. Chắc chắn ông có rất nhiều điều muốn nói với tôi, bằng chứng là ông đã cất công đến tìm tôi cơ mà.”

“Thôi được. Cậu vẫn tiếp tục con đường tội lỗi của mình; cậu đã cướp bóc — cậu đã mưu sát.”

“Thôi đi cho! Nếu ông bắt tôi đến một căn phòng riêng chỉ để nói mỗi chuyện này, ông đã có thể tự tiết kiệm công sức cho mình rồi. Tôi thừa biết những chuyện đó. Nhưng có những thứ trái lại mà tôi hoàn toàn không biết. Hãy nói về những chuyện ấy đi, nếu ông vui lòng. Ai phái ông đến đây?”

“Nào, nào, cậu đang đi quá đà rồi đấy, ngài Benedetto ạ!”

“Đúng thế, và đi thẳng vào trọng tâm luôn. Hãy dẹp bỏ những lời thừa thãi đi. Ai phái ông đến?”

“Không một ai cả.”

“Làm sao ông biết tôi ở trong tù?”

“Tôi đã nhận ra cậu từ lâu, cái tên công tử bột ngạo mạn từng cưỡi ngựa rất tao nhã ở Champs-Élysées ấy.”

“Ồ, Champs-Élysées ư? À, phải rồi; chúng ta đang cháy bỏng, như người ta vẫn nói trong trò chơi kẹp nhíp. Champs-Élysées phảik hông? Nào, hãy nói chuyện một chút về cha tôi đi.”

“Thế rốt cuộc tôi là ai?”

“Ông ư, thưa ngài? — ông là cha nuôi của tôi. Nhưng chắc không phải ông đã đặt vào tay tôi 100.000 franc để tôi tiêu sạch trong bốn hay năm tháng; chẳng phải ông đã nhào nặn ra một quý tộc người Ý làm cha tôi; chẳng phải ông đã đưa tôi bước chân vào thượng lưu xã hội và cho tôi được mời dự một bữa tiệc nào đó ở Auteuil — nơi mà lúc này tôi có cảm giác như mình vẫn đang thưởng thức, ngồi cùng với những nhân vật kiệt xuất nhất ở Paris — trong số đó có cả một vị biện lý mà lẽ ra tôi đã rất sai lầm khi không vun đắp mối quan hệ, bởi vì giờ này ông ta hẳn sẽ rất có ích cho tôi; — thực chất, cũng chẳng phải ông là người bảo lãnh cho tôi một hoặc hai triệu khi bí mật nho nhỏ của tôi bị bại lộ đâu nhỉ. Nào, nói đi, vị người Corsica đáng kính của tôi, nói đi chứ!”

“Cậu muốn tôi nói gì nào?”

“Tôi sẽ giúp ông. Lúc nãy ông vừa nhắc đến Champs-Élysées mà, người cha nuôi đáng kính.”

“Rồi sao?”

“Thì, ở Champs-Élysées có một quý ông rất giàu có.”

“Chính là kẻ mà cậu đã đột nhập cướp bóc và mưu sát tại nhà hắn, phải không?”

“Tôi tin là vậy.”

“Bá tước xứ Monte Cristo chứ gì?”

“Chính ông là người đã thốt ra cái tên đó, y như lời nhà thơ Racine đã nói. Nào, chẳng lẽ tôi phải lao vào vòng tay ngài ấy, ôm chặt lấy tim ngài và gào lên: ‘Cha ơi, cha tôi ơi!’, giống như các nhân vật của ngài Pixérécourt hay sao.”[27]

“Đừng có giỡn mặt nữa,” Bertuccio nghiêm giọng đáp, “và đừng bao giờ cả gan thốt lên cái tên đó một lần nữa theo cái cách mà cậu vừa phát âm.”

“Xì,” Andrea nói, có chút nao núng trước vẻ uy nghiêm trong thái độ của Bertuccio, “tại sao lại không chứ?”

“Bởi vì con người mang cái tên ấy quá được trời Phật ưu ái để có thể làm cha của một tên khốn nạn như cậu.”

“Ồ, toàn là những lời hay ý đẹp.”

“Và sẽ có cả những hành động đẹp nữa, nếu cậu không biết điều.”

“Đe dọa ư — tôi chẳng sợ đâu. Tôi sẽ khai…”

“Cậu nghĩ mình đang đối phó với một kẻ lùn tịt giống như cậu chắc?” Bertuccio nói, với một giọng bình thản đến mức và ánh mắt kiên định đến độ khiến tâm can Andrea chấn động. “Cậu nghĩ mình đang đụng độ với những tên tù khổ sai hay mấy kẻ mới bước chân vào đời chắc? Benedetto, cậu đã rơi vào những bàn tay khủng khiếp rồi đấy; họ đang sẵn sàng mở lối cho cậu — hãy tận dụng điều đó đi. Đừng có đùa giỡn với tia chớp mà họ vừa tạm cất đi trong chốc lát, nhưng họ có thể chộp lại bất cứ lúc nào nếu cậu dám cản trở hành động của họ.”

“Cha tôi — tôi phải biết cha mình là ai,” gã thanh niên bướng bỉnh nói; “tôi thà chết nếu buộc phải chết, nhưng tôi phải biết cho bằng được. Tiếng tăm tai tiếng thì sá gì đối với tôi? Tôi còn chút tài sản, danh tiếng hay cái gọi là ‘thế lực’ nào nữa đâu, như cách gọi của Beauchamp chứ? Các người — những kẻ lớn lao — luôn mất mát đôi chút vì tai tiếng, bất chấp hàng triệu trong tay các cấu. Nào, cha tôi là ai?”

“Tôi đến để nói cho cậu biết điều đó đây.”

“A,” Benedetto kêu lên, đôi mắt sáng rực lên vì phấn khích. Đúng lúc đó, cửa mở ra, và viên cai ngục hướng về phía Bertuccio, nói:

“Xin lỗi ngài, nhưng vị thẩm phán điều tra đang đợi tù nhân rồi.”

“Và thế là cuộc gặp gỡ của chúng ta khép lại,” Andrea nói với vị quản gia đáng kính; “ước gì cái tên phiền phức đó xuống âm phủ quách cho rồi!”

“Tôi sẽ quay lại vào ngày mai,” Bertuccio nói.

“Hay lắm! Này mấy tên hiến binh, ta xin sẵn sàng phục vụ các ngươi. À này ngài, xin hãy để lại vài đồng cúc ở cổng để tôi có thể mua ít vật dụng đang cần nhé!”

“Sẽ được thôi,” Bertuccio đáp gọn lỏn.

Andrea chìa tay ra; Bertuccio vẫn giữ nguyên tay trong túi, chỉ khẽ khua cho mấy đồng tiền kêu lủng lẳng.

“Ý tôi là thế đấy,” Andrea vừa nói vừa cố nặn ra một nụ cười, hoàn toàn bị khuất phục trước sự tĩnh lặng kỳ lạ của Bertuccio.

“Lẽ nào mình đã lầm?” hắn lẩm bẩm, bước chân lên chiếc xe chở tù hình chữ nhật có lắp chấn song mà người ta vẫn gọi là “giỏ rau trộn”.

“Mặc kệ chứ, rồi chúng ta sẽ rõ! Hẹn ngày mai vậy!” hắn vừa nói vừa quay đầu về phía Bertuccio.

“Ngày mai gặp lại!” vị quản gia đáp ngắn gọn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Alexandre Dumas and Auguste Maquet

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.