Cầu thang dẫn lên phòng khám của bác sĩ Reefy, nằm trong tòa nhà Heffner phía trên cửa hàng bách hóa Paris, chỉ được thắp sáng lờ mờ. Ngay đầu cầu thang treo một chiếc đèn có ống khói nhọ nhem, được bắt vào tường bằng một chiếc giá đỡ. Chiếc đèn có một tấm phản chiếu bằng thiết, ngả màu nâu vì gỉ sét và phủ đầy bụi bặm. Những ai bước lên cầu thang này đều đặt bàn chân mình theo vết chân của biết bao người từng đi trước. Những bậc gỗ mềm của cầu thang đã lún xuống dưới sức nặng của bao đôi chân, tạo thành những hõm sâu đánh dấu lối đi.
Ngay ở đỉnh cầu thang, rẽ phải sẽ đưa bạn đến cửa phòng khám của bác sĩ. Về phía bên trái là một hành lang tối tăm chất đầy đồ phế thải. Những chiếc ghế cũ, giá vẽ thợ mộc, thang chữ A và những chiếc hộp rỗng nằm trong bóng tối chờ đợi những ống chân va phải. Đống phế thải ấy thuộc về Công ty Bách hóa Paris. Khi một quầy hàng hay một dãy kệ trong cửa hàng trở nên vô dụng, các nhân viên lại khiêng lên cầu thang và ném vào đống đồ đó.
Phòng khám của bác sĩ Reefy rộng như một cái nhà kho. Một chiếc lò sưởi bụng phệ nằm ở giữa phòng. Xung quanh chân lò đắp đầy mùn cưa, được giữ lại bằng những tấm ván dày đóng xuống sàn nhà. Cạnh cửa ra vào đặt một chiếc bàn lớn vốn từng là một phần nội thất trong cửa hàng quần áo của Herrick, từng được dùng để bày trang phục may đo. Trên bàn phủ đầy sách, chai lọ và dụng cụ phẫu thuật. Gần mép bàn là ba hoặc bốn quả táo do John Spaniard để lại – một chủ vườn ươm cây vốn là bạn của bác sĩ Reefy, người đã lén giấu những quả táo trong túi áo khi bước qua cửa.
Ở tuổi trung niên, bác sĩ Reefy cao gầy và vụng về. Bộ râu xám mà ông để về sau vẫn chưa mọc, nhưng trên môi trên đã có một bộ ria mép màu nâu. Ông không phải là một người tao nhã như khi tuổi đã cao, và thường phải bận tâm với việc tìm chỗ để cho đôi tay và đôi chân của mình.
Vào những buổi chiều hè, khi đã kết hôn nhiều năm và khi con trai bà là George đã là một cậu bé mười hay mười bốn tuổi, Elizabeth Willard đôi khi lại bước lên những bậc thang mòn để đến phòng khám của bác sĩ Reefy. Vốn dĩ vóc dáng cao ráo tự nhiên của người phụ nữ ấy đã bắt đầu còng xuống và lê lết một cách bơ phờ. Ra vẻ như bà đến gặp bác sĩ vì lý do sức khỏe, nhưng trong nửa tá lần đến gặp ông, kết quả của những chuyến đi ấy vốn không mấy bận tâm đến sức khỏe của bà. Bà và bác sĩ nói về điều đó, nhưng họ nói nhiều nhất về cuộc đời bà, về cuộc đời của cả hai, và về những ý nghĩ đã đến với họ khi họ sống cuộc đời mình tại Winesburg.
Trong căn phòng lớn trống trải, người đàn ông và người phụ nữ ngồi nhìn nhau và họ có khá nhiều điểm tương đồng. Cơ thể họ khác nhau, màu mắt cũng khác, chiều dài của chiếc mũi cũng khác, và hoàn cảnh tồn tại của họ cũng chẳng giống nhau, nhưng một thứ gì đó bên trong họ mang ý nghĩa giống nhau, khao khát cùng một sự giải thoát, và sẽ để lại cùng một ấn tượng trong ký ức của bất kỳ kẻ ngoài cuộc nào. Về sau, khi tuổi đã cao và kết hôn với một người vợ trẻ, vị bác sĩ thường kể cho cô nghe về những giờ phút bên người phụ nữ bệnh tật và giãi bày rất nhiều điều mà ông đã không thể nói với Elizabeth. Khi về già, ông gần như là một thi sĩ và quan niệm của ông về những gì đã xảy ra mang màu sắc thơ ca. “Tôi đã đến thời điểm trong đời mà việc cầu nguyện trở thành một nhu cầu, thế nên tôi đã tự tạo ra các vị thần và cầu nguyện với họ,” ông nói. “Tôi không thốt ra lời cầu nguyện cũng chẳng quỳ gối mà ngồi hoàn toàn yên lặng trên ghế. Vào buổi chiều muộn khi trời oi ả và tĩnh lặng trên phố Main, hay vào mùa đông khi những ngày u ám, các vị thần bước vào phòng khám và tôi cứ nghĩ chẳng ai hay biết về họ. Rồi tôi nhận ra người phụ nữ tên Elizabeth ấy biết, rằng cô ấy cũng tôn thờ những vị thần giống vậy. Tôi có cảm giác cô ấy đến phòng khám vì nghĩ các vị thần sẽ ở đó, nhưng dẫu sao thì cô ấy cũng rất vui khi thấy mình không đơn độc. Đó là một trải nghiệm không thể giải thích được, mặc dù tôi cho rằng nó vẫn luôn xảy ra với những người đàn ông và đàn bà ở đủ mọi chốn.”
Vào những buổi chiều hè khi Elizabeth và vị bác sĩ ngồi trong phòng khám và trò chuyện về cuộc đời của hai người, họ cũng nói về cuộc đời của những người khác. Thỉnh thoảng vị bác sĩ lại đưa ra những câu châm ngôn triết lý. Rồi ông khúc khích cười đầy thích thú. Thỉnh thoảng sau khoảng không gian tĩnh lặng, một lời nói được thốt ra hoặc một gợi ý được hé lộ lại soi rọi một cách kỳ lạ vào cuộc đời của người nói, một niềm mong mỏi trở thành khát khao, hoặc một giấc mơ tưởng chừng đã chết nửa chừng bỗng bùng cháy sự sống. Phần lớn những lời nói đều cất lên từ phía người phụ nữ và bà nói chúng mà không nhìn người đàn ông.
Mỗi lần đến gặp bác sĩ, người vợ của chủ khách sạn lại trò chuyện cởi mở hơn một chút và sau một hoặc hai giờ ở bên ông, bà bước xuống cầu thang hòa vào phố Main với cảm giác được hồi sinh và mạnh mẽ hơn để chống lại sự tẻ nhạt trong những ngày tháng của mình. Với dáng đi phảng phất vẻ uyển chuyển của thời con gái, bà rảo bước, thế nhưng khi đã trở về chiếc ghế bên cửa sổ căn phòng của mình, khi màn đêm buông xuống và một cô nhân viên phục vụ phòng ăn khách sạn mang bữa tối đến trên chiếc khay, bà lại để mặc nó nguội lạnh. Tâm trí bà trôi tuột về thời con gái với nỗi khát khao phiêu lưu cháy bỏng và bà nhớ lại vòng tay của những người đàn ông từng ôm lấy mình khi phiêu lưu còn là một điều có thể đối với bà. Đặc biệt, bà nhớ đến một người từng là người tình của mình trong một khoảng thời gian, người trong khoảnh khắc đam mê đã gọi tên bà hơn một trăm lần, lặp đi lặp lại một cách điên dại những câu tương tự: “Em yêu! Em yêu! Người yêu dấu ơi!” Những lời đó, bà nghĩ, đã diễn tả được điều gì đó mà bà từng muốn đạt được trong đời.
Trong căn phòng tại khách sạn cũ kỹ tồi tàn, người vợ đau yếu của ông chủ khách sạn bắt đầu bật khóc, hai tay ôm lấy mặt, người dao động qua lại. Những lời của người bạn duy nhất, bác sĩ Reefy, văng vẳng bên tai bà. “Tình yêu giống như cơn gió lay động ngọn cỏ dưới những tán cây trong đêm đen,” ông từng nói. “Em không được tìm cách định hình tình yêu. Nó là tai nạn diệu kỳ của cuộc đời. Nếu em cố gắng định đoạt và chắc chắn về nó, rồi sống dưới những tán cây nơi ngọn gió đêm dịu ngọt thổi qua, thì ngày dài oi ả của sự thất vọng sẽ nhanh chóng kéo theo, và thứ bụi cát từ những cỗ xe qua đường sẽ bám đầy trên đôi môi đang rực cháy và trở nên mềm mại vì những nụ hôn.”
Elizabeth Willard không thể nhớ nổi khuôn mặt người mẹ đã qua đời khi bà mới lên năm. Tuổi thơ của bà diễn ra theo cách hỗn độn nhất có thể tưởng tượng được. Cha bà là một người muốn được yên thân nhưng những công việc của khách sạn lại chẳng chịu để ông yên. Ông cũng đã sống và qua đời như một kẻ bệnh tật. Mỗi ngày ông đều thức dậy với gương mặt tươi tỉnh, nhưng đến mười giờ sáng thì mọi niềm vui đã bay biến khỏi tâm hồn. Khi một vị khách phàn nàn về món ăn trong phòng ăn khách sạn hoặc một trong những cô hầu phòng đi lấy chồng và rời đi, ông lại giậm chân xuống sàn và chửi thề. Ban đêm khi lên giường, ông nghĩ về cô con gái đang lớn lên giữa dòng người trôi dạt ra vào khách sạn và bị nhấn chìm bởi nỗi buồn. Khi cô con gái lớn dần và bắt đầu bước ra ngoài vào buổi tối cùng những người đàn ông, ông muốn trò chuyện với cô, nhưng khi thử làm điều đó thì lại chẳng thành công. Ông luôn quên mất mình muốn nói gì và dành thời gian để phàn nàn về những rắc rối của chính bản thân.
Thời con gái và thuở thiếu nữ, Elizabeth đã từng cố gắng trở thành một kẻ phiêu lưu thực thụ trong cuộc đời. Năm mươi tám tuổi, cuộc sống đã cuốn lấy bà mạnh mẽ đến mức bà không còn là một trinh nữ nữa, thế nhưng, dẫu từng có nửa tá người tình trước khi kết hôn với Tom Willard, bà chưa từng dấn thân vào một cuộc phiêu lưu chỉ vì ham muốn xác thịt. Giống như mọi người phụ nữ trên thế giới này, bà khao khát một người tình thực thụ. Lúc nào cũng có một cái gì đó mà bà mải miết tìm kiếm một cách mù quáng, say đắm, một điều kỳ diệu ẩn giấu nào đó trong đời. Thiếu nữ cao ráo xinh đẹp với dáng đi uyển chuyển từng bước đi dưới tán cây cùng những người đàn ông ấy vẫn luôn đưa tay vào bóng tối, cố gắng nắm lấy một bàn tay khác. Giữa muôn vàn lời nói thốt ra từ môi những người đàn ông mà bà từng phiêu lưu cùng, bà luôn cố gắng tìm kiếm thứ được coi là lời nói chân thật dành cho riêng mình.
Elizabeth đã kết hôn với Tom Willard – một nhân viên phục vụ trong khách sạn của cha bà – đơn giản vì anh ta ở ngay đó và muốn kết hôn vào đúng thời điểm ý định lập gia đình xuất hiện trong đầu bà. Trong một khoảng thời gian, giống như hầu hết những thiếu nữ khác, bà nghĩ hôn nhân sẽ thay đổi bộ mặt cuộc đời. Nếu trong tâm trí bà có chút hoài nghi nào về kết cục của cuộc hôn nhân với Tom, bà liền gạt phắt nó đi. Cha bà lúc đó đang bệnh nặng và gần đất xa trời, còn bà thì bối rối trước kết cục vô nghĩa của một mối tình mà bà vừa vướng vào. Những cô gái khác bằng tuổi bà ở Winesburg đang kết hôn với những chàng trai mà bà vẫn hằng quen biết, từ nhân viên tiệm tạp hóa đến những nông dân trẻ tuổi. Vào buổi chiều, họ đi dạo trên phố Main cùng chồng và mỉm cười hạnh phúc khi đi ngang qua bà. Bà bắt đầu nghĩ rằng bản chất của hôn nhân có lẽ ẩn chứa một ý nghĩa sâu xa nào đó. Những người vợ trẻ mà bà từng trò chuyện đều cất giọng nhỏ nhẹ và e thẹn. “Mọi thứ đổi thay khi có một người đàn ông thuộc về riêng mình,” họ nói.
Vào buổi tối trước ngày cưới, cô gái đầy bối rối đã có một cuộc trò chuyện với cha mình. Về sau, bà tự hỏi liệu những giờ phút đơn độc bên người đàn ông bệnh tật ấy có phải là nguyên nhân dẫn đến quyết định kết hôn của mình hay không. Người cha kể về cuộc đời ông và khuyên con gái hãy tránh bị dấn thân vào một mớ hỗn độn tương tự. Ông mắng mỏ Tom Willard, và chính điều đó lại khiến Elizabeth đứng lên bênh vực anh nhân viên. Người đàn ông bệnh tật trở nên kích động và cố trèo khỏi giường. Khi bà không cho ông đi lại, ông bắt đầu phàn nàn. “Ta chưa từng được yên thân,” ông nói. “Dù đã làm việc vất vả, ta vẫn chẳng làm cho khách sạn có lãi. Ngay cả lúc này ta vẫn còn nợ tiền ngân hàng. Con sẽ nhận ra điều đó khi ta qua đời.”
Giọng người đàn ông bệnh trở nên căng thẳng đầy khẩn khoản. Không thể đứng dậy, ông chìa tay ra kéo đầu cô con gái sát vào đầu mình. “Có một lối thoát,” ông thì thầm. “Đừng kết hôn với Tom Willard hay bất kỳ ai khác ở Winesburg này. Có tám trăm đô la trong một chiếc hộp thiếc giấu dưới đáy rương của ta. Hãy lấy nó và đi đi.”
Giọng người bệnh lại trở nên hờn dỗi, cáu kỉnh. “Con phải hứa đấy,” ông tuyên bố. “Nếu con không chịu hứa là sẽ không kết hôn, hãy cho ta lời hứa rằng con sẽ không bao giờ kể cho Tom nghe về số tiền đó. Nó là của ta và nếu ta đưa cho con, ta có quyền đòi hỏi điều đó. Hãy cất giấu nó đi. Nó là để bù đắp cho sự thất bại của ta trong vai trò một người cha. Biết đâu có lúc nó sẽ trở thành một cánh cửa, một cánh cửa lớn mở toang cho con. Nào, ta bảo ta sắp chết rồi, hãy hứa với ta đi.”
Trong phòng khám của bác sĩ Reefy, Elizabeth – một người phụ nữ già nua, gầy gò và mệt mỏi ở tuổi bốn mươi mốt – ngồi trên chiếc ghế cạnh lò sưởi và nhìn xuống sàn nhà. Gần chiếc bàn nhỏ bên cửa sổ là vị bác sĩ. Đôi tay ông mân mê một cây bút chì nằm trên mặt bàn. Elizabeth kể về cuộc đời mình trong vai trò một người vợ. Bà trở nên vô cảm với hiện tại và quên đi người chồng, chỉ dùng ông như một hình nộm để làm điểm nhấn cho câu chuyện của mình. “Và rồi tôi kết hôn, để rồi mọi thứ chẳng đi đến đâu cả,” bà nói trong cay đắng. “Ngay khi bước chân vào đó, tôi bắt đầu thấy sợ hãi. Có lẽ tôi đã biết quá nhiều trước đó, hoặc có lẽ tôi đã vỡ lẽ quá nhiều trong đêm đầu tiên ở cạnh anh ta. Tôi không nhớ rõ nữa.”
“Tôi thật ngốc nghếch làm sao. Khi cha đưa tiền và cố khuyên can tôi từ bỏ ý định kết hôn, tôi đã chẳng thèm lắng nghe. Tôi nghĩ đến những gì những người phụ nữ đã kết hôn từng nói về nó và tôi cũng khao khát hôn nhân. Không phải tôi thèm khát Tom, thứ tôi muốn là hôn nhân. Khi cha chìm vào giấc ngủ, tôi ngả người ra cửa sổ và ngẫm nghĩ về cuộc đời mình từng trải qua. Tôi đâu muốn trở thành một người phụ nữ hư hỏng. Thị trấn này đầy rẫy những lời đồn thổi về tôi. Thậm chí tôi bắt đầu sợ rằng Tom sẽ đổi ý.”
Giọng người phụ nữ bắt đầu run lên vì kích động. Trong lòng bác sĩ Reefy – người mà không nhận ra chuyện gì đang xảy ra đã bắt đầu đem lòng yêu bà – bỗng dâng lên một ảo ảnh kỳ lạ. Ông tưởng tượng rằng khi bà trò chuyện, cơ thể người phụ nữ ấy đang thay đổi, rằng bà đang trở nên trẻ trung hơn, thẳng thắn và khỏe khoắn hơn. Khi không thể xua đi ảo ảnh đó, tâm trí ông lại gán cho nó một góc nhìn chuyên môn. “Việc trò chuyện này rất tốt cho cả thể xác lẫn tâm trí cô ấy,” ông lẩm bẩm.
Người phụ nữ bắt đầu kể về một sự việc xảy ra vào một buổi chiều vài tháng sau lễ cưới. Giọng bà trở nên bình tĩnh hơn. “Vào buổi chiều muộn, tôi lái xe đi dạo một mình,” bà kể. “Tôi có một chiếc xe ngựa nhẹ và một con ngựa xám nhỏ gửi ở tiệm cho thuê xe của Moyer. Tom đang sơn và dán lại giấy dán tường trong khách sạn. Anh ta cần tiền và tôi đang cố định thần để kể cho anh ta nghe về tám trăm đô la mà cha đã cho tôi. Tôi không sao quyết định nổi. Tôi không thích anh ta đến mức đó. Lúc nào trên tay và mặt anh ta cũng dính đầy sơn trong những ngày ấy, và người anh ta nồng mùi sơn. Anh ta đang cố tu sửa lại khách sạn cũ, làm cho nó trở nên mới mẻ và bảnh bao.”
Người phụ nữ đầy kích động ngồi thẳng tắp trên ghế và thực hiện một động tác nhanh nhẹn như thiếu nữ bằng tay khi kể về chuyến đi dạo một mình vào buổi chiều mùa xuân ấy. “Trời nhiều mây và có dấu hiệu sắp có bão,” bà nói. “Những đám mây đen làm cho sắc xanh của cây cối và thảm cỏ nổi bật lên đến mức màu sắc làm mắt tôi đau nhức. Tôi đi dọc Trunion Pike chừng một dặm hoặc hơn rồi rẽ vào một con đường nhánh. Con ngựa nhỏ phi nhanh lên dốc xuống đồi. Tôi thấy sốt ruột. Những suy nghĩ cứ tràn về và tôi muốn thoát khỏi những ý nghĩ đó. Tôi bắt đầu quất con ngựa. Những đám mây đen sà xuống và trời bắt đầu mưa. Tôi muốn lao đi với tốc độ khủng khiếp, cứ lái mãi không bao giờ dừng. Tôi muốn thoát khỏi thị trấn này, thoát khỏi bộ quần áo đang mặc, thoát khỏi cuộc hôn nhân này, thoát ra khỏi thể xác mình, thoát khỏi mọi thứ. Tôi suýt làm con ngựa chết kiệt vì bắt nó chạy hết tốc lực, và khi nó không thể chạy nổi nữa, tôi bước xuống xe và cắm cổ chạy bộ vào màn đêm cho đến khi ngã quỵ và đau xé sườn. Tôi muốn trốn chạy khỏi mọi thứ nhưng đồng thời cũng muốn chạy về phía một điều gì đó. Anh không thấy sao, anh yêu, mọi chuyện là thế đấy ư?”
Elizabeth bật dậy khỏi chiếc ghế và bắt đầu đi lại trong phòng khám. Bà bước đi theo cách mà bác sĩ Reefy nghĩ rằng ông chưa từng thấy ai bước đi như thế trước đây. Toàn bộ cơ thể bà toát lên một sự uyển chuyển, một nhịp điệu làm ông say đắm. Khi bà đến quỳ gối xuống sàn bên chiếc ghế của ông, ông ôm chầm lấy bà và bắt đầu hôn bà say đắm. “Tôi đã khóc suốt dọc đường về nhà,” bà nói, khi cố gắng tiếp tục câu chuyện về chuyến đi điên cuồng của mình, nhưng ông chẳng màng lắng nghe. “Em yêu! Người yêu dấu ơi! Ôi người yêu dấu ơi!” ông lẩm bẩm và nghĩ rằng trong vòng tay mình không phải là người phụ nữ mệt mỏi ở tuổi bốn mươi mốt, mà là một thiếu nữ xinh đẹp, ngây thơ, người bằng một phép màu nào đó đã tách mình ra khỏi cái vỏ bọc xác phàm của người đàn bà mệt mỏi kia.
Bác sĩ Reefy đã không gặp lại người phụ nữ mà ông từng ôm trong vòng tay cho đến tận sau khi bà qua đời. Vào buổi chiều mùa hè trong phòng khám, khi ông đang sắp sửa trở thành người tình của bà, thì một biến cố nhỏ có phần kỳ quặc đã nhanh chóng chấm dứt cuộc mây mưa của họ. Khi người đàn ông và người phụ nữ còn đang ôm chặt lấy nhau, những bước chân nặng nề bỗng rầm rập bước lên cầu thang phòng khám. Cả hai giật mình chồm dậy, đứng lắng nghe trong nỗi run rẩy. Tiếng động trên cầu thang là của một nhân viên từ Công ty Bách hóa Paris. Gã ném một chiếc hộp rỗng lên đống phế thải ở hành lang với một tiếng bang thật lớn rồi nặng nhọc bước xuống cầu thang. Elizabeth nối gót gã ngay lập tức. Thứ vừa bùng cháy trong lòng bà khi trò chuyện với người bạn duy nhất bỗng tắt ngấm đột ngột. Bà rơi vào trạng thái cuồng loạn, giống hệt bác sĩ Reefy, và chẳng còn muốn tiếp tục câu chuyện nữa. Bà bước đi trên phố với dòng máu vẫn còn đang rần rật trong cơ thể, thế nhưng khi rẽ khỏi phố Main và nhìn thấy đằng xa ánh đèn của khách sạn New Willard, bà bắt đầu run rẩy và đôi chân yếu ớt đến mức có ngỡ như mình sẽ ngã quỵ giữa đường.
Người phụ nữ bệnh tật đã dành những tháng cuối đời trong cơn đói khát cái chết. Bà đi dọc con đường tử biệt, kiếm tìm, khao khát. Bà nhân hóa hình bóng của cái chết, khi thì biến thần chết thành một thiếu niên tóc đen vạm vỡ chạy nhảy qua những ngọn đồi, lúc lại hóa thành một người đàn ông trầm tĩnh, nghiêm nghị mang đầy dấu vết và sẹo giăng của cuộc mải sinh. Trong căn phòng tối tăm, bà đưa tay ra, chìa nó khỏi tấm chăn đắp trên giường, và bà ngỡ rằng cái chết cũng giống như một sinh linh sống đang chìa tay về phía mình. “Hãy kiên nhẫn nhé, người tình của em,” bà thì thầm. “Hãy giữ gìn tuổi trẻ và vẻ đẹp của mình rồi hãy kiên nhẫn đợi chờ.”
Vào buổi tối khi bệnh tật giáng bàn tay nặng nề xuống và đập tan những dự định kể cho con trai George nghe về số tám trăm đô la giấu kín, bà đã lê bước xuống giường, bò được nửa căn phòng để van xin thần chết cho thêm một giờ sống. “Chờ đã, anh yêu! Thằng bé! Thằng bé! Thằng bé!” bà khẩn khoản khi dùng hết sức lực để chống cự lại vòng tay của người tình mà bà từng thiết tha khao khát.
Elizabeth qua đời vào một ngày tháng Ba trong năm mà con trai bà là George bước sang tuổi mười tám, và cậu thanh niên khi ấy gần như chẳng cảm nhận được mấy ý nghĩa từ cái chết của mẹ mình. Chỉ có thời gian mới trao cho cậu điều đó. Suốt một tháng trời, cậu đã chứng kiến bà nằm trắng bệch, bất động và câm lặng trên giường, rồi vào một buổi chiều nọ, vị bác sĩ chặn cậu lại ở hành lang và nói vài lời.
Cậu thanh niên bước vào phòng mình và đóng sập cửa lại. Cậu có một cảm giác trống rỗng kỳ lạ ở vùng bụng. Trong khoảnh khắc, cậu ngồi thẫn thờ nhìn xuống sàn nhà rồi vùng dậy bước ra ngoài. Cậu rảo bước dọc sân ga, đi vòng qua những khu dân cư đi qua tòa nhà trường trung học, trong đầu hầu như chỉ nghĩ đến những chuyện của riêng mình. Ý niệm về cái chết không tài nào bám rễ trong tâm trí cậu, và thực chất cậu còn cảm thấy hơi bực bội vì mẹ mình lại qua đời vào đúng ngày hôm nay. Cậu vừa nhận được một mẩu giấy nhắn từ Helen White – con gái vị giám đốc ngân hàng thị trấn, hồi âm cho bức thư của cậu. “Tối nay mình đã có thể đến gặp cô ấy vậy mà giờ lại phải hoãn lại,” cậu thầm nghĩ với vẻ hậm hực.
Elizabeth qua đời vào chiều thứ Sáu lúc ba giờ. Buổi sáng trời lạnh và có mưa nhưng sang chiều thì hừng nắng. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, bà đã nằm liệt giường sáu ngày trời, không thể nói hay cử động, chỉ có tâm trí và đôi mắt là còn sống. Trong ba ngày đầu của khoảng thời gian sáu ngày đó, bà đã vật lộn tranh đấu, nghĩ về đứa con trai, cố thốt lên vài lời dặn dò về tương lai của nó, và trong đôi mắt bà chứa đựng một nỗi khẩn cầu đầy xót xa đến mức bất cứ ai nhìn thấy cũng giữ mãi ký ức về người phụ nữ sắp qua đời ấy trong tâm trí suốt nhiều năm trời. Ngay cả Tom Willard – kẻ vẫn luôn mang chút hằn học với vợ – cũng quên đi sự bực bội ấy, nước mắt trào ra khỏi khóe mắt và vướng lại trên bộ ria mép của ông. Bộ ria đã bắt đầu ngả sang màu xám và Tom thường nhuộm nó bằng phẩm màu. Có chất dầu trong thứ dung dịch mà ông dùng cho việc đó, nên những giọt nước mắt vướng vào ria mép bị bàn tay ông gạt đi đã tạo thành một lớp hơi sương mỏng mịn. Trong niềm tiếc thương, khuôn mặt của Tom Willard trông giống hệt mặt của một chú chó nhỏ phải dầm mưa dãi nắng lâu ngày trong tiết trời buốt giá.
George trở về nhà dọc theo phố Main khi trời đã sẩm tối vào ngày mẹ mất, và sau khi vào phòng để chải lại tóc tai quần áo, cậu đi dọc hành lang và bước vào căn phòng đặt thi hài. Có một chiếc đèn cày đặt trên bàn trang điểm cạnh cửa ra vào và bác sĩ Reefy đang ngồi trên chiếc ghế bên giường. Vị bác sĩ đứng dậy và định bước ra ngoài. Ông chìa tay ra như muốn chào cậu thanh niên rồi lại ngượng ngùng rụt tay về. Bầu không khí trong phòng nặng trĩu sự hiện diện của hai con người đầy ý thức về bản thân, và người đàn ông vội vã rời đi.
Cậu con trai của người phụ nữ đã khuất ngồi xuống ghế và nhìn đăm đăm xuống sàn nhà. Cậu lại nghĩ về chuyện của riêng mình và quả quyết đưa ra quyết định sẽ thay đổi cuộc đời, rằng cậu sẽ rời khỏi Winesburg. “Mình sẽ đến một thành phố nào đó. Biết đâu mình có thể kiếm được việc làm ở tòa soạn báo nào đó,” cậu nghĩ, rồi tâm trí cậu lại hướng về cô gái mà lẽ ra cậu sẽ dành trọn buổi tối nay ở bên, để rồi một lần nữa cậu lại thấy bực bội trước bước ngoặt của sự việc đã ngăn cản cậu đến với cô ấy.
Trong căn phòng lờ mờ ánh sáng bên thi thể người đã khuất, chàng trai trẻ bắt đầu có những suy nghĩ vẩn vơ. Tâm trí cậu mải miết trôi theo những ý niệm về sự sống cũng từng có lúc tâm trí mẹ cậu chìm đắm trong ý niệm về cái chết. Cậu nhắm mắt lại và tưởng tượng rằng đôi môi đỏ mọng của Helen White đang chạm vào môi mình. Cơ thể cậu run lên và đôi bàn tay bấu chặt. Và rồi chuyện gì đến đã xảy ra. Cậu thiếu niên vùng đứng dậy, người cứng đờ. Cậu nhìn vào hình hài người mẹ dưới lớp vải liệm, niềm hổ thẹn vì những suy nghĩ vừa rồi tràn ngập khiến cậu bật khóc nức nở. Một ý nghĩ mới xuất hiện trong đầu, cậu quay phắt lại và liếc nhìn xung quanh với vẻ tội lỗi như sợ có ai đang quan sát mình.
George Willard bị ám ảnh bởi một sự cuồng dại muốn kéo tấm vải liệm trên người mẹ xuống để ngắm nhìn khuôn mặt bà. Ý nghĩ vừa né hiện trong đầu bủa vây lấy cậu một cách khủng khiếp. Cậu đâm ra đinh ninh rằng người nằm trên giường trước mặt mình không phải là mẹ mà là một người khác. Sự xác tín ấy quá đỗi chân thật khiến cậu gần như không thể chịu đựng nổi. Thân thể dưới lớp vải liệm thật dài, và trong cái chết lại trông vô cùng trẻ trung, uyển chuyển. Đối với chàng trai, bị câu thúc bởi một ảo tưởng kỳ lạ nào đó, nó mang một vẻ đẹp không lời nào tả xiết. Cảm giác rằng thi thể trước mặt mình vẫn còn sống, rằng chỉ một khoảnh khắc nữa thôi một người phụ nữ kiều diễm sẽ chồm dậy từ chiếc giường và đối mặt với cậu, trở nên mãnh liệt đến mức cậu không thể chịu nổi sự giằng xé ấy. Hết lần này đến lần khác, cậu chìa tay ra. Có lúc cậu chạm vào và suýt lật tung tấm vải trắng phủ trên người bà, thế nhưng lòng dũng cảm lại phản chủ và cậu, cũng giống như bác sĩ Reefy, quay lưng bước ra khỏi phòng. Ở hành lang ngoài cửa, cậu khựng lại, đôi chân run lẩy bẩy đến mức phải bám tay vào vách tường để làm điểm tựa. “Đó không phải mẹ mình. Không phải mẹ mình ở trong đó đâu,” cậu tự thì thầm với chính mình và cơ thể lại rung lên bần bật vì sợ hãi lẫn hoang mang. Khi dì Elizabeth Swift – người đến để canh giữ thi thể – bước ra từ căn phòng bên cạnh, cậu liền nắm lấy bàn tay bà và nức nở, lắc đầu qua lại, bóng tối ngập tràn nỗi đau thương nhòa đi trước mắt. “Mẹ tôi chết rồi,” cậu nói, rồi quên bẵng đi người phụ nữ trước mặt, quay sang trân trân nhìn vào cánh cửa mà cậu vừa bước ra. “Người yêu dấu, người yêu dấu ơi, ôi người yêu dấu tuyệt trần,” cậu thiếu niên, bị thúc đẩy bởi một xung động vượt ngoài tầm kiểm soát, thốt lên thành tiếng.
Còn về số tiền tám trăm đô la mà người phụ nữ đã khuất cất giấu bấy lâu nay để làm vốn cho George Willard lập nghiệp ở thành phố, nó nằm trong chiếc hộp thiếc giấu sau lớp trát vữa ở chân giường của mẹ cậu. Elizabeth đã nhét nó vào đó một tuần sau lễ cưới, dùng một cây gậy cạy lớp vữa tường ra. Sau đó bà nhờ một trong những thợ xây mà chồng mình thuê làm việc quanh khách sạn khi ấy đến trát lại bức tường. “Em đã kê góc giường che khít vào đó,” bà từng giải thích với chồng, khi ấy vẫn chưa thể từ bỏ giấc mơ về sự giải thoát – sự giải thoát mà rốt cuộc chỉ đến với bà đúng hai lần trong đời, vào những khoảnh khắc mà những người tình Cái chết và bác sĩ Reefy ôm trọn bà trong vòng tay.