Ngồi trên chiếc thùng gỗ đặt trong căn chòi vách ván lụp xụp bám chặt như con sam vào phía sau cửa hàng của cha con Cowley ở Winesburg, Elmer Cowley, thành viên trẻ tuổi của tiệm, có thể nhìn qua ô cửa sổ bẩn thỉu để vào xưởng in của tờ Winesburg Eagle. Elmer đang xỏ dây giày mới vào đôi giày của mình. Dây giày không chịu luồn vào dễ dàng khiến cậu phải cởi giày ra. Cầm đôi giày trên tay, cậu thẫn thờ nhìn vào lỗ thủng lớn ở gót một chiếc tất của mình. Rồi ngẩng phắt lên, cậu thấy George Willard, phóng viên báo chí duy nhất ở Winesburg, đang đứng ở cửa sau xưởng in tờ Eagle và thẫn thờ nhìn ngó xung quanh. “Chà chà, chuyện quái gì thế này!” chàng trai đang cầm giày trên tay thốt lên, vùng đứng dậy và lùi nhanh khỏi khung cửa sổ.
Mặt Elmer Cowley đỏ bừng lên và đôi tay bắt đầu run rẩy. Trong cửa hàng của cha con Cowley, một tay buôn hàng lưu động người Do Thái đang đứng bên quầy hàng trò chuyện với cha cậu. Cậu tưởng tượng rằng phóng viên có thể nghe thấy những gì đang được nói và ý nghĩ đó khiến cậu nổi giận đùng đùng. Vẫn cầm một chiếc giày trên tay, cậu đứng vào góc chòi và dậm chân đi tất xuống sàn ván.
Cửa hàng của cha con Cowley không quay mặt ra con phố chính của Winesburg. Mặt tiền hướng ra phố Maumee, đối diện là xưởng xe ngựa của Voight và mộtái nhà kho để che chắn ngựa cho nông dân. Bên cạnh cửa hàng là một con hẻm chạy dọc phía sau các cửa hàng trên phố chính, và suốt cả ngày những chiếc xe ngựa chở hàng cùng xe giao hàng, với mục đích chuyên chở hàng hóa ra vào, cứ thế qua lại ngược xuôi. Bản thân cửa hàng thì không tài nào tả xiết. Will Henderson từng nhận xét rằng nó bán mọi thứ mà cũng chẳng bán gì cả. Ở ô cửa sổ hướng ra phố Maumee đặt một khối than to bằng thùng đựng táo, để báo hiệu rằng tiệm có nhận đặt mua than, và bên cạnh khối than đen ngòm ấy là ba tổ ong đã ngả màu nâu và bám đầy bụi bẩn nằm trong khung gỗ của chúng.
Mấy tổ ong đã nằm ở cửa sổ cửa hàng suốt sáu tháng trời. Chúng được bày bán cùng với móc treo áo, khuy quần yếm tiện lợi, các hộp sơn lợp mái nhà, những chai thuốc chữa thấp khớp, và một loại chất thay thế cà phê cùng chung cảnh ngộ với mấy tổ ong trong sự kiên nhẫn phục vụ công chúng.
Ebenezer Cowley, người đàn ông đang đứng trong cửa hàng lắng nghe dòng từ ngữ tuôn trào đầy hào hứng từ miệng của tay buôn hàng lưu động, cao gầy và trông có vẻ nhếch nhác, lếu thếch. Trên chiếc cổ gầy guộc của ông có một khối u lớn bị che khuất một phần bởi bộ râu màu xám. Ông mặc một chiếc áo khoác dài kiểu Prince Albert. Chiếc áo đó từng được mua để làm trang phục cưới. Trước khi trở thành thương nhân, Ebenezer là một nông dân, và sau khi kết hôn, ông thường mặc chiếc áo Prince Albert đó đi nhà thờ vào các ngày Chủ nhật và vào những buổi chiều thứ Bảy khi ông ra thị trấn để buôn bán. Khi bán trang trại để chuyển sang làm thương nhân, ông cứ mặc chiếc áo ấy mãi không thôi. Chiếc áo đã ngả sang màu nâu vì năm tháng và chi chít những vết dầu mỡ, nhưng khoác nó lên người là Ebenezer luôn thấy mình tươm tất, sẵn sàng cho một ngày ra phố.
Là một thương nhân, Ebenezer không có lấy một chỗ đứng vui vẻ trong cuộc đời, và khi làm nông dân ông cũng chẳng khá hơn là mấy. Dẫu vậy, ông vẫn tồn tại. Gia đình ông, gồm một cô con gái tên là Mabel và cậu con trai, sống cùng ông ở những căn phòng phía trên cửa hàng và chi phí sinh hoạt chẳng tốn kém là bao. Rắc rối của ông không nằm ở chuyện tiền bạc. Sự bất hạnh của ông với tư cách là một thương nhân nằm ở chỗ cứ khi nào một tay buôn mang hàng hóa đến chào bán bước qua cửa trước là ông lại thấy sợ hãi. Đứng sau quầy hàng, ông cứ lắc đầu nguây nguẩy. Ông sợ, thứ nhất là vì mình sẽ cứng đầu từ chối mua rồi đánh mất cơ hội bán hàng lần sau; thứ hai là vì mình không đủ cứng rắn để rồi trong một phút yếu lòng lại mua phải những thứ chẳng thể bán nổi.
Vào buổi sáng hôm đó, khi Elmer Cowley nhìn thấy George Willard đang đứng và có vẻ như đang lắng nghe ở cửa sau xưởng in tờ Eagle, một tình huống đã phát sinh vốn luôn khơi dậy cơn thịnh nộ của người con trai. Tay buôn hàng nói còn Ebenezer lắng nghe, toàn thân toát lên vẻ phân vân, dao động. “Anh thấy đấy, mọi việc xong nhanh lắm,” tay buôn hàng nói, hắn đang mang rao bán một loại khuy cài cổ áo bằng kim loại dẹt, nhỏ xíu. Chỉ bằng một tay, hắn nhanh chóng tháo chiếc cổ áo ra khỏi sơ mi rồi lại cài nó vào. Hắn giở giọng nịnh nọt, phỉnh phờ. “Tôi nói thật với anh nhé, người ta đã chán ngấy cái cảnh loay hoay với mấy cái khuy cài cổ áo này lắm rồi, và anh chính là người có thể kiếm bộn tiền từ sự thay đổi sắp tới đây. Tôi đề nghị giao cho anh độc quyền phân phối ở thị trấn này. Lấy hai mươi tá mấy cái khuy này đi, và tôi sẽ không ghé qua bất kỳ cửa hàng nào khác nữa. Tôi sẽ để thị trường lại cho anh.”
Tay buôn hàng chồm người qua quầy, dùng ngón tay gõ gõ lên ngực Ebenezer. “Đây là một cơ hội lớn và tôi muốn anh nắm lấy nó,” hắn giục giã. “Một người bạn của tôi đã kể cho tôi nghe về anh. ‘Hãy nhìn cái tay Cowley đó xem,’ anh ta bảo vậy. ‘Hắn là một kẻ thức thời đấy.’”
Tay buôn hàng khựng lại rồi chờ đợi. Lấy từ trong túi ra một cuốn sổ, hắn bắt đầu viết đơn hàng. Vẫn cầm chiếc giày trên tay, Elmer Cowley băng qua cửa hàng, lướt qua hai con người đang mải mê, tiến đến một tủ kính trưng bày gần cửa ra vào. Cậu lấy một khẩu súng lục rẻ tiền từ trong tủ ra và bắt đầu khua khoắn khắp nơi. “Anh cút ngay khỏi đây cho tôi!” cậu hét lên. “Chúng tôi chẳng cần cái quái gì khuy cài cổ áo ở đây hết.” Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu cậu. “Nhớ lấy, tôi không hề đe dọa gì đâu nhé,” cậu nói thêm. “Tôi không bảo là tôi sẽ bắn đâu. Biết đâu tôi chỉ lấy khẩu súng này ra khỏi tủ để ngắm nghía thôi thì sao. Nhưng tốt hơn hết là anh cứ xéo đi. Vâng thưa ông, tôi xin nói thế đấy. Tốt hơn là anh hãy vơ lấy đồ đạc của mình rồi xéo mau.”
Giọng của người chủ tiệm trẻ tuổi cao vút lên thành tiếng thét, và bước vòng ra sau quầy hàng, cậu bắt đầu tiến về phía hai kẻ kia. “Chúng tôi phát ớn cái cảnh làm lũ ngốc ở đây lắm rồi!” cậu gào lên. “Chúng tôi sẽ không thèm mua thêm bất kỳ thứ gì nữa cho đến khi bán được hàng. Chúng tôi sẽ không tiếp tục sống lập dị như thế này để rồi mặc cho người ta dòm ngó và dỏng tai nghe lén nữa. Cút ngay khỏi đây!”
Tay buôn hàng chuồn thẳng. Vơ vội những mẫu khuy cài cổ áo trên quầy nhét vào chiếc túi da màu đen, hắn cắm cổ chạy. Hắn là một gã đàn ông thấp bé, chân vòng kiềng nặng và chạy một cách vụng về. Chiếc túi đen vướng vào cánh cửa khiến hắn lảo đảo ngã nhào. “Điên thật rồi, hắn ta điên mất rồi!” hắn vừa lồm cồm bò dậy từ vỉa hè vừa lắp bắp càu nhàu rồi vội vã chuồn mất.
Trong cửa hàng, Elmer Cowley và cha nhìn chằm chằm vào nhau. Giờ đây, khi đối tượng trực tiếp gây ra cơn thịnh nộ đã biến mất, chàng trai trẻ đâm ra ngượng ngùng. “Thì đấy, tôi nói thật lòng đấy. Tôi nghĩ chúng ta sống thế đủ quái dị lắm rồi,” cậu tuyên bố, bước lại tủ trưng bày rồi đặt khẩu súng lục trở lại chỗ cũ. Ngồi lên một chiếc thùng phuy, cậu xỏ chân vào chiếc giày nãy giờ vẫn cầm trên tay rồi buộc dây lại. Cậu đang chờ đợi một lời thấu hiểu từ cha mình, nhưng khi Ebenezer cất lời, những lời đó chỉ càng làm bùng cháy thêm cơn giận trong lòng người con, khiến chàng trai trẻ lao vừa chạy vụt khỏi cửa hàng mà chẳng thèm đáp lời. Vừa gãi bộ râu xám bằng những ngón tay dài bám đầy bụi bẩn, lão chủ tiệm vừa nhìn con trai mình bằng ánh mắt ngơ ngác, dao động y hệt như lúc lão đối phó với tay buôn hàng nọ. “Ta lạy hồn,” lão lẩm bẩm. “Chà chà, ta đúng là được tắm rửa, ủi phẳng phiu rồi hồ bột trắng tinh luôn rồi!”
Elmer Cowley rời khỏi Winesburg, rảo bước dọc theo con đường đồng quê chạy song song với đường ray xe lửa. Cậu chẳng biết mình đang đi đâu hay sẽ làm gì. Nơi đoạn đường trũng sâu, sau khi rẽ gắt sang phải rồi đâm xuống dưới đường ray, cậu dừng lại và ngọn lửa đam mê từng là nguyên nhân dẫn đến cơn bùng nổ trong cửa hàng lại bắt đầu tìm cách bộc lộ. “Ta sẽ không sống quái dị nữa—để rồi biến thành kẻ cho người ta dòm ngó và nghe lén,” cậu lớn tiếng tuyên bố. “Ta sẽ giống như bao người khác. Ta sẽ cho cái tay George Willard đó biết tay. Hắn sẽ phải sáng mắt ra. Ta sẽ cho hắn thấy!”
Chàng trai trẻ quẫn trí đứng giữa con đường, trừng mắt nhìn ngược về phía thị trấn. Cậu chẳng quen biết gì phóng viên George Willard và cũng chẳng có cảm xúc đặc biệt nào đối với chàng trai cao kều hay chạy khắp thị trấn để thu thập tin tức ấy. Sự hiện diện của phóng viên trong văn phòng và xưởng in tờ Winesburg Eagle chỉ đơn thuần khiến cậu gán cho hắn một ý nghĩa nào đó trong tâm trí người thương nhân trẻ. Cậu nghĩ rằng đứa con trai cứ đi qua đi lại trước cửa hàng của cha con Cowley và hay dừng lại trò chuyện với mọi người trên phố ấy chắc hẳn đang nghĩ về mình và có lẽ đang cười nhạo mình. Cậu cảm thấy George Willard chính là hiện thân của thị trấn, tiêu biểu cho thị trấn, và mang trong con người hắn tinh thần của cả thị trấn. Elmer Cowley không tài nào tin nổi rằng George Willard cũng có những ngày tháng bất hạnh, rằng những nỗi khao khát mơ hồ và những mong muốn thầm kín không tên cũng từng ghé thăm tâm trí hắn. Chẳng phải hắn đại diện cho dư luận công chúng đó sao, và chẳng phải dư luận của Winesburg đã kết án cha con nhà Cowley là lũ quái dị hay sao? Chẳng phải hắn vẫn đi qua Phố Chính với tiếng huýt sáo và những tràng cười đó sao? Liệu người ta có thể đánh gục kẻ thù lớn lao hơn—thứ cứ mỉm cười và bước đi theo cách riêng của nó—chính là phán quyết của Winesburg, bằng cách đấm vào con người hắn hay sao?
Elmer Cowley cao một cách kỳ lạ và đôi tay thì dài, vạm vỡ. Mái tóc, lông mày, và lớp râu tơ mới nhú trên cằm cậu nhợt nhạt đến mức gần như ngả trắng. Hàm răng chìa ra khỏi đôi môi và đôi sắc xanh của cậu mang sắc xanh nhạt nhẽo hệt như những viên bi màu mà lũ trẻ Winesburg vẫn hay giắt trong túi áo. Elmer đã sống ở Winesburg tròn một năm và chẳng kết bạn với ai. Cậu cảm thấy mình là kẻ bị kết án phải bước đi suốt cuộc đời mà không có lấy một người bạn, và cậu căm ghét ý nghĩ đó.
Mang theo vẻ mặt sầm sì, chàng trai trẻ cao kều lê bước dọc con đường với đôi tay đút sâu trong túi quần. Ban ngày trời lạnh buốt với những cơn gió cắt da cắt thịt, nhưng chẳng mấy chốc mặt trời bắt đầu tỏa nắng và con đường trở nên mềm nhũn, lầy lội. Những đỉnh của các gờ đất đóng băng tạo nên mặt đường bắt đầu tan chảy, bùn đất bám chặt lấy giày của Elmer. Bàn chân cậu lạnh cóc. Khi đã đi được vài dặm, cậu rẽ khỏi đường cái, băng qua một cánh đồng và bước vào một khu rừng. Trong rừng, cậu gom mấy cành cây để nhóm lửa, rồi ngồi bên đống lửa tìm cách sưởi ấm, khổ sở cả về thể xác lẫn tâm hồn.
Cậu ngồi trên khúc gỗ cạnh đống lửa suốt hai giờ đồng hồ, rồi đứng dậy, thận trọng luồn lách qua đám bụi rậm để tiến đến một hàng rào và nhìn qua những cánh đồng về phía một ngôi nhà nông trang nhỏ được bao quanh bởi những dãy nhà kho thấp lè tè. Một nụ cười xuất hiện trên môi cậu và cậu bắt đầu dùng đôi tay dài của mình ra hiệu cho một người đàn ông đang bắp ngô trên một cánh đồng.
Trong giờ phút khốn khổ nhất, chàng trang thương nhân trẻ đã quay trở lại nông trang nơi cậu từng sống qua suốt những năm tháng niên thiếu, nơi có một con người bằng xương bằng thịt khác mà cậu cảm thấy mình có thể giãi bày tâm sự. Người đàn ông ở nông trang là một lão già thiểu năng trí tuệ tên là Mook. Lão từng được Ebenezer Cowley thuê làm việc và vẫn ở lại nông trang khi nơi này được bán đi. Lão già sống trong một trong những căn nhà kho không sơn quét ở phía sau ngôi nhà nông trang và quanh quẩn làm lụng ngoài đồng suốt cả ngày.
Mook thiểu năng sống một cách hạnh phúc. Với niềm tin ngây thơ như trẻ nhỏ, lão tin vào trí khôn của lũ động vật sống cùng mình trong các nhà kho, và những khi cô đơn, lão lại trò chuyện hồi lâu với những con bò, con heo, thậm chí cả bầy gà đang chạy loanh quanh trong sân trại. Chính lão là kẻ đã truyền câu nói về việc được “ủi giặt” vào miệng của người chủ cũ. Khi cảm thấy phấn khích hoặc ngạc nhiên trước điều gì đó, lão lại cười mơ hồ và lẩm bẩm: “Ta sẽ được giặt giũ và ủi phẳng. Chà chà, ta sẽ được giặt giũ, ủi phẳng và hồ bột trắng tinh cho mà xem.”
Khi lão già thiểu năng buông công việc bắp ngô xuống và bước vào rừng để gặp Elmer Cowley, lão chẳng hề tỏ ra ngạc nhiên hay quá đỗi hào hứng trước sự xuất hiện đột ngột của chàng trai trẻ. Bàn chân lão cũng lạnh cóc và lão ngồi xuống khúc gỗ cạnh đống lửa, biết ơn hơi ấm và dường như chẳng màng đến những gì Elmer muốn nói.
Elmer tuôn ra những lời tâm sự một cách đầy nhiệt thành và tự do, bước qua bước lại và khua khoắn đôi tay. “Cậu chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra với tôi nên đương nhiên cậu chẳng thèm quan tâm,” cậu tuyên bố. “Với tôi thì mọi chuyện khác hẳn. Cứ nhìn xem cuộc đời tôi từ trước đến nay vẫn thế đấy. Cha thì quái dị mà mẹ cũng quái dị nốt. Thậm chí quần áo mẹ từng mặc cũng chẳng giống quần áo của người khác, và nhìn cái áo khoác mà cha cứ mặc quanh ngoài phố kìa, lại còn tưởng là mình ăn mặc tươm tất nữa chứ. Sao ông ấy không sắm một chiếc áo mới cơ chứ? Có tốn kém bao nhiêu đâu. Tôi nói cho cậu biết tại sao nhé. Cha chẳng biết gì sảng cả và hồi mẹ còn sống, bà ấy cũng chẳng biết gì luôn. Mabel thì khác. Nó biết đấy nhưng chẳng hé răng nửa lời. Còn tôi thì có. Tôi sẽ không chịu để người ta dasòm ngó thêm ngày nào nữa. Cậu nhìn đây này, Mook, cha chẳng hề hay biết rằng cái cửa hàng của ông ấy ngoài phố kia chỉ là một đống lộn xộn quái dị, rằng ông ấy sẽ chẳng bao giờ bán nổi số hàng đã nhập về. Ông ấy mù tịt về mấy chuyện đó. Thỉnh thoảng ông ấy cũng hơi lo lắng vì buôn bán ế ẩm rồi ông lại lồng lộn đi mua thêm đống hàng khác về. Đến tối, ông ngồi bên đống lửa trên gác và bảo rằng buôn bán rồi sẽ khá lên thôi. Ông ấy chẳng lo lắng gì sảng đâu. Ông ấy quái dị lắm. Trí óc ông ấy chẳng đủ lớn để mà biết lo sợ.”
Chàng trai trẻ càng lúc càng kích động. “Ông ấy chẳng biết gì nhưng tôi thì biết rõ,” cậu hét lên, khựng lại để đăm đăm nhìn vào khuôn mặt đờ đẫn, chẳng thèm đáp lời của gã thiểu năng. “Tôi biết rõ quá đi chứ. Tôi không thể nào chịu đựng nổi nữa rồi. Hồi chúng ta còn sống ở ngoài này thì mọi chuyện khác lắm. Tôi làm việc, đến tối thì lên giường đi ngủ. Tôi đâu có suốt ngày phải giáp mặt với người ta và suy nghĩ vẩn vơ như bây giờ. Buổi tối, ra ngoài phố kia, tôi ghé bưu điện hoặc ra ga tàu xem tàu đến, chẳng ai nói với tôi câu nào. Ai nấy đứng tụ tập cười đùa trò chuyện nhưng chẳng thèm mở lời với tôi. Thế rồi tôi thấy mình quái dị đến mức chẳng thèm nói năng gì được nữa. Tôi bỏ đi. Chẳng nói năng gì hết. Tôi không thể.”
Cơn thịnh nộ của chàng trai trẻ đã vượt khỏi tầm kiểm soát. “Tôi sẽ không thèm chịu đựng nữa đâu,” cậu gào lên, ngước nhìn những cành cây trơ trụi trên cao. “Tôi sinh ra không phải để chịu đựng mấy thứ này.”
Phát điên vì bộ mặt đờ đẫn của gã đàn ông đang ngồi trên khúc gỗ cạnh đống lửa, Elmer quay phắt lại, trừng trừng nhìn hắn y như lúc nãy từng trừng mắt nhìn ngược về hướng thị trấn Winesburg trên con đường cái. “Làm việc tiếp đi!” cậu thét lên. “Tôi nói chuyện với cậu thì có ích quái gì chứ?” Một ý nghĩ lóe lên trong đầu khiến giọng cậu dịu xuống. “Tôi cũng là một kẻ hèn nhát, phải không hả?” cậu lẩm bẩm. “Cậu có biết tại sao tôi lại lặn lội đi bộ tuốt ra đến đây không? Tôi buộc phải thổ lộ với ai đó và cậu là người duy nhất tôi có thể tâm sự. Cậu thấy đấy, tôi đã đi tìm một kẻ quái dị khác giống mình. Tôi đã bỏ chạy, tôi đã làm thế đấy. Tôi chẳng dám đứng lên đối đầu với một kẻ như cái gã George Willard đó. Tôi buộc phải tìm đến cậu. Lẽ ra tôi phải nói thẳng vào mặt hắn, và tôi sẽ làm thế.”
Giọng cậu lại vút cao thành tiếng thét và đôi tay khua khoắn loạn xạ. “Tôi sẽ nói cho hắn biết. Tôi không thèm làm kẻ quái dị nữa. Tôi mặc kệ bọn họ nghĩ gì. Tôi không chịu đựng nữa đâu.”
Elmer Cowley vùng chạy khỏi khu rừng, bỏ mặc gã thiểu năng vẫn ngồi trên khúc gỗ trước đống lửa. Chẳng mấy chốc lão già đứng dậy, trèo qua hàng rào rồi quay trở lại với công việc ngoài ruộng bắp. “Ta sẽ được giặt giũ, ủi phẳng và hồ bột trắng tinh,” lão tuyên bố. “Chà chà, ta sẽ được giặt giũ và ủi phẳng cho xem.” Mook cảm thấy vô cùng hứng thú. Lão đi dọc theo lối mòn ra cánh đồng nơi có hai con bò đang đứng gặm đống rạ. “Elmer vừa ở đây đấy,” lão bảo mấy con bò. “Elmer điên mất rồi. Tốt hơn là chúng mày nên nấp sau đống rạ kẻo nó nhìn thấy. Elmer mà lên cơn thì thể nào cũng đánh đập ai đó cho xem.”
Vào lúc tám giờ tối hôm ấy, Elmer Cowley thò đầu vào qua cửa trước văn phòng tờ Winesburg Eagle, nơi George Willard đang ngồi viết bài. Chiếc mũ lưỡi trai sụp xuống tận mắt và trên mặt lộ rõ vẻ bặm trợn, kiên quyết. “Ra ngoài này với tôi mau,” cậu vừa bước vào vừa khép cửa lại. Cậu vẫn đặt tay lên nắm đấm cửa như thể sẵn sàng chống lại bất cứ kẻ nào định xông vào. “Cứ ra ngoài này với tôi đi. Tôi có chuyện muốn gặp anh đây.”
George Willard và Elmer Cowley bước đi trên con phố chính của Winesburg. Đêm trời lạnh giá, George Willard khoác một chiếc áo măng tô mới tinh trông rất tươm tất, bảnh bao. Hắn đút hai tay vào túi áo măng tô, tò mò nhìn người bạn đồng hành. Từ lâu hắn vẫn luôn khao khát được kết bạn với chàng thương nhân trẻ và tìm hiểu xem trong đầu cậu ta đang mưu tính những gì. Giờ đây, hắn nghĩ mình nhìn thấy cơ hội và cảm thấy vô cùng phấn khích. “Không biết cậu ta đang giở trò gì nhỉ? Có lẽ cậu ta nghĩ mình có một mẩu tin độc quyền cho tờ báo chăng. Chắc không phải vụ hỏa hoạn đâu vì tôi có nghe tiếng chuông báo cháy nào đâu và cũng chẳng có ai đang chạy cả,” hắn thầm nghĩ.
Trên con phố chính của Winesburg, vào buổi tối tháng Mười Chính lạnh buốt, chỉ chế độ vài người dân xuất hiện và họ đều vội vã rảo bước với mục đích nhanh chóng tiến đến chiếc lò sưởi ở phía sau cửa hàng nào đó. Những ô cửa sổ của các tiệm đóng băng giá và cơn gió làm rung bần bật tấm biển thiếc treo lơ lửng ngay lối vào cầu thang dẫn lên phòng khám của bác sĩ Welling. Trước tiệm tạp hóa của Hern, một giỏ táo và một giá đựng đầy chổi mới được bày biện ngay trên vỉa hè. Elmer Cowley khựng lại, đứng đối diện với George Willard. Cậu cố gắng nói chuyện nhưng đôi tay bắt đầu quơ lên quơ xuống. Khuôn mặt cậu co giật liên hồi. Trông cậu cứ như sắp thét lên đến nơi. “Ôi, anh quay lại đi,” cậu gào lên. “Đừng có đứng đây với tôi nữa. Tôi chẳng có gì để nói với anh hết. Tôi chẳng muốn nhìn mặt anh tí nào đâu.”
Suốt ba tiếng đồng hồ, chàng thương nhân trẻ quẫn trí lang thang qua những khu phố dân cư của Winesburg trong cơn giận mù quáng, thứ cảm xúc xuất phát từ thất bại trong việc tuyên bố quyết định không làm kẻ quái dị của mình. Cảm giác thất bại cay đắng bủa vây lấy cậu khiến cậu chỉ muốn khóc òa lên. Sau những giờ phút lảm nhảm vô ích chẳng đâu vào đâu chiếm trọn buổi chiều và sự hèn kém trước mặt chàng phóng viên trẻ, cậu cảm thấy tương lai phía trước chẳng còn chút hy vọng nào dành cho mình.
Và rồi một ý nghĩ mới chợt lóe lên trong đầu cậu. Giữa bóng tối bao trùm lấy xung quanh, cậu bắt đầu nhìn thấy một tia sáng. Đi đến cửa hàng giờ đã tối thít, nơi cha con Cowley suốt hơn một năm trời mòn mỏi ngóng chờ khách hàng ghé qua, cậu len lén bước vào và quờ quạng tìm kiếm trong chiếc thùng phuy đặt cạnh lò sưởi ở góc khuất phía sau. Nằm dưới lớp mùn cưa trong thùng là một chiếc hộp thiếc đựng tiền mặt của cha con Cowley. Mỗi tối, Ebenezer Cowley đều cất hộp tiền vào thùng phuy khi đóng cửa tiệm lên gác đi ngủ. “Bọn chúng chẳng đời nào nghĩ ra nổi một chỗ cẩu thả thế này đâu,” hắn từng tự nhủ như vậy khi nghĩ đến bọn trộm cắp.
Elmer lấy đi hai mươi đô la, gồm hai tờ mười đô la, từ cuộn tiền nhỏ có lẽ vẫn còn khoảng bốn chín mươi đô la—số tiền mặt còn lại sau khi bán trang trại. Sau đó, giấu lại chiếc hộp xuống dưới lớp mùn cưa, cậu lặng lẽ bước ra bằng cửa cửa trước và tiếp tục lang thang trên những con phố.
Ý nghĩ mà cậu cho rằng có thể chấm dứt mọi nỗi bất hạnh của mình vốn vô cùng đơn giản. “Ta sẽ xéo khỏi đây, bỏ trốn khỏi nhà,” cậu tự nhủ. Cậu biết rằng có một chuyến tàu hàng địa phương chạy qua Winesburg vào lúc nửa đêm và tiếp tục hành trình đến Cleveland, tới nơi vào lúc rạng sáng. Cậu sẽ trốn vé trên chuyến tàu địa phương ấy và khi đến Cleveland, cậu sẽ hòa mình vào dòng người đông đúc ở đó. Cậu sẽ xin làm việc trong một phân xưởng nào đó, kết bạn với những người thợ khác và trở nên hòa nhập, chẳng thể phân biệt nổi với ai. Khi ấy cậu có thể thoải mái trò chuyện và cười đùa. Cậu sẽ chẳng còn là kẻ quái dị nữa và sẽ có những người bạn. Cuộc đời sẽ bắt đầu có hơi ấm và ý nghĩa đối với cậu giống như bao người khác.
Chàng trai trẻ cao kều, vụng về sải bước trên đường phố, tự cười nhạo chính mình vì đã nổi giận và từng có chút sợ hãi George Willard. Cậu quyết định sẽ có một cuộc trò chuyện với chàng phóng viên trẻ trước khi rời khỏi thị trấn, rằng cậu sẽ kể cho hắn nghe mọi chuyện, có lẽ sẽ thách thức hắn, thách thức toàn bộ Winesburg thông qua hắn.
Tràn ngập niềm tự tin mới, Elmer tiến đến văn phòng khách sạn New Willard House và đập cửa ầm ầm. Một cậu nhóc ngái ngủ đang nằm ngủ trên chiếc giường gấp ở văn phòng. Cậu ta không nhận lương mà chỉ được ăn uống miễn phí tại bàn ăn của khách sạn và mang cái danh hiệu “nhân viên trực đêm” đầy tự hào. Đứng trước cậu nhóc, Elmer tỏ ra táo bạo và kiên quyết. “Em đánh thức hắn dậy mau,” cậu ra lệnh. “Bảo hắn ra chỗ nhà ga gặp anh. Anh có chuyện phải gặp hắn và anh sắp đi chuyến tàu địa phương rồi. Bảo hắn mặc quần áo rồi ra đó ngay. Anh không có nhiều thời gian đâu.”
Chuyến tàu địa phương nửa đêm đã hoàn tất công việc ở Winesburg và các nhân viên đường sắt đang móc nối các toa tàu, vung vẩy đèn lồng để chuẩn bị tiếp tục cuộc hành trình hướng về phía đông. George Willard, vừa dụi mắt vừa khoác lên mình chiếc áo măng tô mới, chạy hộc tốc ra sân ga với ngọn lửa tò mò hừng hực trong lòng. “Nào, tôi đây rồi. Anh muốn gì nào? Anh có chuyện muốn nói với tôi cơ mà, phải không?” hắn cất tiếng.
Elmer cố gắng giải thích. Cậu liếm môi rồi nhìn đoàn tàu đã bắt đầu rền rĩ lăn bánh khởi hành. “Thì, anh thấy đấy,” cậu mở lời, rồi bỗng mất kiểm soát cái lưỡi của mình. “Ta sẽ được giặt giũ và ủi phẳng. Ta sẽ được giặt giũ, ủi phẳng và hồ bột trắng tinh cho mà xem,” cậu lẩm bẩm trong cơn mê sảng.
Elmer Cowley nhảy nhót điên cuồng bên đoàn tàu đang rền rĩ trong bóng tối trên sân ga. Những ánh đèn lóe lên không trung, nhấp nhô nhảy múa trước mắt cậu. Rút hai tờ mười đô la từ trong túi ra, cậu nhét phăng vào tay George Willard. “Cầm lấy đi!” cậu thét lên. “Tôi chẳng cần chúng đâu. Đưa cho cha tôi ấy. Tôi ăn cắp đấy.” Cùng với một tiếng gầm gừ đầy phẫn nộ, cậu quay phắt người lại và đôi tay dài bắt đầu quất loạn xạ vào không trung. Hệt như một kẻ đang giãy giụa tìm cách thoát khỏi những bàn tay đang kìm giữ mình, cậu vung tay đấm liên hồi vào ngực, vào cổ, vào miệng George Willard. Chàng phóng viên trẻ ngã nhào xuống sân ga trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh, choáng váng vì lực đấm khủng khiếp. Phốc một cái nhảy lên chuyến tàu đang lao qua và chạy băng qua nóc các toa tàu, Elmer nhảy phắt xuống một toa xe sàn phẳng, nằm úp mặt nhìn ngược lại, cố gắng tìm kiếm bóng dáng kẻ vừa gã gục trong màn đêm. Niềm kiêu hãnh trào dâng trong lồng ngực cậu. “Ta đã cho hắn thấy tay,” cậu gào lên. “Tao đoán là tao đã cho hắn thấy tay rồi. Tao đâu có quá dị hợm gì cho cam. Tao nghĩ là tao đã cho hắn thấy tao chẳng hề quái dị chút nào rồi đấy.”