Tuyết phủ dày đặc trên những con đường ở Winesburg. Tuyết bắt đầu rơi từ khoảng mười giờ sáng, kèm theo một cơn gió lốc thổi từng đám tuyết bay mù mịt dọc phố Main. Những con đường đất đông cứng dẫn vào thị trấn khá phẳng phơi, có chỗ băng đóng thành lớp trên mặt bùn. “Thời tiết này đi xe trượt tuyết thì hết ý,” Will Henderson vừa nói vừa đứng cạnh quầy bar trong quán rượu của Ed Griffith. Anh bước ra ngoài quán và chạm mặt Sylvester West, người thợ thuốc đang lầm lũi bước đi với đôi ủng cao su nặng nề gọi là arctics. “Có tuyết thế này người ta mới chịu đổ xô ra thị trấn vào ngày thứ Bảy chứ,” tay dược sĩ nhận xét. Hai người dừng lại bàn chuyện làm ăn. Will Henderson, diện chiếc áo khoác mỏng và đi giày thường, dùng mũi chiếc giày bên phải khẽ gót chiếc giày bên trái. “Tuyết rơi tốt cho lúa mì đấy,” tay dược sĩ ra vẻ uyên bác phán.
Chàng thanh niên George Willard, chẳng có việc gì làm, cảm thấy vô cùng khoan khoái vì hôm nay cậu chẳng muốn động tay chân vào việc gì. Tờ báo tuần đã được in và đem ra bưu điện từ tối thứ Tư, còn tuyết thì bắt đầu rơi vào ngày thứ Năm. Tám giờ, sau khi chuyến tàu buổi sáng đã qua đi, cậu đút một đôi giày trượt băng vào túi rồi rảo bước lên ao Waterworks nhưng lại chẳng hề trượt tuyết. Cậu đi qua ao, dọc theo con mòn uốn lượn theo con lách Wine Creek cho đến khi tới một lùm cây sồi. Tại đây, cậu nhóm một đống lửa dựa vào thân một khúc gỗ đổ và ngồi xuống đầu khúc gỗ để trầm tư. Khi tuyết bắt đầu rơi lả tả và gió thổi lồng lộng, cậu vội vã đi gom củi cho đống lửa.
Chàng phóng viên trẻ đang nghĩ về Kate Swift, người từng là cô giáo của cậu. Vào buổi tối hôm trước, cậu đã ghé nhà cô để lấy một cuốn sách mà cô muốn cậu đọc, và đã ở đó một mình với cô suốt cả tiếng đồng hồ. Đây là lần thứ tư hoặc thứ năm người phụ nữ ấy trò chuyện với cậu bằng một vẻ nghiêm túc vô cùng, mà cậu thì chẳng tài nào hiểu nổi cô ngầm ám chỉ điều gì. Cậu bắt đầu đâm ra tin rằng có lẽ cô đã đem lòng yêu mình, và ý nghĩ ấy vừa khiến cậu thích thú lại vừa thấy bứt rứt.
Cậu vùng đứng phắt dậy khỏi khúc gỗ và bắt đầu chất thêm củi lên đống lửa. Nhìn quanh để chắc chắn không có ai ở đó, cậu cất lời nói to như thể đang đứng trước mặt người phụ nữ ấy. “Ôi, cô chỉ giả vờ thế thôi, cô biết rõ là vậy mà,” cậu lớn tiếng tuyên bố. “Rồi con sẽ tìm ra sự thật về cô cho mà xem. Cứ đợi đấy rồi biết.”
Chàng thanh niên đứng dậy, quay gót bước trở lại theo con đường mòn hướng về thị trấn, để lại đống lửa vẫn đang bùng cháy trong khu rừng nhỏ. Trên đường đi qua các dãy phố, đôi giày trượt băng va vào nhau lách cách trong túi áo. Về đến căn phòng nhỏ của mình ở khách sạn New Willard House, cậu nhóm lửa trong lò sưởi rồi ngả lưng lên giường. Những nghĩ suy xác thịt bắt đầu xâm chiếm tâm trí cậu; cậu kéo rèm cửa sổ xuống, nhắm nghiền mắt và quay mặt vào vách. Cậu ôm trọn chiếc gối vào lòng, thoạt đầu nghĩ đến cô giáo cũ — người qua từng lời nói đã khuấy động điều gì đó thầm kín trong sâu thẳm tâm hồn cậu — và sau đó lại tơ tưởng đến Helen White, cô con gái mảnh mai của nhà ngân hàng thị trấn, người mà cậu đã thầm thương trộm nhớ từ lâu.
Đến chín giờ tối hôm đó, tuyết đã phủ ngập các ngả đường và trời chuyển sang lạnh buốt thấu xương. Việc đi lại vô cùng khó khăn. Các cửa hàng đều tối đen như mực và người dân đã rúc hết vào trong nhà. Chuyến tàu tối từ Cleveland đến trễ vô cùng nhưng chẳng một ai màng đến sự xuất hiện của nó. Đến mười giờ, toàn bộ một nghìn tám trăm công dân của thị trấn, ngoại trừ bốn người, đều đã lên giường đi ngủ.
Hop Higgins, người gác đêm, vẫn còn đang thức chập chờn. Ông bị thọt và chống một cây gậy to bản. Vào những đêm tối trời, ông mang theo một chiếc lồng đèn. Từ chín đến mười giờ, ông đi tuần tra các ngả. Ông khập khiễng bước dọc phố Main qua những đống tuyết trôi dạt, thử tay nắm cửa của các cửa hàng. Sau đó, ông rẽ vào các con hẻm nhỏ và thử cửa sau. Thấy mọi thứ đều khóa kỹ, ông vội vã rẽ qua góc phố để đến khách sạn New Willard House và đập cửa. Suốt khoảng thời gian còn lại trong đêm, ông dự định sẽ túc trực bên chiếc lò sưởi. “Cậu cứ đi ngủ đi. Tôi sẽ giữ cho lò lửa cháy,” ông nói với cậu thiếu niên ngủ trên chiếc giường gấp ở sảnh khách sạn.
Hop Higgins ngồi xuống bên lò sưởi và cởi giày ra. Khi cậu thiếu niên đã chìm vào giấc ngủ, ông bắt đầu nghĩ về những dự tính của riêng mình. Ông định sẽ sơn lại ngôi nhà vào mùa xuân tới và cứ ngồi bên lò sưởi để tính toán chi phí tiền sơn lẫn tiền công thợ. Điều đó dẫn ông sang những toan tính khác. Người gác đêm năm nay đã sáu mươi tuổi và muốn về hưu. Ông từng là lính trong Nội chiến và nhận được một khoản lương hưu nhỏ. Ông hy vọng tìm ra một kế sinh nhai mới và nuôi mộng trở thành một nhà nhân giống chồn sương chuyên nghiệp. Tầng hầm nhà ông hiện đã có sẵn bốn con chồn nhỏ dữ dằn với hình thù kỳ lạ — loài vật thường được những người thợ săn dùng để đuổi bắt thỏ. “Bây giờ tôi có một con đực và ba con cái,” ông lẩm bẩm ngẫm nghĩ. “Nếu gặp may, đến mùa xuân tôi sẽ có mười hai hoặc mười lăm con. Thêm một năm nữa là tôi có thể bắt đầu đăng quảng cáo bán chồn sương trên các tạp chí thể thao.”
Người gác đêm lún người vào chiếc ghế và tâm trí trống rỗng hoàn toàn. Ông không hề ngủ. Qua nhiều năm rèn luyện, ông đã tập cho mình khả năng ngồi hàng giờ liền suốt những đêm dài đằng đẵng mà không hẳn ngủ cũng chẳng hoàn toàn thức. Đến sáng hôm sau, ông vẫn cảm thấy sảng khoái gần như thể vừa được giấc ngủ ngon.
Với việc Hop Higgins đã yên vị ngoan ngoãn trên chiếc ghế sau lò sưởi, cả thị trấn Winesburg lúc này chỉ còn ba người thức giấc. George Willard đang ngồi trong văn phòng tòa soạn báo Eagle, ra vẻ đang cật lực viết bài nhưng thực chất vẫn đang chìm đắm trong tâm trạng của buổi sáng hôm ấy bên đống lửa trong rừng. Tại tháp chuông nhà thờ Trưởng lão, mục sư Curtis Hartman đang ngồi trong bóng tối để chuẩn bị tâm thế đón nhận một mặc khải từ Thiên Chúa; còn Kate Swift, cô giáo trường làng, đang bước ra khỏi nhà để đi dạo giữa cơn bão tuyết.
Đã quá mười giờ khi Kate Swift bước chân ra ngoài, và cuộc dạo chơi này hoàn toàn không có sự chuẩn bị trước từ trước. Cứ như thể chính người đàn ông và cậu thiếu niên kia, bằng cách nghĩ về cô, đã đẩy cô bước ra những con đường mùa đông giá lạnh. Dì Elizabeth Swift đã đến tòa lính quận để giải quyết một số công việc liên quan đến các khoản thế chấp mà bà có đầu tư tiền bạc và sẽ không thể trở về trước ngày mai. Ngồi bên chiếc lò sưởi lớn trong phòng khách của ngôi nhà, được gọi là lò sưởi ngọn lửa trung tâm, là cô con gái đang cặm cụi đọc sách. Bỗng nhiên, cô vùng đứng phắt dậy, vớ lấy chiếc áo choàng treo trên giá ngay cửa trước rồi lao vút ra khỏi nhà.
Ở tuổi ba mươi, Kate Swift không hề được biết đến ở Winesburg như một người phụ nữ xinh đẹp. Làn da của cô không được mịn màng và khuôn mặt lấm chấm những vết mụn báo hiệu tình trạng sức khỏe kém. Thế nhưng, khi đơn độc giữa đêm khuya trên những con đường mùa đông, trông cô lại vô cùng kiều diễm. Tấm lưng cô thẳng thắn, bờ vai vuông vức, và các đường nét trên khuôn mặt đẹp như tạc tượng của một nữ thần nhỏ trên bệ đá trong khu vườn dưới ánh chiều tà mờ ảo.
Vào buổi chiều hôm ấy, cô giáo đã đến gặp bác sĩ Welling để khám sức khỏe. Bác sĩ đã mắng mỏ cô và tuyên bố cô đang đứng trước nguy cơ bị điếc. Việc Kate Swift lang thang ra ngoài giữa lúc bão tuyết thế này thật là dại dột, dại dột và có lẽ vô cùng nguy hiểm.
Người phụ nữ đang đi trên đường phố chẳng màng nhớ đến lời bác sĩ dặn, và giả sử có nhớ thì cô cũng chẳng đời nào quay đầu trở lại. Trời lạnh cắt da cắt thịt nhưng chỉ sau năm phút đi bộ, cô hoàn toàn quên mất cái lạnh. Đầu tiên, cô đi đến cuối con phố nhà mình, rồi bước qua một cặp cân xe ngựa đặt trên mặt đất trước một nhà kho chứa thức ăn gia súc để tiến vào Trunion Pike. Dọc theo Trunion Pike, cô đi đến trang trại của Ned Winters, rồi rẽ về hướng đông đi qua một dãy nhà khung gỗ thấp dẫn qua đồi Gospel để vào con đường Sucker Road chạy uốn lượn xuống một thung lũng nông ngang qua trang trại gà của Ike Smead rồi hướng về ao Waterworks. Khi cô đi tới, cái tâm thế ngạo mạn, đầy phấn khích đã thúc đẩy cô bước ra khỏi nhà chợt lắng xuống rồi lại dâng trào.
Có một điều gì đó cay nghiệt và khó gần ẩn chứa trong tính cách của Kate Swift. Ai nấy đều cảm nhận được điều đó. Ở lớp học, cô trầm tính, lạnh lùng và nghiêm khắc, nhưng ngạc nhiên thay, cô lại rất gần gũi với học sinh của mình theo một cách kỳ lạ nào đó. Thỉnh thoảng, rất lâu mới có một lần, hình như có một luồng sinh khí nào đó bao trùm lấy cô và cô trở nên vô cùng vui vẻ. Tất cả lũ trẻ trong lớp đều cảm nhận được sức ảnh hưởng từ niềm vui ấy của cô. Có lúc chúng chẳng học hành gì mà ngả người ra sau ghế để ngắm nhìn cô.
Với hai tay đan sau lưng, cô giáo rảo bước qua lại trong lớp học và cất giọng nói một cách rất nhanh. Dường như chủ đề nào lướt qua trong đầu cô cũng đều được mang ra bàn tán. Có lần cô kể cho lũ trẻ nghe về Charles Lamb và thêu dệt nên những câu chuyện nhỏ kỳ lạ, đầy thân mật xoay quanh cuộc đời của vị văn hào đã khuất. Những câu chuyện được kể với phong thái của một người từng sống chung một nhà với Charles Lamb và nắm rõ mọi bí mật trong đời tư của ông. Lũ trẻ có đôi chút bối rối, cứ đinh ninh rằng Charles Lamb hẳn phải là một người từng sinh sống ở Winesburg.
Vào một dịp khác, cô giáo lại kể cho lũ trẻ nghe về Benvenuto Cellini. Lần đó thì chúng cười rộ lên. Cô đã khắc họa lão nghệ sĩ tài hoa ấy thành một kẻ khoác lác, ba hoa, bạo dâng và đáng yêu làm sao! Về nhân vật này, cô cũng tự bịa ra biết bao giai thoại. Có câu chuyện kể về một giáo viên âm nhạc người Đức thuê phòng ngay phía trên chỗ ở của Cellini ở thành phố Milan, nghe xong lũ con trai cười ha hả đến mức quằn quại. Sugars McNutts, một cậu nhóc mập mạp má đỏ hây hây, cười hăng hắc đến độ hoa mắt chóng mặt rồi ngã lăn cù khỏi ghế, và Kate Swift cũng bật cười theo cậu bé. Thế nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo, cô lại trở về vẻ lạnh lùng và nghiêm khắc vốn có.
Vào đêm mùa động khi cô bước đi qua những con đường hoang vắng ngập tràn tuyết trắng, một bước ngoặt đã đến trong cuộc đời cô giáo. Mặc dù chẳng một ai ở Winesburg có thể mảy may ngờ tới, cuộc đời cô vốn dĩ đã vô cùng phiêu lưu. Và cho đến tận bây giờ nó vẫn đầy rẫy những điều phiêu lưu. Ngày qua ngày, khi cô miệt mài làm việc trong lớp học hay thẫn thờ bước đi trên phố, nỗi buồn, niềm hy vọng và những khát khao vẫn luôn giằng xé trong lòng cô. Đằng sau lớp vỏ bọc lạnh lùng ấy, những biến cố phi thường nhất vẫn liên tục diễn ra trong tâm trí cô. Người dân trong thị trấn nghĩ về cô như một bà cô già khó tính, và vì cô ăn nói sắc sảo, luôn sống theo cách riêng của mình nên họ cho rằng cô thiếu vắng mọi thứ cảm xúc con người — những thứ vốn góp phần tạo nên và hủy hoại cuộc đời của chính họ. Thế nhưng thực chất, cô lại là một tâm hồn khao khát mãnh liệt nhất trong số họ, và đã không dưới một lần, trong suốt năm năm kể từ ngày cô rời những chuyến chu du để trở về định cư ở Winesburg và làm nghề giáo, cô buộc phải rời khỏi ngôi nhà của mình, đi bộ suốt nửa đêm để chiến đấu với những giông bão đang cuộn trào trong lồng ngực. Có lần vào một đêm mưa gió, cô đã đi biệt tích suốt sáu tiếng đồng hồ và khi trở về nhà đã xảy ra trận cãi vã nảy lửa với Dì Elizabeth Swift. “Tao mừng vì mày không phải là đàn ông,” người mẹ lạnh lùng nói. “Đã không dưới một lần tao phải mòn mỏi chờ bố mày về nhà, chẳng biết ông ấy lại gây ra thứ rắc rối tày trời nào nữa. Tao đã nếm đủ phần đời bất định của mình rồi, và mày đừng trách tao nếu tao không muốn nhìn thấy mặt tồi tệ nhất của ông ấy tái hiện lại ở mày.”
Tâm trí Kate Swift đang rực cháy những suy nghĩ về George Willard. Trong một bài viết thuở còn cắp sách đến trường của cậu, cô tưởng chừng đã nhận ra tia lửa của thiên tài và cô muốn thổi bùng lên tia lửa ấy. Có một ngày vào mùa hè, cô đã ghé qua tòa soạn báo Eagle và thấy cậu đang rảnh rỗi nên đã dẫn cậu ra phố Main tiến thẳng đến khu hội chợ, nơi hai cô trò ngồi trên một thảm cỏ và trò chuyện. Cô giáo đã cố gắng khắc sâu vào tâm trí cậu thiếu niên một hình dung rõ nét về những thử thách mà cậu sẽ phải đối mặt với tư cách là một nhà văn. “Em sẽ phải thấu hiểu cuộc đời,” cô tuyên bố, giọng nói nghẹn ngào vì quá đỗi chân thành. Cô nắm lấy đôi vai của George Willard và quay người cậu lại để có thể nhìn thẳng vào đôi mắt cậu. Một người qua đường hẳn sẽ nghĩ rằng họ chuẩn bị ôm chầm lấy nhau. “Nếu em muốn trở thành một nhà văn, em sẽ phải từ bỏ cái thói đùa giỡn với con chữ,” cô giải thích. “Sẽ tốt hơn nếu em gác lại ý định viết lách cho đến khi được chuẩn bị kỹ càng hơn. Giờ là lúc để sống. Cô không muốn làm em sợ đâu, nhưng cô muốn em hiểu được sức nặng của điều mà em đang nung nấu định thực hiện. Em không được phép trở thành một kẻ buôn bán từ ngữ tầm thường. Điều cần phải học chính là thấu hiểu xem con người ta đang suy nghĩ những gì, chứ không phải là nghe họ nói cái gì.”
Vào buổi tối trước đêm thứ Năm giông bão ấy, khi mục sư Curtis Hartman đang ngồi trên tháp chuông nhà thờ chờ đợi để được ngắm nhìn thân thể cô, chàng thanh niên Willard đã đến thăm cô giáo để mượn sách. Chính vào khoảnh khắc đó, sự việc khiến cậu thiếu niên hoang mang và bối rối đã xảy ra. Cậu kẹp cuốn sách dưới nách và đang chuẩn bị ra về. Một lần nữa, Kate Swift lại trò chuyện với một vẻ nghiêm túc tột cùng. Đêm đang buông xuống và ánh sáng trong phòng dần mờ đi. Khi cậu quay người bước đi, cô cất tiếng gọi tên cậu thật khẽ và với một cử động đầy bốc đồng, cô nắm lấy tay cậu. Vì chàng phóng viên đang dần trưởng thành thành một người đàn ông, chút sức hút nam tính phảng phất hòa quyện cùng nét duyên dáng của một cậu thiếu niên đã làm rung động trái tim người phụ nữ cô độc. Một khao khát cháy bỏng muốn cậu thấu hiểu ý nghĩa của cuộc sống, học cách diễn giải nó một cách chân thực và thành thật, đã cuốn phăng lấy cô. Rướn người về phía trước, đôi môi cô khẽ lướt qua gò má cậu. Cùng lúc ấy, lần đầu tiên cậu nhận thức được vẻ đẹp sắc sảo nổi bật trên các đường nét khuôn mặt cô. Cả hai đều ngượng ngùng, và để xua đi cảm giác ấy, cô lại trở nên cay nghiệt và độc đoán. “Có ích gì chứ? Phải mười năm nữa em mới bắt đầu hiểu được những điều cô nói với em lúc này,” cô cất tiếng kêu lên đầy cay đắng.
Vào đêm bão tuyết và khi vị mục sư đang ngồi trong nhà thờ ngóng chờ cô, Kate Swift đã tìm đến văn phòng tờ Winesburg Eagle với ý định trò chuyện thêm lần nữa với cậu thiếu niên. Sau quãng đường dài băng qua bão tuyết, cô cảm thấy lạnh lẽo, cô đơn và mệt mỏi. Khi bước qua phố Main, cô nhìn thấy ánh sáng từ cửa sổ nhà in hắt lên lớp tuyết trắng, và nhân một phút bốc đồng, cô đẩy cửa bước vào. Suốt một tiếng đồng hồ, cô ngồi bên chiếc lò sưởi trong phòng làm việc để bàn chuyện cuộc đời. Cô nói bằng một niềm đam mê mãnh liệt. Bản năng thôi thúc cô bước ra ngoài bão tuyết giờ đây trút hết vào lời nói. Cô trở nên đầy cảm hứng hệt như những lúc cô đứng trước lũ học trò trên lớp. Một khao khát cháy bỏng muốn mở toang cánh cửa cuộc đời trước mặt cậu thiếu niên — người từng là học trò của cô và là kẻ mà cô hằng tin rằng có tiềm năng thấu hiểu cuộc đời — đang chiếm trọn lấy cô. Niềm khao khát ấy mãnh liệt đến mức hóa thành một thứ xúc giác cụ thể. Đôi bàn tay cô lại một lần nữa bám lấy đôi vai cậu và xoay người cậu lại. Trong ánh sáng lờ mờ, đôi mắt cô rực sáng. Cô đứng dậy và bật cười, không phải cái điệu cười sắc lạnh quen thuộc mà là một tiếng cười kỳ lạ, đầy ngập ngừng. “Tôi phải đi đây,” cô nói. “Chỉ một lát nữa thôi, nếu tôi cứ ở lại, tôi sẽ muốn ôm hôn em mất.”
Một sự rối bời dâng lên trong tòa soạn báo. Kate Swift quay người bước về phía cửa. Cô là một cô giáo nhưng cô cũng đồng thời là một người phụ nữ. Khi cô nhìn George Willard, khát khao cháy bỏng được một người đàn ông yêu thương — thứ khát khao từng hàng ngàn lần quét qua cơ thể cô như một cơn bão — đã chiếm lĩnh lấy cô. Dưới ánh đèn dầu, George Willard trông không còn giống một cậu thiếu niên nữa, mà là một người đàn ông sẵn sàng đóng trọn vai trò của một người đàn ông.
Cô giáo để cho George Willard kéo mình vào vòng tay. Trong căn phòng nhỏ ấm cúng, bầu không khí bỗng chốc trở nên nặng nề và mọi sức lực như thể rút sạch khỏi cơ thể cô. Dựa người vào chiếc quầy thấp cạnh cửa, cô chờ đợi. Khi cậu bước đến và đặt một bàn tay lên vai cô, cô quay người lại và ngã rạp thân mình nặng trĩu vào người cậu. Đối với George Willard, sự bối rối càng lúc càng nhân lên gấp bội. Trong khoảnh khắc, cậu ôm chặt lấy thân hình người phụ nữ ấy vào ngực mình, rồi bỗng nhiên người cô cứng đờ lại. Hai nắm đấm nhỏ nhắn, siết chặt bắt đầu giáng tới tấp lên mặt cậu. Khi cô giáo đã chạy vụt đi và để lại cậu trơ trọi một mình, cậu cứ đi qua đi lại trong phòng làm việc và nguyền rủa một cách cuồng nộ.
Chính giữa lúc hỗn loạn ấy, mục sư Curtis Hartman đột ngột xông vào. Khi lão bước đến, George Willard cứ ngỡ rằng cái thị trấn này phát điên cả rồi. Vừa giơ cao bàn tay đang rỉ máu lắc lắc trong không trung, vị mục sư vừa lớn tiếng tuyên bố rằng người phụ nữ mà George vừa ôm trọn trong vòng tay cách đó chỉ một khoảnh khắc chính là sứ giả của Thiên Chúa mang theo thông điệp của chân lý.
George thổi tắt ngọn đèn bên cửa sổ, khóa cửa nhà in lại rồi đi về nhà. Đi qua sảnh khách sạn, lướt qua Hop Higgins đang chìm đắm trong giấc mộng gây nuôi chồn sương, cậu bước lên căn phòng của chính mình. Lò sưởi trong phòng đã tắt ngúm và cậu cởi quần áo trong cái lạnh cắt da. Khi chui vào giường, những tấm ga trải giường lạnh ngắt chẳng khác nào những lớp chăn tuyết khô.
George Willard trằn trọc lăn lộn trên chiếc giường mà ban chiều cậu từng nằm ôm chiếc gối và tơ tưởng đến Kate Swift. Những lời nói của vị mục sư — kẻ mà cậu đinh ninh là bỗng dưng phát điên — cứ văng vẳng bên tai. Đôi mắt cậu trân trân nhìn quanh căn phòng. Sự phẫn uất vốn dĩ rất đỗi tự nhiên của một chàng trai trẻ đang hoang mang dần lắng xuống, và cậu cố gắng tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra. Cậu chẳng tài nào hiểu nổi. Cậu cứ nghiền ngẫm vấn đề ấy hết lần này đến lần khác trong đầu. Thời gian trôi qua hàng giờ liền và cậu bắt đầu nghĩ rằng chắc sắp đến thời điểm một ngày mới bắt đầu. Lúc bốn giờ, cậu kéo chăn quấn chặt quanh cổ và cố gắng chìm vào giấc ngủ. Khi cơn buồn ngủ kéo đến và đôi mắt khép lại, cậu giơ tay quơ quào trong bóng tối. “Mình đã bỏ lỡ điều gì đó. Mình đã bỏ lỡ điều mà Kate Swift đang cố gắng nói với mình,” cậu lẩm bẩm trong cơn mơ màng. Rồi cậu chìm vào giấc ngủ, trở thành tâm hồn cuối cùng ở Winesburg khép lại đôi mắt trong đêm mùa đông ấy.