Trung Quốc Văn Mạch

Lượt đọc: 83 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
Rối Như Tơ Vò Cất Giấu Điều Tinh Tế

❊ ❊ ❊

Một

Nhìn từ đằng xa, triều Tông trông giống như một búi tơ vò.

Rối đến mức độ nào? Tôi muốn dùng một câu nói đùa để diễn tả: Rối đến mức ngay cả những nhà sử học vốn không sợ sự hỗn loạn cũng càng kể lại càng rối rắm, nhưng lại không biết rằng bản thân đã kể thành mớ hỗn độn, càng không biết làm thế nào để thoát khỏi sự rối ren đó.

Đã là như vậy, tất cả người Trung Quốc cũng tìm được lý do để bơi ngược dòng nước, vượt qua cục diện hỗn loạn này. Triều Tông là của tất cả chúng ta, nó có rối ren đến đâu đi nữa, thì cũng giống như mái tóc bù xù trên đầu của người bà, đang chờ chúng ta đến chải chuốt. Chúng ta không có lý do gì để mái tóc rối ấy che khuất người bà trong suốt thời gian dài, bởi vì che khuất người bà cũng chính là che khuất chính bản thân chúng ta.

Dựa theo kinh nghiệm từ hồi nhỏ, người bà vốn không tin tưởng vào tay nghề chải chuốt của chúng tôi, nhưng lại thích chúng tôi dùng đôi bàn tay nhỏ bé như chiếc lược để chơi đùa trên đầu bà. Thỉnh thoảng bà còn vui vẻ nói: "Đúng rồi, chính chỗ này, gõ cho ta thêm hai cái nữa!" Bà quanh năm mắc bệnh đau đầu, còn chúng tôi thì vô tình chạm vào một huyệt đạo nào đó.

Chải chuốt cho triều Tông, bối cảnh cũng tương tự như vậy.

Hai

Triều Tông còn chưa mở cửa, Trung Quốc dường như đã hỗn loạn thành một mảng.

Từ khi nhà Đường diệt vong cho đến khi nhà Tống được thành lập, khoảng thời gian ở giữa cách nhau hơn năm mươi năm. Trong khoảng thời gian hơn năm mươi năm ngắn ngủi ấy, lưu vực Hoàng Hà lần lượt xuất hiện năm triều đại, sử sách gọi là "Ngũ đại"; phương Nam lại xuất hiện chín chính quyền cát cứ, cộng thêm một chính quyền ở Sơn Tây, sử sách gọi là "Thập quốc". Cứ như vậy, "Ngũ đại Thập quốc" hiên ngang bước vào lịch sử Trung Quốc với tư cách là một danh xưng chính thức, trong các thư tịch sử sách cũng nghiêm túc sắp xếp những mục như "Ngũ đại bản kỷ", "Thập quốc thế gia", thoạt nhìn còn tưởng rằng đã khái quát một khoảng thời gian dài đằng đẵng biết bao.

Đem mười mấy vị hoàng đế độc lập với nhau ép lại một chỗ, sẽ xuất hiện cảnh tượng gì thì có thể tự tưởng tượng được. Rắc rối hơn là, những vị hoàng đế này để chứng minh bản thân là chính thống, rất thích tiếp tục sử dụng tên các triều đại từng xuất hiện trong lịch sử, ví dụ như Lương, Tần, Tấn, Hán, Chu,... khiến mọi người buộc phải thêm chữ "Hậu" vào phía sau từng cái để phân biệt, thực sự cũng rất làm cho người ta chóng mặt.

Triều Tống, chính là được thiết lập trong cục diện hỗn loạn như thế.

Chấm dứt sự hỗn loạn, đây vốn dĩ là một chuyện tốt, nào ngờ lại đón lấy một cuộc khủng hoảng trên diện rộng hơn. Những triều đại Ngũ đại Thập quốc ban đầu đều là chính quyền của người Hán, trong khi triều Tống phải đối mặt với từng chính quyền dân tộc thiểu số hùng dũng, hổ hổ sinh uy, lăm le nhòm ngó. Tiếng móng ngựa cuồn cuộn như gió mây mãi mãi vang vọng bên tai, những bản báo cáo chiến trận nản lòng cứ liên tục truyền về từ tiền tuyến, nghĩ đủ mọi cách rồi mà vẫn chẳng có cách nào, ngoài cảm giác thất bại ra thì chính là cảm giác nhục nhã, đây chính là nhà Tống.

Đầu tiên là nhà Liêu do tộc Khiết Đam ở phương Bắc thiết lập, thời gian lập quốc sớm hơn triều Tống, diện tích lãnh thổ cũng lớn hơn triều Tống, triều Tống sao có thể là đối thủ của nó chứ? Những gì còn sót lại chỉ là câu chuyện một nhà Dương gia tướng chống giặc. Tiếp theo là Tây Hạ do tộc Đảng Hạng ở hướng Tây Bắc thiết lập, hết lần này đến lần khác tấn công triều Tống, triều Tống cũng đánh trận nào thua trận đó. Sau đó nữa, thế lực đằng sau nhà Liêu là nhà Kim do tộc Nữ Chân thiết lập, lãnh thổ còn lớn hơn nhà Tống, trước tiên tiêu diệt nhà Liêu, rồi lại đến tiêu diệt nhà Tống, lực lượng tàn dư của triều Tống di chuyển về phương Nam, trở thành Nam Tống. Nam Tống về mặt quân sự càng không thể cứu vãn nổi, những gì để lại chỉ là câu chuyện vị tướng kiệt xuất Nhạc Phi bị hãm hại đến chết. Cho đến khi kỵ binh của tộc Mông Cổ kéo đến, tộc này tộc khác, nước nọ nước kia, quân đội này quân đội khác lúc trước, tất cả đều đồng loạt tro tàn khói lạnh, lịch sử Trung Hoa cũng long trọng bước đi hướng tới một triều đại đại nhất thống tiếp theo sau nhà Đường — nhà Nguyên, những gì còn lại chỉ là câu chuyện dũng cảm cự tuyệt đầu hàng của Văn Thiên Tường và những người khác.

Một đoạn lịch sử như thế, nếu cứ khăng khăng chọn triều Tống làm nhân vật chính, quả thực càng ngẫm càng thấy không đúng vị: Tại sao lực lượng xung quanh đều đối đầu với mình? Thế nhưng, nếu nhìn từ lịch sử Trung Hoa mang tầm vóc vĩ mô, các bên khác cũng đồng thời là nhân vật chính, mỗi nhân vật chính đều có hệ thống lập trường riêng, cấu thành những tầng xoáy nước quỷ dị khó lường, hoàn toàn không thể bị chi phối bởi cùng một hệ quy chiếu giá trị. Triều Tống vốn dĩ có anh hùng, các bên khác cũng có anh hùng, hơn nữa đều là anh hùng của dân tộc Trung Hoa. Triều Tống tuy chịu ủy khuất, nhưng cũng từng làm không ít chuyện xấu mà bản thân cho là vô cùng mưu lược, giống như các việc "liên Kim diệt Liêu", "liên Mông diệt Kim", không chỉ khiến cục diện hỗn loạn càng thêm rối ren, mà còn liên tục giẫm đạp lên lằn ranh đỏ của đạo đức chính trị, đồng thời đẩy nhanh sự diệt vong của chính mình.

Nghĩ như vậy rồi, khi chúng ta bàn về triều Tống, sẽ không còn tràn ngập cảm giác thất bại và nhục nhã giống như trước kia nữa.

Trong đại gia đình Trung Hoa náo nhiệt, thành bại vinh nhục đan xen lẫn nhau, phần lớn đều là trong anh có tôi, trong tôi có anh, cho nên đứng ở tầm cao mà nhìn thì cũng không có cái gọi là thành bại vinh nhục theo nghĩa tuyệt đối. Nếu như có bất cứ phe nào vẫn luôn giống như cái bao cát chịu trận bẩm sinh, liên tục cấu xé đẫm nước mắt, tự khích lệ bản thân, ngược lại sẽ khiến người ta nghi ngờ. Tiến trình lịch sử cuồn cuộn không dung chứa quá nhiều cảm xúc một chiều, cuộc đấu trí chính trị phức tạp không dung chứa quá nhiều phán xét đúng sai. Gió thu nổi lên, đừng đem chiếc lá phong rơi xuống cuối cùng làm khuôn vàng thước ngọc; tuyết trắng tan đi, hà tất phải coi trận mưa xuân đầu tiên là kẻ thù.

Lịch sử tự có chính nghĩa, nhưng nó tồn tại ở một số mệnh đề vĩ mô hơn, cơ bản hơn, phần lớn không liên quan nhiều đến sự hưng thịnh hay suy vong của triều đình.

Ba

Tiếng móng ngựa của tộc Mông Cổ khiến cho Tây Liêu, Tây Hạ, nhà Kim và Nam Tống vốn vẫn luôn kình chống lẫn nhau đều chuốc lấy thất bại, giống như tất cả cùng nhau đi đến bờ vực diệt vong. Có phải như vậy không? Không phải.

Thứ diệt vong là triều đình, chứ không phải nền văn minh.

Phương thức tồn tại của triều đình mang tính thay thế, nhất định sẽ có kẻ sống ta chết; phương thức tồn tại của nền văn minh mang tính tích lũy, có khả năng kéo dài lâu dài.

Hai bên so sánh với nhau, sự tồn vong của triều đình thực sự là một chuyện quá nhỏ bé, nhỏ bé. Tôi vẫn luôn không thể hiểu nổi, tại sao văn nhân Trung Quốc lại cố chấp như vậy, cho đến tận bây giờ vẫn ôm chặt lấy lời nói nghề nghiệp của sử quan cung đình không buông, coi những chuyện vô cùng nhỏ bé ấy làm mạch máu của lịch sử, mà hoàn toàn không màng đến sinh thái văn minh chân thực của mảnh đất Cửu Châu.

Triều Tông, thứ đáng được coi trọng nhất chính là sinh thái văn minh của nó.

Nhắc đến sinh thái văn minh của nó, nó hoàn toàn thay đổi hình ảnh, ngay lập tức trở thành một thời đại phồn thịnh, giàu có, tao nhã, tinh tế, cởi mở, an tọa ở vị trí cao của lịch sử Trung Quốc mà mỉm cười ôn hòa.

Đây là triều Tông sao?

Không sai, đây chính là triều Tông.

Sinh thái văn minh của triều Tông, trước hết biểu hiện ở đời sống kinh tế xã hội. Bản thân tôi do nhiều năm trước viết cuốn Lịch sử hý khúc Trung Quốc

, đã bỏ ra không ít thời gian để nghiên cứu đời sống thị trấn chợ búa thời Tống, đã đọc khá kỹ lưỡng các tác phẩm như Đông Kinh mộng hoa lục

, Đô thành kỷ thắng

, Mộng Lương lục

, Vũ Lăng cự sự

,... nên biết được cảnh tượng kinh ngạc của hai thành phố lớn Biện Kinh (nay là Khai Phong, Hà Nam) vào thời Bắc Tống và Lâm An (nay là Hàng Châu, Chiết Giang) vào thời Nam Tống. Thành Trường An của nhà Đường vốn dĩ đã là nơi phồn hoa nhất thế giới lúc bấy giờ rồi, thế mà thị tứ của Biện Kinh và Lâm An so với Trường An lại vượt trội hơn hẳn.

Phường và thị của Trường An đều là kiểu khép kín; trong khi đường và hẻm của Biện Kinh thì hoàn toàn là kiểu mở. Ngành nghề thủ công cũng nhiều hơn thời Trường An khoảng bốn lần, nối tiếp nhau liên tục kéo dài thành một khung cảnh náo nhiệt chen chúc vai kề vai. Điểm này, chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ ràng từ bức tranh nổi tiếng Thanh minh thượng hà đồ

của Trương Trạch Đoan.

Sự náo nhiệt này, ở thành Trường An đời nhà Đường là có giới hạn thời gian, hễ đến ban đêm là đóng phường thu chợ; thế nhưng các thành đô của triều Tông lại hoàn toàn không có sự hạn chế này, chợ đêm của không ít cửa hàng mở cửa đến tận canh ba, thậm chí canh tư, rồi đến canh năm lại mở chợ sớm.

Cảnh tượng thành đô như thế, có phải là một thứ phồn vinh giả tạo mang tính dị hình không? Không phải.

Thành đô lấy số lượng lớn thị trấn trên toàn quốc làm bệ đỡ, vào thời Bắc Tống, tổng số lượng thị trấn trên toàn quốc đã gần đạt tới hai nghìn. Dân số thành thị chiếm tới mười hai phần trăm tổng dân số cả nước, vì vậy, những bước chân tấp nập nơi đường phố vẫn tụ hội lại hơi thở chân thực của đất trời. Theo thống kê của nhà sử học Hoàng Nhân Vũ, lượng lưu thông hàng hóa lúc bấy giờ nếu quy đổi ra giá cả hiện tại, suýt chút nữa đã đạt tới sáu mươi tỷ đến bảy mươi tỷ đô la Mỹ. Có thể khẳng định rằng, trình độ kinh tế của triều Tống lúc bấy giờ là đứng đầu thế giới.

Vùng nông thôn với tư cách là hậu phương của thành thị thì tình hình thế nào? Triều Tông không nghi ngờ gì nữa chính là thời kỳ phát triển rực rỡ của nông nghiệp Trung Quốc. Diện tích trồng lúa nước mở rộng gấp đôi so với nhà Đường, kỹ thuật trồng trọt lại càng nâng cao nhanh chóng, sản lượng lúa nước trên mỗi mẫu ở vùng Giang Chiết đã đạt tới tám, chín trăm cân. Bên cạnh đó, tằm dâu dệt lụa bước vào giai đoạn sản xuất chuyên môn hóa, sản lượng và chất lượng đều tăng tiến vùn vụt.

Do sự phát triển của nông nghiệp, dân số Trung Quốc vào thời Tống đã bước vào mốc một trăm triệu người.

Còn về khoa học kỹ thuật, triều Tông cũng là đỉnh cao của toàn bộ lịch sử cổ đại Trung Quốc. Ví dụ như việc đẩy kỹ thuật khắc ván in ban đầu tiến lên thành in chữ rời, đem kim chỉ nam ứng dụng vào hàng hải, đem thuốc súng ứng dụng vào chiến tranh, đều là những sự việc diễn ra vào triều Tống. Những kỹ thuật này đều lần lượt truyền sang phương Tây, thúc đẩy to lớn nền văn minh nhân loại. Vào triều Tống, còn xuất hiện một loạt tác phẩm khoa học kỹ thuật quan trọng, giống như Mộng khê bút đàm

của Thẩm Quát, Số thư cửu chương

của Tần Cửu Thiều, Tân nghi tượng pháp yếu

của Tô Tụng, Đồng nhân thù huyệt châm cứu đồ kinh

của Vương Duy Nhất, Tẩy oan tập lục

của Tống Từ, v.v., các môn khoa học đều xuất hiện một bầu không khí chuyên môn nghiên cứu một cách nghiêm túc.

Đến đây, tôi cần phải cung cấp một khái niệm về thời gian. Triều Tống kéo dài ba trăm hai mươi năm, trong khoảng thời gian này phương Tây vẫn chìm đắm trong con đường hoang vắng đằng đẵng thời Trung cổ, chỉ có mấy con hẻm sâu được lát bằng đá cuội ở Florence, Ý là bắt đầu xuất hiện một chút làn gió trong lành của xã hội thị dân. Vào năm triều Nam Tống chính thức kết thúc, Dante được mệnh danh là nhà thơ cuối cùng của thời Trung cổ châu Âu, mới chỉ mười bốn tuổi. Cho đến một trăm bảy mươi năm sau, đại sư đầu tiên của phong trào Phục hưng là Leonardo da Vinci mới ra đời. Sự phát triển lớn mạnh của xã hội châu Âu được châm ngòi bởi phong trào Phục hưng, lại càng là chuyện của sau này.

Có thể thấy, sự huy hoàng của triều Tống, đặt trong thế giới đương thời thực sự xứng đáng là độc bước thiên hạ.

Bốn

Văn hóa của triều Tông, lại càng không cần phải bàn tới.

Tôi không muốn vội vã lôi Tô Đông Pô, Chu Hi, Lục Du, Tân Khí Tật, Quách Hi, Lương Khải ra để bàn chuyện, mà muốn đặc biệt chỉ ra một hướng đi lớn về văn hóa mà triều Tống đã khai phá: Sự thiết lập chính thức của nền chính trị văn quan.

Ngay từ khi mới bắt đầu, triều Tống đã muốn dùng một số lượng lớn văn quan để thay thế võ tướng, mục đích là để ngăn chặn việc tiếp tục xuất hiện cục diện cát cứ của các quân phiệt giống như thời Ngũ đại Thập quốc. Số lượng lớn văn quan lấy từ đâu? Chỉ có thể thông qua kỳ thi khoa cử, tuyển chọn từ những thường dân kẻ sĩ nghèo khó trên toàn quốc. Để cho những thường dân kẻ sĩ nghèo khó có đủ tư cách dự thi, triều Tống liền tiếp theo đó mở rộng giáo dục công và tư trên toàn quốc, mở đường cho cơ sở nhân tài của chế độ khoa cử.

Chiếu theo logic này mà triển khai từng lớp từng lớp, nguồn tài nguyên văn hóa trên toàn quốc có được sự khai phát chưa từng có, không gian văn hóa có được sự mở rộng cực lớn, bầu không khí văn hóa từ trên xuống dưới cũng ngay lập tức trở nên đậm đà.

May mắn thay, logic này vẫn đang từng bước vươn dài: Để cho văn quan có được sự tôn nghiêm đầy đủ để nắm quyền hành chính, không bị thua kém về khí thế so với những võ tướng từng lập được chiến công hiển hách, triều đình đã ban cho văn quan đãi ngộ cực kỳ cao. Có nhà sử học từng nghiên cứu nghiêm túc tiêu chuẩn tiền lương thù lao của văn quan triều Tống, kết quả xem xong thì giật mình thon thót, cho rằng tiêu chuẩn cao như vậy ở Trung Quốc có lẽ là chưa từng có và cũng không có kẻ thứ hai.

Không chỉ có vậy, Tống Thái Tổ Triệu Khuông Hận ngay từ thuở mới lên ngôi còn lập lời thề không giết sĩ đại phu và những kẻ bàn chuyện quốc sự, tức là bảo vệ trí thức có ý kiến bất đồng. Sắc lệnh cấm này, cho đến tận hơn một trăm sáu mươi năm sau dưới thời thống trị của Tống Hán Tông Triệu Cấu mới bị phạm phải. Nhưng nhìn chung mà nói, cuộc sống của những người làm văn hóa và trí thức triều Tống tốt hơn các triều đại khác rất nhiều.

Xin hãy nhìn xem, logic của chính trị văn quan một khi đã được thiết lập, kết quả của sự suy diễn bình thường tất yếu sẽ là như thế này. Rút lui không chỉ có võ tướng, quý tộc, mà còn là đủ loại tư duy trước kia không tôn trọng người làm văn hóa. Cứ như thế, văn hóa có lẽ sẽ hiển hiện sức hút của chính mình trong cấu trúc quyền lực. Triều đình vốn dĩ là muốn lợi dụng văn hóa, nhưng kết quả là văn hóa cũng đã lợi dụng triều đình. Sự lợi dụng lẫn nhau này, người thắng cuộc cuối cùng chính là văn hóa.

Năm

Chính trị văn quan của triều Tống được thực hiện một cách chân thành, chứ không giống như các triều đại khác chỉ coi văn hóa như một thứ trang hoàng.

Nói một cách công bằng, trong Trung Quốc cổ đại, tất cả các vị quan lại đều sẽ có một chút bản lĩnh bàn về kinh điển, múa bút trổ tài, tất cả các văn nhân cũng đều sẽ có một chút hùng tâm tráng chí lập công dựng nghiệp, tề gia trị quốc bình thiên hạ. Cho nên, việc tạo dựng nên ảo ảnh trăng mật giữa chính trị và văn hóa là vô cùng dễ dàng, việc lựa chọn một nhóm gián quan, mưu sĩ, sử bút, văn thị trong số những người làm văn hóa cũng không hề khó khăn. Cái khó là, rốt cuộc có thể chọn ra được linh hồn văn hóa mang tính đại biểu nhất để nắm giữ cỗ máy quan liêu có quyền lực nhất hay không? Xưa nay hầu như không có thời đại nào có thể trả lời được câu hỏi này, thế nhưng, triều Tông đã trả lời rồi.

Bạn xem, Phạm Trọng Yêm, Vương An Thạch, Tư Mã Quang, những người này nếu như không nắm quyền, thì thành phần tựu văn hóa của họ từ sớm cũng đã khiến họ đạt được địa vị tông sư một thời, thế nhưng, họ lại lần lượt đảm nhận chức vụ đứng đầu hành chính cấp cao nhất của triều đình. Sự dung hợp của hai đỉnh cao chót vót này, sẽ gặp phải một loạt những phiền toái bất ngờ, cho nên trên toàn thế giới rất khó tìm được tiền lệ như vậy.

Tôi từng bỏ ra không ít thời gian để nghiên cứu sâu các loại chính kiến của những đại sư văn hóa này sau khi nắm quyền, cũng như các cuộc đấu tranh đủ loại phát sinh từ đó, thế nhưng sau đó chợt bừng tỉnh: Quan trọng nhất không phải là chính kiến của họ, mà là họ là ai.

Điều này cũng giống như mấy vị triết gia đang múa kiếm trên đỉnh núi, quan trọng nhất không phải là kiếm thuật của họ, mà là họ là triết gia, họ đang ở trên đỉnh núi. Là ai đã tìm ra họ, lại sắp xếp họ lên đỉnh núi?

Thoạt nhìn thì là hoàng đế, kỳ thực bối cảnh lớn hơn rất nhiều. Đã cẩn thận nghiêm túc thực hiện chính trị văn quan rồi, vậy thì những tệ nạn quan trường và căn bệnh thâm niên của xã hội được nhìn ra từ nhãn quan của chính trị văn quan có thể được xóa bỏ thêm bước nữa hay không? Vấn đề này cũng bắt buộc phải giao cho chính các văn quan để trả lời. Trả lời có tốt hay không, quyết định mô hình thống trị sau này của Trung Quốc.

Đầu tiên là vị Phạm Trọng Yêm luôn ôm ấp tình hoài cao cả "Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ", đã đưa ra phương án cải cách lại chế độ quan lại lấy việc chỉnh đốn chế độ khoa cử làm cốt lõi, mục đích là để triều Tống thoát khỏi gánh nặng quan lại thừa thãi mà mưu cầu sự cường thịnh. Hơn mười năm sau, Vương An Thạch lại tiến hành phương án cải cách kinh tế làm rung chuyển dây thần kinh tổng thể của xã hội, mục đích là để triều Tống thoát khỏi gánh nặng chi phí thừa thãi mà mưu cầu sự giàu có, hơn nữa còn có hiệu quả tức thì, tình hình tài chính của quốc gia quả nhiên có sự thay đổi lớn. Thế nhưng, Tư Mã Quang lại cho rằng sự giàu có của thiên hạ có định số, sự giàu có quốc gia theo kiểu của Vương An Thạch tất sẽ dẫn đến sự nghèo đói mang tính bản chất của người dân, hơn nữa còn làm tổn hại đến trật tự ổn định của xã hội, cho nên phản đối biến pháp, chủ trương "thủ thường". Tất cả chúng ta đều yêu mến Tô Đông Pô, rõ ràng nghiêng về phía Tư Mã Quang, nhưng trong một số vấn đề cụ thể lại cảm thấy Vương An Thạch nói cũng có lý.

Chiếu theo quan điểm của chính trị học hiện đại, Vương An Thạch quả thực là một người theo chủ nghĩa xã hội thời kỳ đầu. Cải cách của ông đã liên quan đến việc quản lý tài chính của quốc gia, hơn nữa còn mưu cầu dùng việc quản lý tài chính để chủ đạo toàn bộ thể chế hành chính. Điều này vào thời đương thời tự nhiên là không thể thực hiện được, nhưng ông bằng những cấu tưởng bùng nổ thiên tài và hành động không chút do dự đã trưng bày ra một lý tưởng chính trị, trở thành một tia sáng quý giá trong lịch sử văn minh nhân loại thế kỷ thứ mười một.

Vương An Thạch cùng với kẻ địch chính trị của ông là Tư Mã Quang, bao gồm cả Phạm Trọng Yêm, Âu Dương Tu, Tô Đông Pô ở trước và sau họ, đều là những học giả nhân văn kiệt xuất. Tài năng chính trị cao độ mà họ tập thể thể hiện ra vào thế kỷ thứ mười một, đã khiến cho chính trị Trung Quốc lần đầu tiên phát huy một cách mãnh liệt như vậy phẩm tính văn hóa mang tính lý tưởng chủ nghĩa.

Những nỗ lực như thế rất dễ thất bại, nhưng đồng thời lại chẳng có gì gọi là thất bại cả. Bởi vì tôi đã nói rồi, thắng bại chỉ là thuật ngữ quân sự chính trị chứ không phải thuật ngữ văn hóa. Khi văn hóa nhúng tay vào với quy mô lớn, thì chỉ còn lại vấn đề có thể cấu thành sự tích lũy hay không, là tích lũy mang tính chính diện hay tích lũy mang tính tiêu cực.

Tôi đặc biệt ưu ái những năm tháng đó, hoàn toàn là vì mấy bóng hình gầy guộc cùng lúc bước lên đỉnh cao văn hóa và đỉnh cao chính trị này. Họ thực sự khiến người ta khó lòng quên được.

Có người căn cứ vào hậu sự thê lương của họ để khẳng định đại văn hào, đại thi nhân, đại học giả, đại sử gia không thể tham gia chính trị. Thế thì sai rồi. Họ không tham gia chính trị thì chưa chắc đã không thê lương, người khác tham gia chính trị thì cũng chưa chắc không thê lương. Thê lương là sự tổng kết tự nhiên của đất trời đối với tất cả những cuộc đời cao quý, chứ không mang theo bất kỳ phán định giá trị nào cả. Theo tôi thấy, những người này tham gia chính trị quả thực cũng có khuyết điểm, khuyết điểm lớn nhất trong số đó là rất dễ bị dẫn dắt sai lệch bởi những lời lẽ hoa mỹ và biểu cảm lay động, trọng dụng một số văn nhân không lớn không nhỏ, mà trong những văn nhân này thì thường chen chúc một tỷ lệ cực kỳ cao những kẻ tiểu nhân. Về điểm này, cả hai phía Vương An Thạch và Tư Mã Quang đều phải gánh chịu. Trợ thủ số một của Vương An Thạch là Lữ Huệ Khanh cuối cùng lại trở thành kẻ dùng thủ đoạn hiểm độc nhất để vạch trần Vương An Thạch, mà người ủng hộ sắt đá của Tư Mã Quang là Sái Kinh cuối cùng cũng trở thành kẻ dùng thủ đoạn điên cuồng nhất để thanh toán Tư Mã Quang, đây mới là bài học tương tự và đau đớn biết bao! Thế nhưng, cho dù có cộng tất cả các bài học lại với nhau, cũng không thể rút ra kết luận rằng Vương An Thạch, Tư Mã Quang bọn họ không thể tham gia chính trị.

Vương An Thạch và Tư Mã Quang, mặc dù chính kiến đối lập, ai cũng không nhường ai, thế nhưng xưa nay chưa từng có ai có thể chỉ ra rằng họ có bất kỳ tỳ vết rõ ràng nào về mặt đạo đức cá nhân, hay giữa họ có bất kỳ dấu vết giậu giâm dậu đổ bìm leo, hãm hại lẫn nhau nào. Sự đối lập của họ, là cuộc tranh luận chính đáng của người quân tử, không xen lẫn bất kỳ lợi ích cá nhân nào, cho nên không làm tổn hại đến nhân cách cơ bản của đối phương. Hai người họ tuổi tác xấp xỉ nhau, Tư Mã Quang lớn hơn Vương An Thạch hai tuổi, hơn nữa cũng qua đời sau khi Vương An Thạch qua đời năm tháng. Năm mà hai ngôi sao văn hóa kiêm ngôi sao chính trị gần như đồng thời vẫn lạc, là năm 1086 Công lịch. Khi Vương An Thạch qua đời thì Tư Mã Quang đã lâm bệnh nặng, vô cùng đau buồn, hạ lệnh hậu táng thật dày. Nếu như sự việc đảo ngược lại, Vương An Thạch nhất định cũng sẽ làm như vậy, chỉ là ông không có cơ hội này nữa.

Vương An Thạch lúc tuổi già từng gặp mặt Tô Đông Pô – người ủng hộ Tư Mã Quang – tại nơi mình ở quê nhà, ông không chỉ tự mình cưỡi lừa ra bến đò đón Tô Đông Pô, mà hai người còn ở cùng nhau một khoảng thời gian. Khi hai người chia tay còn hẹn ước mua đất ở cạnh nhau để làm hàng xóm, có thể thấy giao tình đã không hề nông cạn. Vì chuyện này, Tô Đông Pô từng viết một bài thơ tặng Vương An Thạch:

Cưỡi lừa mờ mịt bước vào chốn hoang vu, nhớ lại khi tiên sinh chưa bệnh.

Khuyên ta thử tìm ba mẫu nhà, đi theo ngài đã thấy muộn mười năm.

Khoảng thời gian Vương An Thạch ở cùng Tô Đông Pô, họ đã cùng nhau du ngoạn núi Chung Sơn ở Nam Kinh. Trong bài thơ ghi lại chuyến du ngoạn của Tô Đông Pô có hai câu: "Đỉnh núi khéo che khuất tầm mắt, sông ở xa ngỡ muốn nối liền với trời." Vương An Thạch đọc xong liền nói: "Cả đời ta làm thơ, viết không ra hai câu hay như thế này."

Không sai, đây là một thời đại có quá nhiều đỉnh cao, cho nên rất dễ che khuất lẫn nhau, làm mờ mắt người đời. Nhưng đỉnh cao rốt cuộc vẫn là đỉnh cao, đều có tầm nhìn ra dòng sông ở xa, có tình hoài muốn nối liền với trời.

Bản chất của chính trị văn quan chính là chính trị quân tử. Mặc dù chính kiến của đối phương có khác biệt đến đâu đi nữa, chỉ cần phẩm tính quân tử không mất đi, thì sự việc sẽ không thể tệ đến mức nào. Đáng tiếc là, tình huống như thế này chỉ xuất hiện ở triều Tống. Những thành tựu chính trị thịnh vượng được ca tụng ở các triều đại khác, chủ yếu dựa vào vị hoàng đế tương đối cởi mở, không liên quan nhiều đến chính trị quân tử.

Vương An Thạch từng viết hai câu thơ nổi tiếng thế này:

Gió xuân lại làm xanh mặt sông phía nam, ánh trăng sáng bao giờ chiếu ta trở về?

Tôi muốn mượn chữ "ta" ở trong đó làm tượng trưng cho chính trị quân tử.

Còn như thế nào được gọi là chính trị quân tử, có thể xem Tư trị thông giám

của Tư Mã Quang. Chỉ là, những mưu mô quyền thuật cuộn tròn ở trong đó vẫn còn quá nhiều.

Sáu

Sự hình thành bầu không khí văn hóa của triều Tống có liên quan đến chính trị văn quan, nhưng thành quả thực tế lại vượt xa khỏi chính trị.

Bầu không khí văn hóa là một thứ khế ước tinh thần thẩm thấu ở khắp mọi nơi. Thấm thấu đến chỗ chi tiết nhỏ nhặt, có thể khiến tranh vẽ linh động tú khí, khiến thư pháp tao nhã, khiến đồ sứ đạt đến đỉnh cao, thậm chí khiến cho hoạt động giải trí của thị dân cũng phấn chấn hẳn lên; thẩm thấu đến nơi cao xa, có thể khiến một đám lớn học giả ở khắp Đông Tây Nam Bắc dồn hết tâm trí nghiên cứu, tranh luận thân thiện, hình thành nên từng phái triết học có trình độ rất cao, để rồi cuối cùng giống như muôn vì sao vầng văng ôm lấy mặt trăng mà sản sinh ra đại sư Lý học tập đại thành là Chu Hi.

Tôi nhẩm tính sơ qua, đại khái khoảng một trăm năm sau khi triều Tống được thành lập, những phái triết học có trình độ cao đó bắt đầu xuất hiện. Khoảng thời gian này rất đáng chú ý, cho thấy một triều đại nếu từ trên xuống dưới chân thành dốc sức cho việc xây dựng văn hóa, thì thành quả ở tầng nông hai ba mươi năm sau là có thể nhìn thấy, mà thành quả ở tầng sâu thì phải đợi đến một trăm năm sau mới bắt đầu manh nha lộ diện. Thời gian chuẩn bị dài hơn một chút, thành quả làm ra cũng đàng hoàng hơn một chút. Chuyện văn hóa, vội vàng không được.

Thành quả đàng hoàng một khi đã lộ diện, tiếp theo chắc chắn sẽ trùng điệp nối tiếp nhau kéo đến, cản cũng không cản nổi. Đây chính là thời đại hoàng kim mà chúng ta thường nói tới. Thời đại hoàng kim tư tưởng triết học triều Tống kéo dài khoảng hơn một trăm ba mươi năm, trong khoảng thời gian đó quả thực danh gia xuất hiện lớp lớp, kể sao cho siết: Chu Diêm Đồi, Thiệu Ung, Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di, Nhậm Thời, La Tòng Ngạn, Lý Đồng... Cuối cùng, một cái bệ phóng huy hoàng đã xuất hiện, những cự tượng tinh thần như Chu Hi, Lục Cửu Uyên, Lữ Tổ Khiêm, Trương Thức, Trần Lượng, Diệp Thích lần lượt hiện thân. Ở khoảng giữa này còn chưa tính đến Vương An Thạch và Tư Mã Quang mà chúng ta đã nói tới ở phần trước. Sự bùng nổ trí tuệ tầng cao dày đặc như vậy, chỉ có thời kỳ trước và sau thế kỷ thứ năm trước Công nguyên tức là thời kỳ Bách gia chư tử của Trung Quốc và thời kỳ phồn vinh của triết học Hy Lạp cổ đại mới có thể sánh vai cùng nó.

Chu Hi là một nhân vật tập đại thành. Học thuyết của ông có một thứ sự yên tĩnh cao quý, mưu đồ thiết lập cho văn minh Trung Hoa một hệ thống vĩnh hằng bao la vạn vật, đồng thời tìm ra cho hệ thống vĩnh hằng này một bản nguyên theo chủ nghĩa duy lý. Nói theo ngôn ngữ hiện tại, tức là tìm ra cơ sở vũ trụ luận và bản thể luận cho giáo huấn Nho gia vốn trong trạng thái tản mác lâu ngày. Ông đã tìm thấy rồi, đó chính là lý của vạn vật trời đất. Cho nên, ông cũng tìm thấy lý do để vạn vật trời đất quay trở về trật tự, tìm thấy căn cứ cho nhân cách thánh nhân, tìm thấy điểm khởi đầu của nhân nghĩa lễ trí tín.

Vì thế, ông trên cơ sở các nhà các bài của Nho học, hấp thụ các phép lập luận mang tính hệ thống của Phật học và Đạo học, tiến hành cấu trúc lại logic của vạn vật trời đất. Ông hy vọng sự suy ngẫm của mình nhận được sự hỗ trợ từ kinh nghiệm cảm tính, cho nên đã dốc hết công phu "cách vật trí tri", hơn nữa ông tin rằng, con người cũng chỉ có thể thông qua kinh nghiệm cảm tính mới có thể dần dần lĩnh ngộ được bản nguyên. Cứ như thế, ông đã đem gánh nặng xây dựng vĩ mô và chứng thực vi mô đè nặng lên vai mình, gần như chỉ bằng sức của một người mà đào mấy ngọn núi, chất mấy ngọn núi, gánh mấy ngọn núi. Cảnh tượng này, cho đến tận ngày nay nghĩ lại, vẫn khiến cho người ta vô cùng kính trọng.

Chu Hi lâu dài đảm nhận chức quan địa phương, đối với tình hình phong tục thế tục hoàn toàn không xa lạ, thừa biết rằng người thiên hạ có thể hiểu được loại tư duy tầng cao này là ít lại càng ít. Thế nhưng, ông không vì thế mà dừng bước, ngược lại càng lúc càng đẩy tư duy của mình hướng tới sự kín kẽ và hoàn thiện vô song. Ông là như vậy, rất nhiều người đồng nghiệp của ông, bao gồm cả những người phản đối, cũng nỗ lực muốn làm được như vậy. Cuộc đấu trí tinh thần cực kỳ xa xỉ này bắt buộc phải được thiết lập trên bệ đỡ văn hóa dày đặc tầng tầng lớp lớp, được thiết lập trên sự ăn ý văn hóa ngầm hiểu lẫn nhau. Chỉ có triều Tống mới sở hữu bệ đỡ và sự ăn ý như thế.

Chính vì am hiểu tình hình phong tục thế tục, Chu Hi sau khi có được tư duy tầng cao lại muốn thiết kế ra các quy chuẩn hành vi Nho học mang tính thông tục, tiến hành phổ cập giáo dục. Sự thiết kế này, nói nhỏ thì liên quan đến quan niệm dưỡng dục đối cá nhân, gia đình; nói lớn thì liên quan đến nghi thức trình tự của quốc gia, xã hội tắc. Ông muốn từ đó khiến cho triết học duy lý của mình được đưa vào thực tiễn, khiến cho vạn vật trong thiên hạ đều bước vào sự sắp xếp hợp lý. Mưu đồ này, không hề trôi nổi thành không tưởng, mà là thật sự biến thành các quy chuẩn mang tính phổ cập như "tam cương ngũ thường", truyền bá đến từng tầng lớp xã hội.

Ở phương diện này, ảnh hưởng tiêu cực cũng vô cùng to lớn. Bởi vì đây rõ ràng là dùng một lý niệm trừu tượng để đè nén nhân tính, phủ định cá thể, tước đoạt tự do. Mà nhân tính, cá thể và tự do, trong xã hội luân lý tông pháp lâu dài của Trung Quốc vốn dĩ đã vô cùng khan hiếm rồi.

Cũng may đây là triều Tống, thiết kế của Chu Hi đã gặp phải những đối thủ học thuật hùng mạnh, ví dụ như Lục Cửu Uyên, Trần Lượng, Diệp Thích bọn họ. Những hạt giống do các đối thủ học thuật này gieo rắc, sẽ nở hoa kết trái vào triều Minh, đặc biệt là trong tay Vương An Thạch ở quê hương tôi sẽ bùng nổ một cuộc cách mạng tư tưởng lấy "tâm học" làm lá cờ, đặt ra một nền tảng chuẩn bị quan trọng lâu dài cho tư duy cận đại. Tiện thể nói một câu, Vương An Thạch là nhân vật đồng thời với các đại sư Phục hưng châu Âu, ông lớn hơn Michelangelo chỉ ba tuổi. Đương nhiên, đó là chuyện của sau này.

Lại quay về với Chu Hi. Ông qua đời vào thời điểm giao thoa giữa thế kỷ thứ mười hai và thế kỷ thứ mười ba, có thể thấy thế kỷ thứ mười hai là niên đại rực rỡ của triết học cổ điển Trung Quốc. Ông trút hơi thở cuối cùng vào một buổi trưa, theo ghi chép của học trò ông là Sái Trầm, lúc đó gió lớn nổi giông bão, lũ lụt bùng phát, những cây lớn bị nhổ bật gốc, giống như núi sụp đất nứt, tiếng động chấn động cả đất trời.

Bảy

Trong vòng mười năm sau khi Chu Hi qua đời, còn có hai người làm văn hóa quan trọng lần lượt qua đời: Một người là Lục Du, một người là Tân Khí Tật.

Nhắc đến hai vị thi nhân kiệt xuất này, ngay lập tức lại khiến người ta nhớ đến nguy cơ quân sự gió thổi mưa lay của triều Tống.

Thật kỳ lạ, nguy cơ kiểu này kỳ thực tất cả mọi người đều cảm nhận được, bao gồm cả Chu Hi và các nhà triết học khác, tại sao hễ cứ đến chỗ Lục Du và Tân Khí Tật, mới khiến người ta chấn động gấp bội chứ?

Tôi nghĩ, đây chính là điểm khác biệt giữa thi nhân và triết gia. Thi nhân là chuyên môn đến để cảm nhận gió mưa thời đại. Họ không kìm nổi tính tình để giống như Chu Hi bọn họ ngồi dài trong phòng đọc sách suy nghĩ sâu xa, mà luôn vội vã bước ra ngoài hành lang để tiếp nhận nhiệt độ không khí thay đổi đột ngột, quan sát sắc trời khả nghi. Họ nhạy cảm, họ tỉ mỉ, họ kích động. Hễ có gió thổi cỏ lay là họ lại phất phơ tà áo biến mất giữa chốn hoang dã. Người ta có thể nghe thấy tiếng của họ từ đằng xa, không biết là tiếng hô hoán, hay là tiếng ngâm ca.

Tân Khí Tật sau khi nhận được tin tức Chu Hi qua đời, lại nghe nói nhà đương cục có liên quan nghiêm cấm tham gia nghi thức tưởng niệm. Ông lập tức đứng dậy đi tới, và đọc điếu văn: "Điều bất hủ chính là vạn thế danh, ai bảo ông đã chết, lẫm lẫm vẫn như còn sống."

Đó chính là sự dũng cảm đặc trưng của thi nhân. Nếu như không phải nhà đương cục nghiêm cấm, Tân Khí Tật chưa chắc đã tự mình đi tới.

Thi nhân như vậy, đối mặt với sự va chạm tâm linh khi ngoại tộc xâm lược, đương nhiên vượt xa các vị tướng chiến trận triều đình và đông đảo quần chúng nhân dân.

Cho nên, Lục Du, Tân Khí Tật không chỉ trở thành triều Tống, mà còn trở thành những người kiến tạo nên ngôn từ kháng chiến sảng khoái nhất, tao nhã nhất của toàn bộ cổ đại Trung Quốc.

Thế nhưng, trong lịch sử Trung Quốc, ngôn từ kháng chiến hào sảng không hề thiếu, tại sao cứ đến chỗ Lục Du, Tân Khí Tật, lại đạt đến độ cao khó mà với tới được?

Tôi từng mang theo câu hỏi này, hết lần này đến lần khác ngâm tụng câu thơ của họ, dần dần thu được một số đáp án.

Trước hết, họ có lý do để yêu mến mảnh đất Thần Châu hơn các thời đại khác, tức là yêu mến nền văn minh hiển hách đạt đến độ trưởng thành đầy đủ được triển khai từ đời Đường Tống, cho nên từ tận đáy lòng sinh ra trách nhiệm bảo vệ, điều này rất khác với khí phách thôn tính giang sơn của các anh hùng hào kiệt đầu đội trời chân đạp đất thời cổ đại.

Thứ hai, họ có kinh nghiệm thực tế tham gia quân sự, chính sự, trong gió bụi phương Bắc và gươm giáo sa trường đã nuôi dưỡng nên một khí chất đại trượng phu thực sự, điều này hoàn toàn không giống với sự thả hồn trên trang giấy của các tao nhân mặc khách khác.

Thứ ba, họ mãi mãi bị bao trùm trong mây mù thua trận liên miên, cảm giác khủng hoảng to lớn đã đúc kết nên một phong cách mỹ học trầm uất, thương cảm, hào mại, bất đắc dĩ, điều này lại hoàn toàn khác biệt lớn với gió lốc móng ngựa, tung hoành Cửu Châu của thời đại thượng võ.

Thứ tư, họ chịu sự nuôi dưỡng sâu sắc của văn hóa Đường Tống, lại đang ở trong một thời đại sáng tác văn học đặc biệt tự do, trong việc biểu đạt mối quan hệ mang tính thi hóa giữa muôn dặm giang sơn và tình hoài thư sinh, đã đạt đến cảnh giới thuần thục, tự do, thuần khiết, đây lại là điều mà ngôn từ đanh thép của các anh hùng hào kiệt thông thường không thể sánh bằng.

Chính vì những nguyên nhân trên, chúng ta mới sở hữu những câu thơ khiến tim đập thình thịch bất kể đọc vào lúc nào.

Trước khi bắt tay viết bài văn này, tôi có một sự tự kiềm chế: Tuyệt đối không được bàn nhiều về Lục Du và Tân Khí Tật. Nguyên nhân là vì tôi từ mười mấy tuổi đã say mê họ sâu sắc, cho đến tận ngày nay, một số thứ trong câu thơ của họ vẫn sẽ giống như thuốc kích thích khiến tôi mất đi sự bình yên đáng có. Thứ gì chứ? Tôi đã nói ở phần trước rồi, chính là cái khí chất đại trượng phu chết tiệt ấy.

Vậy thì, hãy để tôi dùng phương thức kiềm chế nhất để trích dẫn mỗi người một tác phẩm của họ, chỉ trích dẫn một bài, sau đó, nói thêm một câu về sự chấm dứt cuộc đời của hai người họ. Kỳ thực những vị đại gia này mọi người đều biết rõ, nhưng tôi vẫn thấy tiếc nuối không nỡ bỏ qua.

Trong các tác phẩm của Lục Du, tôi chọn bài này:

Năm xưa muôn dặm tìm phong hầu, một ngựa canh giữ Lương Châu. Giấc mộng quan hà đứt đoạn ở nơi nào? Bụi phủ chiếc áo cừu cũ.

Giặc rợ chưa dẹp, mai tóc đã điểm sương thu, nước mắt chảy hoài vô ích. Kiếp này ai ngờ, lòng ở Thiên Sơn, thân già ở chốn Thương Châu!

Trong các tác phẩm của Tân Khí Tật, tôi chọn bài này:

Trong cơn say gảy đèn ngắm gươm, chợt tỉnh giấc mộng nghe tiếng tù và liên doanh. Tám trăm dặm chia nhau thịt nướng dưới cờ, năm mươi dây đàn tấu lên âm thanh ngoài ải, sa trường thu điểm binh.

Ngựa phi như bay ngựa Đích Lô, cung kêu như sấm dây đứt đánh thối. Hoàn thành việc thiên hạ của vua, giành lấy danh tiếng trước và sau khi chết, đáng thương mái tóc bạc phơ!

Cực văn cực võ, cực hùng vĩ cực bi tráng, cực mộng ảo cực tỉnh táo, lại bộc lộ ra sự khoáng đạt và tiêu sái đến cực độ. Vừa cất lời, toàn thân sảng khoái.

Khi Lục Du qua đời, đã để lại cho con trai một bức di chúc như thế này:

Chết đi vốn biết vạn sự đều không, chỉ buồn là không thấy cửu châu thống nhất. Ngày quân triều đình dẹp yên trung nguyên, cúng giỗ gia tiên chớ quên báo cho cha biết.

Tân Khí Tật lúc qua đời liên tục thét ba tiếng "giết giặc", rồi đứt hơi.

Tôi không biết trên thế giới này còn quốc gia nào có những thi nhân đỉnh cao bước về cái chết theo cách này không.

Quân triều đình mà Lục Du mong mỏi và kẻ địch mà Tân Khí Tật tìm kiếm để giết trong tiến trình lịch sử đã mất đi ý nghĩa tuyệt đối. Thế nhưng, khí chất tinh thần hàm chứa trong những câu thơ này vẫn được lưu giữ lại, chĩa thẳng vào một thứ mỹ học cuộc đời kiên cường vượt trội. Tôi vẫn luôn không hy vọng mọi người coi những câu thơ như thế này là sự phác họa của sự kiện lịch sử, hoặc coi là sự tuyên truyền giáo huấn của chủ nghĩa dân tộc, làm vậy thực sự là phí phạm tài năng to lớn. Mỹ học cuộc đời lớn hơn bất cứ thứ gì, giống như cánh cửa của trang viên thời Trung cổ bên lưu vực sông Rhine ở châu Âu năm xưa đột nhiên mở ra, vị kỵ sĩ trên lưng con ngựa phi nước đại tay cầm thanh trường kiếm, chiếc áo choàng màu đen phất phơ trong gió lướt qua cánh đồng hoang. Hình ảnh mà lịch sử khắc ghi chính là hình ảnh này, còn như ông ấy đi đâu, chiến đấu với ai, đều không quan trọng.

Có học giả nói rằng, triều Tống đã bóp chết đại thi nhân Lục Du và Tân Khí Tật, tôi không đồng ý. Lục Du sống đến tròn tám mươi lăm tuổi mới qua đời, Tân Khí Tật không thọ bằng, cũng sống được sáu mươi bảy tuổi. Tôi không biết cái gọi là "bóp chết" mà họ nói chỉ điều gì? Là để họ làm quan lớn hơn sao? Là để họ viết nhiều thơ hơn sao? Theo tôi thấy, quan không thể lớn hơn nữa, thơ đã đủ nhiều rồi.

Quan điểm của tôi hoàn toàn ngược lại: Chính triều Tống, đã tạo nên mỹ học cuộc đời lưu danh muôn thuở của họ.

Triều Tống, kết thúc vào bảy mươi năm sau khi Lục Du qua đời. Tròn bảy mươi năm, quân triều đình không chỉ không dẹp yên trung nguyên ở phương Bắc, cuối cùng ngay cả bản thân cũng biến mất. Đối thủ là ai? Cũng không phải là kẻ địch mà Tân Khí Tật muốn giết nữa, mà đổi thành quân đội Mông Cổ cuồn cuộn cuồn cuộn. Bọn họ trước tiên giết chết kẻ địch mà Tân Khí Tật muốn giết, cuối cùng quay người lại chĩa lưỡi đao về phía quân triều đình.

Điều này không thể hoàn toàn trách triều Tống vô năng. Tôi ở đây muốn biện hộ một chút cho triều Tống: Trong thời đại lấy binh khí lạnh làm chủ, văn minh nông nghiệp quả thực rất khó đánh thắng văn minh du mục.

Đối thủ của triều Tống, bất kể là nhà Liêu, nhà Kim, hay là Tây Hạ, đều là những đội quân cưỡi trên lưng ngựa vô cùng dũng mãnh, triều Tống chỉ dựa vào Binh pháp Tôn Tử

, sự nhiệt huyết kháng chiến, quả thực rất khó để giành chiến thắng từ gốc rễ. Còn như kỵ binh Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, lại càng là một cơn lốc không thể cản nổi, từ châu Á đến châu Âu, nhiều quốc gia như vậy đều không thể cản nổi, chúng ta sao có thể đơn độc khắc kỷ đòi hỏi khắt khe triều Tống chứ?

Kỳ thực triều Tống cũng từng đưa ra sự kháng cự kiệt xuất. Ví dụ như "Nhạc gia quân" ai nấy đều biết từng sáng tạo ra kỳ tích kháng Kim. Cho đến giai đoạn hậu kỳ của triều Tống, còn xuất hiện điển phạm kinh ngạc kiên trì kháng cự, đó chính là thành Điếu Ngư ở Hợp Xuyên, Trùng Khánh hiện nay, vậy mà lại kháng cự quân Mông Cổ gần bốn mươi năm. Đây là điều mà quân Mông Cổ chưa từng gặp phải ở các quốc gia từng đi qua. Quan trọng hơn là, trong bốn mươi năm này, Đại hãn Mông Cổ là Mông Ca đã chết dưới thành Điếu Ngư, đế quốc Mông Cổ phát sinh vấn đề ai sẽ là người kế vị, khiến cho quân đội Mông Cổ lúc bấy giờ đang ở chiến tuyến châu Âu chuẩn bị tiến đánh Ai Cập đã phải rút lui vạn dặm. Từ đó đế quốc Mông Cổ phân hóa, phương lược quân sự thay đổi, đại thế thế giới cũng vì thế mà đi theo một con đường khác. Sự thành lập của nhà Nguyên cũng làm giảm đi đáng kể mùi tanh máu. Cho nên có người nói: "Thành Điếu Ngư đơn độc câu cõi trung nguyên, bốn mươi năm thay đổi thế giới."

Tại sao trận chiến bảo vệ thành Điếu Ngư lại có thể kiên trì lâu như vậy? Lịch sử sẽ ghi nhớ một vị người ra quyết định sớm quan trọng nhất, đó chính là Dư Giới - người chủ trì quân chính Tứ Xuyên. Ông chĩa thẳng vào điểm yếu của kỵ binh Mông Cổ, định ra các phương châm quan trọng như cố thủ hiểm trở núi non, lấy nhàn đãi mệt, dùng nhiều chiến thuật tập kích ban đêm, kiểm soát nghiêm ngặt lương thực, đồng thời sắp xếp người dân địa phương trong lúc chiến tranh vẫn tiếp tục tiến hành các nghề nghiệp cày cấy ruộng đất. Điều này đặt dưới góc nhìn ngày nay, cũng là kế sách hoàn hảo để đánh bại kẻ địch giành chiến thắng. Đáng tiếc là Dư Giới mười năm sau khi chỉ huy trận chiến này đã bị kẻ ghen ghét đố kỵ trong triều hãm hại. Các vị tướng thủ thành sau đó tiếp tục kiên trì phương châm của ông, lại thủ vững thêm trọn vẹn ba mươi năm.

Cách đây không lâu có một nhóm các cụ già thuộc tông thân họ Dư người Hàn Quốc tìm đến tôi, nói rằng tổ tiên của họ là vị quan lớn được phái sang Hàn Quốc vào thời Tống. Tôi mỉm cười, chỉ vào người trợ lý Kim Khắc Lâm bên cạnh tôi, nói rằng tổ tiên của anh ấy là giáo sĩ từ Hàn Quốc sang Trung Quốc truyền giáo vào thời nhà Minh. Tôi nói, sự di cư của con người thường vượt qua biên giới quốc gia, nhưng có một số người nên được ghi nhớ chung bởi những con người có nguồn gốc khác nhau, quốc gia khác nhau. Dư Giới của triều Tống chính là một người như vậy, ông là niềm tự hào hiếm hoi của họ Dư chúng ta, bởi vì trong lịch sử Trung Quốc, danh nhân họ Dư ít lại càng ít.

Thành Điếu Ngư đóng cửa lâu như vậy, cũng có ngày mở cửa thành. Đây là đại thế thúc đẩy, đành phải làm như vậy. Toàn quốc chỉ còn lại mỗi thành cô độc này, tiếp tục kháng cự đã mất đi bất kỳ ý nghĩa quân sự nào. Vị chủ soái cuối cùng là Vương Lập biết được, nếu quân Nguyên phá thành, hàng vạn bách tính trong thành rất có thể sẽ phải chịu cảnh tàn sát, mà nếu chủ động mở cửa, thì có thể tránh được kết quả này. Trên chiếc cân mang tên danh tiết cá nhân và hàng vạn sinh mạng này, Vương Lập đã chọn vế sau. Quân Nguyên cũng tuân thủ hứa hẹn, không tàn sát thành.

Một tháng sau, tiểu triều đình lưu vong Nam Tống cũng diệt vong.

Chỉ có một người vẫn duy trì khí tiết không thể bị tiêu diệt, đó chính là Văn Thiên Tường. Ông là trạng nguyên, học giả, thi nhân, làm đến tể tướng, thề chết không khuất phục, đem lực lượng nhân cách của văn nhân triều Tống trưng bày ra một cách lần cuối cùng. Người thống trị nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt vô cùng kính trọng ông, thông qua các con đường khác nhau hết lần này đến lần khác mời ông ra làm tể tướng, đồng thời hứa hẹn nhà Nguyên sẽ dùng Nho học để trị quốc. Nhưng Văn Thiên Tường đã nói, "Xưa nay ai chẳng phải chết, hãy giữ lòng son chiếu sử xanh". Ông chỉ muốn mưu cầu nghĩa lớn bỏ qua sự sống.

Vì sự kiên trì của Văn Thiên Tường, trong dân gian có người nhân các danh nghĩa khác nhau nổi dậy khởi nghĩa, chuẩn bị cướp ngục cứu Văn Thiên Tường. Điều này cấu thành một yếu tố bất ổn rất lớn đối với nhà Nguyên mới được thiết lập. Hốt Tất Liệt trực tiếp ra mặt khuyên can Văn Thiên Tường không thành, đành phải hết lần này đến lần khác dài dòng thở dài: "Hảo nam nhi, không vì ta sử dụng, giết đi thật quá đáng tiếc!" Văn Thiên Tường vừa tuẫn nghĩa, chiếu chỉ ngăn cản giết chăng của Hốt Tất Liệt đã đuổi tới, thế nhưng đã chậm một bước rồi.

Bút tích tuyệt mệnh mà Văn Thiên Tường để lại cho nhân thế là thế này:

Khổng nói thành nhân, Mạnh nói thủ nghĩa. Chỉ vì nghĩa đã tận, cho nên nhân đã tới. Đọc sách thánh hiền, học làm việc gì? Từ nay về sau, có lẽ không thẹn lòng.

Hóa ra, ông coi cái chết của mình như một hành vi văn hóa thực thi Nho học. Văn hóa Trung Quốc một khi đã lắng đọng thành nhân cách, thường xuyên sẽ xuất hiện hình tượng sinh mệnh kỳ lạ vang dội như thế này. Điều này không có nhiều ở các nền văn minh khác.

Tám

Chiếu theo tư duy trắng đen mang tính cảm xúc từ trước đến nay của Trung Quốc, việc Văn Thiên Tường hy sinh vì nghĩa rất dễ gán cho nhà Nguyên và Hốt Tất Liệt một dấu ấn phản diện.

Kỳ thực, lịch sử mãi mãi dùng một vẻ bề ngoài đơn giản để che đậy một bản chất phức tạp. Quần chúng yêu cầu sự đơn giản, phác họa ra từng "văn bản dễ đọc", và từ đó từ chối sự phức tạp. Đây thực sự là một sự hiểu lầm lớn của con người.

Những chuyện mà quần chúng không muốn tưởng tượng lại rất có khả năng là sự thật. Ví dụ như, ngày Văn Thiên Tường tuẫn nghĩa, trong lòng ông chưa chắc đã tồn tại thù hận quá lớn đối với bản thân Hốt Tất Liệt; mà người lúc bấy giờ từ trên xuống dưới không muốn Văn Thiên Tường rời khỏi nhân thế nhất, lại chính là Hốt Tất Liệt.

Lịch sử hễ đến thời khắc hai nam nhân kiệt xuất lặng lẽ đối đầu không chút cảm xúc cá nhân này, luôn lập tức trở nên vô cùng sâu sắc, mỗi khoảnh khắc đều có sức nặng vạn cân. Quan điểm lịch sử của người Trung Quốc, thực sự đã bị sự nông cạn mang tính cốt truyện kia đầu độc sâu sắc, đã khó mà thưởng thức được sự đối lập sinh tử trong sự thưởng thức lẫn nhau này, đã không thể trải nghiệm được tri kỷ oan gia trong sự nhìn nhau không nói nên lời này.

Cho nên, tôi muốn trong sự tưởng niệm đầy kính trọng đối với Văn Thiên Tường, lập tức đưa ra sự bày tỏ thế này: Hốt Tất Liệt là một nhà thống trị kiệt xuất, ông ta ưu tú hơn không ít hoàng đế nhà Tống; nhà Nguyên là một triều đại rất tốt, nó lại một lần nữa khiến Trung Quốc thực sự quay trở về với sự thống nhất, hơn nữa còn là một loại thống nhất được mở rộng hơn, hiệu quả hơn, không hề khép kín.

Tình hình thực tế của xã hội nhà Nguyên, nói ra thì quá dài, tôi chỉ muốn mượn hai ánh mắt khách quan từ bên ngoài tới.

Một vị là Marco Polo. Ông lang thang ở Trung Quốc vào thời kỳ đầu nhà Nguyên, nhìn thấy nơi nơi phồn vinh đặc sắc. Đối với Lâm An - nơi từng là thủ đô của Nam Tống, theo lý mà nói nên bị tàn phá nặng nề nhất, ông miêu tả vô cùng toàn diện tỉ mỉ. Kết luận cuối cùng là: "Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là thành phố ưu mỹ nhất và cao quý nhất thế giới." Nên nhớ rằng, quê hương của ông là Venice vốn nổi tiếng từ xưa bởi vẻ đẹp.

Từ đây có thể biết rằng, Lâm An vào thời điểm giao triều dù bị phá hủy, thế nhưng vẫn giữ lại một phần lớn nền văn minh, hơn nữa đó còn là nền văn minh triều Tống cao quý.

Một vị khác là giáo sĩ châu Âu William of Rubruck, ông đến Trung Quốc sớm hơn Marco Polo, bài tường thuật của ông từ một tầng văn hóa sâu sắc hơn nói cho chúng ta biết triều Tống đã để lại sinh thái văn minh gì.

Trung Quốc trong mắt William of Rubruck là thế này:

Một tình huống ngoài dự đoán chính là sự thân mật trong phép lịch sự, tao nhã và cung kính, đây là đặc trưng trong các mối quan hệ xã hội của họ. Những chuyện tranh cãi, đánh nhau và đổ máu thường gặp ở châu Âu, ở đây lại không hề xảy ra, cho dù là trong lúc say mèm cũng là như vậy. Lương thiện là phẩm chất cao quý có thể thấy ở khắp mọi nơi. Xe cộ và tài sản khác của họ không cần khóa, cũng không cần trông nom, hoàn toàn không có ai trộm cắp. Gia súc của họ nếu đi lạc, mọi người sẽ giúp tìm kiếm, rất nhanh là có thể vật quy nguyên chủ. Lương thực tuy thường xuyên thiếu thốn, nhưng họ đối với việc cứu trợ người nghèo lại vô cùng hào phóng.

Đọc những ghi chép như thế này, tôi có hơi hổ hổ thẹn thẹn, tin rằng rất nhiều đồng bào cũng sẽ như vậy. Triều Tống đã trải qua bao nhiêu chiến họa tàn độc, văn minh để lại vậy mà vẫn như thế này, thật nên reo hò cổ vũ cho tổ tiên chúng ta. Tôi hy vọng các nhà sử học đừng tiếp tục sỉ nhục triều Tống vì việc nó cuối cùng bị nhà Nguyên thay thế nữa. Thật sự, nó không hề tồi tệ đến thế, ở rất nhiều phương diện, còn tốt hơn chúng ta của ngày hôm nay.

Bỗng nhiên nhớ lại cảnh tượng bảo tàng Thượng Hải trưng bày bức tranh chân thực Thanh minh thượng hà đồ

cách đây vài năm. Tin tức truyền ra, người Hoa ở khắp nơi trên thế giới nối đuôi nhau bay đến Thượng Hải, mà người dân Thượng Hải thì ngày ngày liên tục mấy tiếng đồng hồ xếp hàng dài dằng dặc không thấy điểm cuối. Giữa khu phố thị náo nhiệt, chỉ thấy người Trung Quốc đương đại di chuyển chậm rãi, đi về phía Trương Trạch Đoan, đi về phía Biện Kinh, đi về phía triều Tống. Trong khoảnh khắc mờ ảo, người ngoài tranh và người trong tranh dần dần liên kết lại với nhau, cất bước đi với cùng một nhịp điệu thong thả.

Tôi và vợ đã hẹn cùng với tiên sinh Bạch Tiên Dũng đi xem. Trong hàng người dài dằng dặc có người nói, mấy cụ già tuổi ngoài chín mươi, hai bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, cũng xếp hàng ở chính giữa. Phía bảo tàng sau khi biết tin, lập tức phái nhân viên đi tìm những cụ già và bệnh nhân này, mời họ vào sân trước. Không ngờ rằng, họ đều từ chối. Họ nói, xem Thanh minh thượng hà đồ

, thì nên đứng cung kính lâu như vậy; chúng ta ngày tháng chẳng còn bao nhiêu, càng phải nắm bắt cơ hội cung kính này.

Những người xếp hàng trước sau nghe vậy đều kính cẩn. Mọi người lại thu xếp tâm trạng, chỉnh đốn bước chân, lặng lẽ tiến sát về phía triều Tống.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.