Một
Đang trên đường đi, hễ đến một nơi cao ráo thoáng đãng, người ta nhất định sẽ dừng bước, hít sâu một hơi, rồi phóng tầm mắt nhìn xa xăm. Lúc này, chỉ thấy trời đất đặc biệt khoáng đạt lại vô cùng gần gũi, bản thân cũng trở nên hiên ngang lẫm liệt.
Phía trước lại có một nơi cao ráo thoáng đãng, nhìn từ xa mây bay khói tỏa, rất muốn nhanh chóng đặt chân tới, thế nhưng, cúi đầu nhìn lại, ở giữa bị ngăn cách bởi một vùng rừng rậm. Trong rừng rậm chắc chắn có vô số khe núi, đầm lầy, chướng khí, hổ gầm, sói tru phải không? Khiến người ta sinh lòng sợ hãi. Thế nhưng, đối với những lữ khách dũng cảm, đây lại chính là nơi họ muốn dấn thân vào nhất. Không chỉ vì vượt qua nó để đến được một chốn cao ráo thoáng đãng khác, mà bản thân nơi đó đã ẩn chứa vẻ đẹp vô hạn.
Tôi rất muốn mượn cảm giác du hành này để nói về lịch sử.
Thời Hán và thời Đường rõ ràng đều là những vùng cao ráo thoáng đãng của lịch sử. Chúng ta đôi khi thích gọi văn minh Trung Hoa là "văn minh Hán Đường", quả thực thanh thế lừng lẫy áp đảo. Thế nhưng, đừng quên rằng, giữa hai vùng cao ráo thoáng đãng lịch sử là Hán và Đường ấy, còn kẹp một vùng rừng rậm lịch sử, đó chính là thời Tam Quốc, Lững Tấn, Nam Bắc Triều.
Trong vùng rừng rậm lịch sử này, không có sự đồng điệu của trời cao đất rộng, không có sự khoáng đạt nhìn xuống vạn vật, khắp nơi đều là hỗn loạn và tranh giành, lúc nào cũng là chạy trốn và cái chết. Mỗi góc nhỏ là một tầng quyền mưu, mỗi bóng hình là một chuỗi câu chuyện. Thế nhưng, dù gom tất cả những hiện tượng hỗn loạn ấy lại với nhau, cũng không hề khiến người ta chán nản. Bởi vì, kẽ hở giữa những hỗn loạn ấy vẫn còn lấp lánh một số bức tranh ẩn hiện. Bạn xem —
Bóng áo vải lướt qua nơi nào, Hoa Đà lớn tuổi vẫn đang hành nghề y; đốm lửa lò lập lòe trong đêm, nhà luyện đan Cát Hồng rõ ràng đã trở thành một nhà hóa học nguyên thủy xuất sắc; trung nguyên thoang thoảng tiếng ngâm nga, đó là "Trúc lâm thất hiền" đang thanh đàm và uống rượu; phương nam cũng văng vẳng tiếng cười, đó là Vương Hi Chi và những người bạn đang tụ họp, chớp mắt nét mực trong "Lan đình tự" đã đẫm đà; bức tranh "Nữ sử giám đồ" của họa sĩ lớn Cố Khải Chi vừa vẽ xong, nhà toán học Tổ Xung Chi đã chế tạo ra xe chỉ nam, biên soạn "Đại minh lịch", tính ra số pi, trong khi "Thủy kinh chú" của nhà địa lý học Lịch Đạo Nguyên thì vừa vặn viết được một nửa...
Chính tất cả những điều đó đã khiến chúng ta đem lòng yêu mến thời đại hỗn loạn ấy.
Văn hóa trong thời loạn sẽ sản sinh ra một sức hút kỳ lạ. Nó không còn thuần khiết nữa, mà luôn lấy bóng tối làm phông nền, lấy cái ác làm hàng xóm, lấy sự bất an làm biểu cảm. Phần lớn cái thiện và cái ác nương tựa vào nhau, đen và trắng đan xen, thậm chí giống như Baudelaire đã nói, đó là "Bông hoa của cái ác".
Không có vùng rừng rậm lịch sử nào của thời Tam Quốc, Lững Tấn, Nam Bắc triều có thể thể hiện sức hút văn hóa này rõ nét hơn thế.
Nói đến đây, ánh mắt chúng ta đã liếc về phía dưới lớp mây mù kia, hướng tới một cánh cửa quyền thế bị người đời khen chê đủ điều.
Một người cha, hai đứa con, gia đình bên bìa rừng ấy.
Họ Tào.
Hai
Trước tiên hãy nói về người cha, Tào Tháo.
Một kẻ mạnh trong chốn rừng rậm, từng có lúc suýt thống nhất trật tự thiên hạ, tái thiết quy chuẩn giang sơn. Vì thế ông buộc phải dùng hết tâm kế, trăm phương nghìn kế để tranh giành các địa bàn quyền thế khác trong rừng rậm. Ông thất bại hết lần này đến lần khác, rồi lại thành công hết lần này đến lần khác, cuối cùng chiến thắng tất cả các đối thủ, nhưng lại không thể chiến thắng tuổi thọ và thiên mệnh của chính mình, rời khỏi cõi đời trước khi giành được thành công cuối cùng.
Nếu tự tay ông giành được thành công cuối cùng, mở ra một thời kỳ thịnh thế tương đối lâu dài nữa, thì mọi tâm kế và thủ đoạn trước kia đều sẽ được tô điểm ánh vàng. Thế nhưng, ông không có được may mắn ấy, các con trai của ông lại không có bản lĩnh ấy, nên đành phải vĩnh viễn vùi lấp thành tựu chính trị của mình dưới lớp bùn cát của những lời đàm tiu chê trách.
Ai ai cũng có thể từ các góc độ khác nhau mà phỏng đoán ông, bàn tán về ông, bôi nhọ ông. Toàn bộ hành vi và thành tựu của ông đều vấp phải sự hoài nghi. Thứ duy nhất không thể chối cãi chính là: thơ của ông.
Nghĩ đến thơ của ông, trong tôi nảy sinh một giả thiết kỳ dị: nếu thế chân vạc Tam Quốc không nhìn nhận từ góc độ quân sự, mà nhìn nhận từ góc độ văn hóa, thì giữa họ sẽ phân cao thấp như thế nào?
Người đầu tiên bị loại lẽ ra phải là tập đoàn Tôn Ngô ở phía đông. Nốt xương sống là một đám quân nhân trẻ tuổi, phong thái hiên ngang: Tôn Qúy toàn quyền chỉ huy trận Xích Bích đánh bại quân Tào khi mới ba mươi tuổi; Lục Tốn toàn quyền chỉ huy chiến dịch Di Lăng đánh bại quân Thục cũng mới ba mươi tuổi. Học giả nhà Thanh Triệu Dực trong "Nhị thập nhị sử trát ký" từng nói, cục diện tam phân Tam Quốc, Tào Tháo gom nhặt là một sự kết hợp của quyền thuật, Lưu Bị gom nhặt là một sự kết hợp của tính tình, Tôn Quyền gom nhặt là một sự kết hợp của ý khí. Dùng lại cách nói này, những quân nhân trẻ tuổi dưới quyền Tôn Quyền lúc bấy giờ quả thực là ý khí phơi phới. Những quân nhân trẻ tuổi như thế, ngày ngày theo đuổi hình ảnh tiêu sái giữa làn khói lửa ngút trời, hoàn toàn khinh miệt việc ngâm thơ làm phú. Tâm lý này cũng chi phối bầu không khí chung của tầng lớp thượng lưu, vì vậy, trong tập đoàn Tôn Ngô chưa từng xuất hiện hiện tượng văn hóa nào đáng để chúng ta bàn luận ngày nay.
Tiện đây xin nhắc lại một câu, vùng Đông Ngô lúc bấy giờ, kinh tế nông tang không tồi, sự nghiệp hàng hải cũng tương đối phát triển. Thế nhưng, kinh tế cũng giống như quân sự, đều không thể trực tiếp thông suốt đến văn hóa.
Đối với tập đoàn Ba Thục do Lưu Bị lãnh đạo ở phía tây, vốn dĩ cũng không thể ôm hy vọng quá lớn về mặt văn hóa. Nào ngờ, hai văn kiện quân sự của Gia Cát Lượng đã thay đổi cục diện này. Một bài là phân tích vĩ mô về tình hình quân sự, gọi là "Long Trung đối"; một bài là dặn dò chính trị trước khi xuất chinh, gọi là "Xuất sư biểu".
Giá trị văn học của "Long Trung đối" nằm ở sự sắp xếp rành mạch đối với thời loạn. Rành mạch chưa chắc đã có giá trị văn học, nhưng sự rành mạch lớn trong đại hỗn loạn lại sẽ sản sinh ra một khoái cảm logic. Khi khoái cảm logic ấy chuyển hóa thành khí thế và tiết tấu ào ào như nước đổ từ bình cao, giá trị văn học theo đó cũng xuất hiện.
So với điều này, giá trị văn học của "Xuất sư biểu" cao hơn rất nhiều. Giá trị ấy, trước hết xuất phát từ bối cảnh tổng thể của toàn bộ các mối quan hệ nhân sự đằng sau bài viết. Gia Cát Lượng từ năm hai mươi sáu tuổi đã dốc lòng phò tá Lưu Bị, lúc viết "Xuất sư biểu" là tròn bốn mươi sáu tuổi, tính ra vừa vặn đúng hai mươi năm. Lúc này Lưu Bị đã chết, để lại cho Gia Cát Lượng là một cục diện rối ren khó thu xếp và một người con trai yếu đuối vô dụng. Trong di chúc của Lưu Bị từng nói, nếu con trai quả thật không ra gì, Gia Cát Lượng có thể "tự lấy" ngôi vị cao nhất. Gia Cát Lượng không làm như vậy, mà tiếp tục dẫn quân đi chinh phạt. Trước chuyến xuất chinh lần này, ông cảm thấy thắng bại khó đoán trước, cho nên muốn dặn dò con trai của Lưu Bị thật kỹ lưỡng. Để thể hiện quyền lên tiếng của mình, lại còn phải giãi bày mối quan hệ tình cảm giữa mình và Lưu Bị, vừa nói, nước mắt liền trào ra.
Cảnh tượng này, chính là nguồn gốc của một bài văn hay. Mở đầu bài văn, dứt khoát lưu loát chỉ ra sự nguy cấp của cục diện — "Tiên đế sáng nghiệp chưa nửa chừng mà chết giữa đường, nay thiên hạ chia ba, Ích Châu mệt mỏi, đây thực là lúc nguy cấp còn mất"; ở phần giữa bài văn, từ đại cục quân quân chính chuyển sang tình cảm cá nhân — "Thần vốn áo vải, cày cuông chốn Nam Dương, chỉ mong giữ tính mạng nơi thời loạn, không ham nổi tiếng với chư hầu"; phần cuối bài văn, càng là nước mắt của vị lão thần trước trận vạn ngựa, đủ để khiến tất cả mọi người động lòng — "Nay trân trọng từ biệt, đối diện tờ biểu lệ nhòa, không biết nói gì hơn." Một bài văn như thế, hiệu năng thẩm mỹ vô cùng mạnh mẽ, đương nhiên có thể lưu truyền lại.
Tôi vẫn luôn cho rằng, gạt bỏ hình tượng tiểu thuyết trong "Tam Quốc diễn nghĩa", Gia Cát Lượng bằng xương bằng thịt sở dĩ có thể giành được danh tiếng phi thường trong lịch sử Trung Hoa, phần lớn là nhờ vào bài "Xuất sư biểu" này. Những nhân vật có năng lượng chính trị và thành tựu quân sự lớn hơn ông trong lịch sử thì có quá nhiều, nhưng lại đều không để lại dấu ấn văn học như vậy, cho nên cũng đều phai mờ trong ký ức của người đời. Mà một khi đã có dấu ấn văn học, thì cho dù là một hành động thất bại, cũng sẽ khiến những hậu thế mang nỗi lòng anh hùng đời đời đồng cảm sâu sắc. Câu thơ "Xuất sư chưa thắng thân đã chết, khiến các anh hùng lệ đẫm khăn" do Đỗ Phủ viết, chính là ý này. Đương nhiên, Đỗ Phủ đã viết rồi, địa vị văn học của "Xuất sư biểu" lại càng được củng cố vững chắc hơn.
Đã nói xong về Gia Cát Lượng, chúng ta liền quay trở lại với Tào Tháo.
Cho dù người ta đánh giá "Xuất sư biểu" cao đến đâu, cho dù người ta vì "Xuất sư biểu" mà sinh ra thiện cảm lớn đến nhường nào với Gia Cát Lượng, tôi vẫn cứ phải nói: Về địa vị văn học, Tào Tháo không những cao hơn Gia Cát Lượng, mà còn cao hơn rất nhiều, rất nhiều.
Cùng là những tác phẩm chốn chiến trận, mấy bài thơ của Tào Tháo ấy đã đủ để khiến ông trở thành một nhà văn hạng nhất trong lịch sử Trung Hoa, nhưng Gia Cát Lượng thì không. Bất kỳ bộ "Lịch sử văn học Trung Quốc" nào mà bỏ sót Tào Tháo thì thật khó tưởng tượng, mà thêm Gia Cát Lượng vào cũng thật khó tưởng tượng.
Vậy, điểm Tào Tháo cao hơn Gia Cát Lượng về mặt văn học nằm ở đâu?
Nằm ở tầm vóc sinh mệnh.
Gia Cát Lượng trong văn học thể hiện tình nghĩa quân thần, Tào Tháo trong văn học thể hiện sinh mệnh trời đất.
Tào Tháo rõ ràng coi thường kiểu khóc lóc trước trận tiền ấy. Trời đất trong mắt ông là thế này:
Đông lâm Yết Thạch, dĩ quan thương hải.
Thủy hà đạm đạm, sơn đảo sủng trịch.
Thụ mộc tùng sinh, bách thảo phong mậu.
Thu phong tiêu sắt, hồng ba dũng khởi.
Nhật nguyệt chi hành, nhược xuất kỳ trung.
Tinh hán xán lạn, nhược xuất kỳ lý.
Hạnh thậm tai, ca dĩ vịnh chí.
Sinh mệnh trong lòng ông là thế này:
Thần quy tuy thọ, do hữu cánh thời.
Đằng xà thừa vụ, chung vi thổ khôi.
Lão ký phục lịch, chí tại thiên lý;
Liệt sĩ mộ niên, tráng tâm bất dĩ.
Doanh súc chi kỳ, bất tại thiên thiên;
Dưỡng di chi phúc, khả đắc vĩnh niên.
Khi trời đất và sinh mệnh xảy ra mâu thuẫn, ông xử lý định vị nhân sinh thế này:
Đối tửu đương ca, nhân sinh hà kỷ?
Thích như triều lộ, khứ nhật khổ đa.
Khảng đương dĩ khảng, ưu tư nan vong.
Hà dĩ giải ưu, duy hữu Đỗ Khang.
Thanh thanh tử khâm, du du ngã tâm.
Đãn vi quân cố, trầm ngâm vĩ kim.
U u lộc minh, thực dã chi bình.
Ngã hữu tân khách, cổ sắt xuy sanh.
---❊ ❖ ❊---
Nguyệt minh tinh hi, ô thước nam phi.
Nhiễu thụ tam tá, hà chi khả y?
Sơn bất yếm cao, hải bất yếm thâm.
Chu Công thổ bộ, thiên hạ quy tâm.
Khi chép lại những câu thơ quen thuộc này, tôi không khỏi một lần nữa kinh ngạc trước sự thản phóng khoáng ở giữa đó. Một người có thể che giấu và ngụy trang động cơ hành vi của mình, nhưng lại không thể che giấu và ngụy trang phong cách sinh mệnh của bản thân. Những tác phẩm thơ ca này truyền tải một sinh mệnh mạnh mẽ bị cuốn vào chốn quyền mưu thời loạn mà tâm trí hướng về không gian khoáng đạt, mạnh mẽ đến mức không một sinh mệnh nào không đủ tầm có thể mô phỏng nổi.
Những tác phẩm thơ ca này còn cho thấy, Tào Tháo dốc sức muốn làm người khổng lồ quân sự và người khổng lồ chính trị mà vô cùng vất vả, lại không mấy vất vả mà trở thành người khổng lồ văn hóa.
Thế nhưng, đây cũng không phải là thành quả có được ngẫu nhiên. Khác với việc Gia Cát Lượng thảo các văn kiện quân sự, Tào Tháo làm thơ là coi thơ như thơ thực sự. Ông lại khác với những nhân vật chính trị xưa nay thích làm thơ, hoàn toàn không có chút nghi ngờ gì về việc đua đòi phong nhã. Điều này có nghĩa là, ông có sự tự giác văn học đầy đủ.
Những gì ông biểu đạt đều là những lời lẽ lớn lao, điều này rất dễ sa vào sáo rỗng, nhưng ông lại hòa quyện vào đó những nét đặc sắc cá tính mạnh mẽ. Bản lĩnh đem những lời lẽ lớn lao và nét đặc sắc cá tính hòa lại làm một để tạo nên bầu không khí đậm đặc này, chính là xuất phát từ sự tự giác văn học. Ngoài ra, trong các tác phẩm thơ ca như "Khước Đông môn hành", "Khổ hàn hành", "Khổ Lý hành", ông lại thường xuyên sử dụng thủ pháp tượng trưng, thậm chí tiến hành trải nghiệm hoán đổi vị trí với các tướng sĩ thời cổ đại và đương đại, chứng minh thêm tầm vóc chuyên nghiệp của ông trong văn học.
Thơ của Tào Tháo, sạch sẽ mộc mạc, giản dị tinh tế, hoàn toàn đi ngược lại với lối văn hoa xa hoa lộng lẫy mà tôi vốn luôn chán ghét, điều này lại càng khiến tôi tâm đắc. Tầm vóc sinh mệnh của một người hễ lớn, thì sẽ không bị chìm đắm trong những trang sức vụn vặt. Người thực sự tự tin, luôn có thể giản dị một cách đanh thép mạnh mẽ.
Ba
Cục diện tam phân Tam Quốc về mặt văn hóa, điều càng khiến người ta cạn lời hơn chính là, trong đám con cái đông đúc của Tào Tháo có hai người vô cùng xuất sắc. Ba cha con gom lại, chiếm hơn một nửa nền văn hóa Hoa Hạ lúc bấy giờ. Thật có thể gọi là "Ánh trăng thiên hạ chia ba, hai phần đều thuộc về nhà họ Tào".
Gia đình họ Tào bên mép rừng ấy, quả thực lợi hại biết bao!
Tôi không tài nào nhớ nổi, trong vùng đất cao ráo thoáng đãng của lịch sử, như môi trường lâu dài và ổn định của thời Hán, thời Đường, thời Tống, có dòng dõi danh gia vọng tộc nào sánh kịp nhà họ Tào về độ tập trung và chiều cao của văn hóa. Có người tưởng rằng suýt soát rồi, nhưng nhìn xa ra thì hoàn toàn không thể đặt lên bàn cân so sánh được.
Một nhà họ Tào có một không hai như thế, tại sao chỉ có thể hình thành trong thời loạn chứ không phải thời thịnh?
Vấn đề này hiện tại tôi vẫn chưa tìm được đáp án rõ ràng, xin phép để tôi suy nghĩ kỹ hơn sau.
Trước khi nghĩ thông suốt, chúng ta chi bằng đẩy cửa bước vào, đến nhà họ Tào xem thử.
Người anh Tào Phi, người em Tào Thực, mối quan hệ giữa hai anh em vô cùng khó xử. Có một truyền thuyết mà ai cũng biết, đối với Tào Phi thì không có lợi cho lắm. Truyền thuyết kể rằng, sau khi Tào Tháo qua đời, Tào Phi lên ngôi kế vị, liền nghĩ đủ mọi cách bức hại người em Tào Thực, có một lần thậm chí còn ép em trai trong vòng bảy bước phải làm xong một bài thơ, nếu không sẽ đem xử tử. Tào Thực liền cất tiếng ngâm bốn câu:
Chủ đậu nhiên đậu kỳ, đậu tại phủ trung khấp.
Bổn thị đồng căn sinh, tương tiễn hà thái cấp?
Tính chân thực của truyền thuyết này không thể khảo chứng được. Tôi nhớ trong "Thế thuyết tân ngữ" của Lưu Nghĩa Khánh đã có ghi chép, nhưng các câu thơ có đôi chút khác biệt. Nhận định của tôi là: Tào Phi trong truyền thuyết, hành động hôm ấy quá tàn bạo lại quá mức trò đùa trẻ con, không mấy giống hành vi của một kẻ thông minh trọng sĩ diện như hắn; nhưng phép ẩn dụ của bốn câu thơ này lại vô cùng thỏa đáng, rất có thể thực sự xuất phát từ miệng Tào Thực, chỉ có điều người kể chuyện đã hư cấu ra một bối cảnh ngôn từ đối mặt nhau mà thôi.
Người Trung Quốc là những kẻ chịu đựng kém nhất trước sự công kích của truyền thuyết. Nếu truyền thuyết mang tính kịch tính và kích thích, thì lại càng biến thành một thứ yêu ghét ngàn đời. Thế nhưng, truyền thuyết càng mang tính kịch tính và kích thích thì phần lớn lại càng xa rời tính chân thực, cho nên rất nhiều sự yêu ghét ngàn đời luôn đầy rẫy điểm nghi vấn, nghĩ lại thực sự khiến người ta sợ hãi.
Tào Tháo trong truyền thuyết là kẻ đi ngược lại luân lý triều đình, Tào Phi trong truyền thuyết là kẻ đi ngược lại luân lý gia đình. Tư duy chủ lưu của Trung Quốc cổ đại chẳng qua cũng chỉ là luân lý triều đình cộng thêm luân lý gia đình, kết quả là, đều bị nhà họ Tào lật đổ. Hai cha con, vừa vặn trở thành điển hình phản diện của hai phần tư duy chủ lưu.
Trong lịch sử, Tào Phi lên ngôi báu, Tào Thực suốt đời bất đắc chí, nhưng đây là đang nói về chính trị. Nếu nhìn từ góc độ văn hóa, sự cao thấp của họ phải đổi ngược lại, nghĩa là địa vị của Tào Thực cao hơn Tào Phi rất nhiều.
Phải thừa nhận rằng, Tào Phi cũng là một nhà văn xuất sắc. Lúc này tôi phỏng chừng sơ qua, có thể kể ra ba lý do. Thứ nhất, hắn viết không ít bài thơ hay mang màu sắc dân ca, trong đó một nửa là ca từ Nhạc phủ, và chính hắn là người khởi xướng thể thơ bảy chữ có hình thức hoàn chỉnh; thứ hai, hắn viết tác phẩm lý luận văn học "Điển luận·Luận văn", lần đầu tiên bàn luận một cách vĩ mô về ý nghĩa, thể loại, phong cách và khí chất của văn học; thứ ba, hắn từng là một lãnh đạo văn đàn nhiệt tình, xung quanh tập hợp rất nhiều văn nhân thời bấy giờ, hình thành nên một tập đoàn văn học.
Tác phẩm của Tào Phi vốn dĩ cũng rất đáng đọc, đặc biệt như hai bài "Yến ca hành". Chỉ tiếc là hắn không may vấp phải sự so sánh mang tính bao vây, trên có cha, dưới có em. So sánh một hồi, liền bị lép vế.
Tào Thực vì đường quan lộ bất đắc chí, ngược lại đã tạo cho anh ta một khí chất thi sĩ thê lương khác hẳn. Thơ của anh ta, giai đoạn đầu hé lộ sự hào sảng, cao nhã và sáo rỗng của một vị công tử nhà giàu, giai đoạn sau dưới sự giám sát chặt chẽ của cha con Tào Phi, ngày tháng càng lúc càng khó sống, dưới ngòi bút cũng xuất hiện ảo giác về vẻ đẹp thuần khiết, sự tuyệt vọng đối với nhân sinh, cảnh giới thơ ca có sự tiến triển lớn. Tác phẩm tiêu biểu của anh ta, chắc hẳn là "Lạc thần phú" và "Tặng Bạch mã vương Bưu" nhỉ? Phong cách của anh ta, Chung Vanh trong "Thi phẩm" tóm tắt là "cốt khí kỳ cao, từ thái hoa mậu", đại khái là thỏa đáng, mà lại hơi quá đà một chút. Theo tôi thấy, vấn đề của Tào Thực có lẽ chính là nằm ở chỗ "từ thái hoa mậu". May mà anh ta yêu thích dân ca, vẫn giữ lại không ít nét mộc mạc. Hoàng Khản người cận đại khi bình luận về đánh giá này của "Thi phẩm", cảm thấy Tào Thực vẫn còn có mặt "không rời khỏi chất phác của ca dao chốn thôn quê", đây là sự bổ sung cần thiết.
Thành tựu văn học của ba cha con nên được sắp xếp thứ tự thế nào đây?
Trước tiên phải ủy khuất Tào Phi một chút, xếp thứ ba. Không sao cả, hắn xếp thứ ba trong nhà, nhưng trong số các vị hoàng đế lịch sử Trung Quốc lại có thể xếp thứ hai, vị trí thứ nhất đành phải nhường cho Lý Dục người kém hắn hơn bảy trăm năm.
Vậy, vị trí thứ nhất và thứ hai trong nhà nên sắp xếp thế nào? Đa số các nhà lịch sử văn học sẽ xếp Tào Thực ở vị trí thứ nhất, còn tôi thì cho rằng đó là Tào Tháo. Tào Thực tuy dựng lên một cõi riêng tinh thần mỹ lệ kiều diễm, mà thơ của Tào Tháo, lại là gang thép đúc liền trên vách đá.
Bốn
Ba cha con, địa vị quyền thế chênh lệch, hoàn cảnh sinh tồn khác nhau, tính cách không giống nhau, nhưng hễ chạm đến văn học, thì đều không hẹn mà cùng ngộ ra sự hiểm trở của cõi đời, sự vô thường của nhân sinh.
Đây là tiếng nói chung của gia đình bên mép rừng này.
Hay nói cách khác, đây là tiếng nói chung của tất cả những bậc trí giả thời đại đó, nhưng lại được ba cha con họ cảm ngộ sâu sắc nhất, biểu đạt trang trọng nhất.
Đáng lẽ ra, trong ba người thì kẻ ít có sự ngộ nhận này hơn phải là Tào Phi, nhưng tình hình thực tế lại không phải như vậy. Ví dụ như năm ba mươi tuổi hắn được lập làm Thế tử nhà Ngụy, đáng lẽ phải là lúc xuân phong đắc ý nhất chứ, nhưng đúng vào năm này, đại dịch bùng phát ở Trung nguyên, bốn người còn lại trong số "Kiến An thất tử" là những tri kỷ văn học của Tào Phi lúc bấy giờ, tức là Từ Càn, Trần Lâm, Ứng Xưởng, Lưu Trinh, tất cả đều bỏ mạng trong thảm họa đó. Điều này khiến Tào Phi vô cùng đau xót. Trong bức thư gửi cho một người bạn khác là Ngô Chất, hắn hồi tưởng lại khung cảnh hoạt động náo nhiệt của hội nhóm văn học năm xưa, cảm thấy những tài năng trẻ tuổi ấy chìm đắm trong niềm vui mà không biết, cứ đinh ninh rằng bản thân có thể sống lâu trăm tuổi, nhưng chỉ vỏn vẹn vài năm, tất cả đều điêu tàn mà chết, tên tuổi bước vào "sổ quỷ", thể xác hóa thành phân bùn. Từ đó Tào Phi nghĩ đến, những người bạn quá cố tuy không bằng người xưa, nhưng đều rất kiệt xuất, những người sống sót không theo kịp họ nữa. Còn như thế hệ trẻ tuổi hơn thì khiến người ta sợ hãi, không thể coi thường, nhưng chúng ta có lẽ cũng chẳng có duyên qua lại với họ. Nghĩ lại bản thân, tố chất chỉ như chó dê, vẻ ngoài lại như hổ báo, xung quanh không có lấy một vì sao, lại bị trùm lên ánh nhật nguyệt giả dối, nhất cử nhất động đều trở thành đối tượng để người đời chiêm ngưỡng. Cảnh tượng như thế này, đến bao giờ mới thay đổi?
Bức thư riêng tư này, vì viết quá chân thực nên đã trở thành một bài tản văn hay.
Từ bức thư này có thể thấy, vị Thế tử nhà Ngụy được vạn người tung hô này, nội tâm cũng vô cùng tỉnh táo và thê lương.
Người có nội tâm thê lương, lúc bước vào ra quyền thế ngược lại không có quá nhiều rào cản đạo đức. Điểm này, Tào Phi có điểm chung với người cha Tào Tháo, chỉ có điều khí phách nhỏ hơn rất nhiều mà thôi.
Còn về phần Tào Thực, một nỗi thê lương không có quyền vị đã đeo bám suốt nửa đời sau của anh ta, anh ta gần như hoài nghi cả bản thể nhân sinh. Thiên mệnh khả nghi, thần tiên khả nghi, thời gian khả nghi, cái gì cũng khả nghi. Hãy đọc thử bài thơ anh ta viết tặng người em cùng cha khác mẹ là Tào Bưu, thì sẽ rõ.
Những sự chiêm nghiệm này của nhà họ Tào, được thể hiện tập trung nhất ở bến đỗ cuối cùng của cuộc đời họ — mộ táng.
Tào Tháo – người coi nhân sinh như "sương mai", có thể khiến một đời hữu hạn náo nhiệt tưng bừng, nhưng lại không đem vàng bạc châu báu chất đống trong lăng mộ sau khi chết để tận hưởng sự vĩnh hằng ảo tưởng. Là một kẻ mạnh trong sinh mệnh, ông từ chối sự xa hoa vô bổ sau khi cuộc đời khép lại. Ông thậm chí còn cảm thấy, những ngôi mộ quá xa hoa liên tục bị trộm đào, quả thực là đáng kiếp.
Trong những năm tháng binh đao loạn lạc, rất lớn nhỏ các đội ngũ quân sự đều dùng cách đào bới trộm mộ của các hào phú tại chỗ để bổ sung quân lương. Nghe nói, Tào Tháo cũng từng hạ lệnh cho binh sĩ làm những việc như vậy, thậm chí còn thiết lập trong quân một chức quan chuyên đi khai quật gò mộ, gọi là "Phát khâu trung lang tướng". Cái tên này, nghe có vẻ hơi hài hước.
Tào Tháo vừa khinh thường việc chậu cất dày dặn, vừa lo lắng mồ mả của mình bị trộm, cho nên hết sức chủ trương mai táng đơn giản. Khi ông qua đời, di chúc dặn rằng "liệm bằng thường phục, không chôn vàng bạc châu báu". Cái gọi là "thường phục", cũng chính là y phục mặc hằng ngày.
Di chúc của ông là vậy, nhưng liệu người kế vị của ông có vì một chút sùng kính trong niềm tiếc thương mà vẫn ban cho tang lễ dày dặn hay không? Điều này đành phải trông cậy vào Tào Phi. Hắn là người kế vị, mọi thứ đều do hắn quyết định.
Chúng ta không hề biết lúc bấy giờ Tào Phi đã làm thế nào, nhưng từ di chúc do chính hắn lập ra khi lâm chung bảy năm sau, có thể suy đoán rằng bảy năm trước không thể nào làm trái ý nguyện mai táng đơn giản của Tào Tháo.
Di chúc của Tào Phi, nói rất cụ thể về lý đạo và phương thức của việc mai táng đơn giản. Hắn nói, chôn cất ở chốn núi rừng, thì nên hòa hợp làm một thể với núi rừng, cho nên không xây tẩm điện, viên ấp, thần đạo. Hắn nói, mai táng chính là cất giấu, tức là khiến người ta không nhìn thấy, đến cả con cháu cũng không tìm thấy, thế mới tốt. Hắn nói, "từ xưa đến nay, chưa có quốc gia nào không diệt vong, cũng không có ngôi mộ nào không bị đào bới", nhất là táng dày càng sẽ dẫn dụ kẻ trộm mộ, dẫn đến phơi thây chốn hoang dã, chỉ có táng mỏng mới có thể khiến tổ tiên yên tĩnh đôi chút. Cuối cùng, hắn lập ra lời nguyền rủa nặng nề nhất, để ngăn cản người đời sau thay đổi di chúc, rằng: "Nếu trái chiếu thư này, tùy tiện có sự sửa đổi cải tạo, ta nguyện bị phanh thây dưới âm phủ, phanh thây rồi lại phanh thây, chết rồi lại chết nữa." Lời lẽ quả thực vô cùng khẩn thiết, thề non hẹn biển, hoàn toàn không chừa lại chút đường lui nào.
Vậy thì, tôi dám khẳng định, cha con họ Tào quả thực đã mai táng đơn giản.
Bởi vì họ đinh ninh rằng mai táng chính là cất giấu, hơn nữa phải giấu đến mức người đời nay và người đời sau đều không biết ở đâu, thời gian lâu dần, liền sinh ra truyền thuyết "Bảy mươi hai ngôi mộ nghi vấn của Tào Tháo".
Khoảng từ thời Tống trở đi nhỉ, người ta đồn rằng Tào Tháo vì sợ người khác trộm mộ nên đã xây bảy mươi hai ngôi mộ ở vùng sông Chương Hà, trong đó chỉ có một ngôi là thật. Sau đó lại có lời đồn, nói là có người từng tìm thấy, là ngư dân, hoặc là nông dân, hình như tìm thấy một ngôi thật, lại hình như nằm ngoài bảy mươi hai ngôi mộ kia...
Thế là lúc bấy giờ có văn nhân làm thơ chế nhạo Tào Tháo:
Sinh tiền khi trời dứt Hán thống, tử hậu khi người lập mộ nghi.
Nhân sinh dùng trí chết liền thôi, hà cớ dư mưu đến gò đống?
Người bảo mộ nghi ta chẳng nghi, ta có một phép quân chưa biết:
Đào sạch bảy mươi hai mộ nghi, ắt có một ngôi chứa thây quân.
Bài thơ vừa ra lò, lập tức có người khen ngợi là "búa rìu của thơ ca". Theo ngôn ngữ hiện đại, chính là đem thơ làm vũ khí, đâm thẳng vào Tào Tháo của chín trăm năm trước.
Đây chính là kiểu văn nhân Trung Quốc mà tôi vô cùng chán ghét – dựa vào một lời đồn đại, lập tức tỏ thái độ "ta không nghi ngờ", hơn nữa ngay từ câu đầu tiên đã nâng tầm thành phán quyết chính trị, khẳng định tội danh của Tào Tháo là cắt đứt "Hán thống". Dựa theo phân tích của chúng ta phía trước, chỉ riêng mấy bài thơ của Tào Tháo thôi, cũng đủ để chứng minh ông là người kế thừa xứng đáng của văn hóa nhà Hán, còn cái gọi là "Hán thống" mà họ nói, đại khái là chỉ huyết thống hoàng tộc nhà Hán chăng? Nếu là vậy, thế thì bản thân nhà Hán trước kia đã từng cắt đứt triều đại nào, thống trị nào? Xa hơn thì sao? Sau này thì sao? Kém Tào Tháo chín trăm năm mà trải qua các triều đại Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, Tùy, Đường, Ngũ đại Thập quốc, vậy mà vẫn còn mải miết theo đuổi huyết thống nhà Hán, loại văn nhân này quả thực khiến người ta tức giận.
Đáng giận hơn nữa là, kẻ làm thơ này không biết vì sao bỗng nhiên tự đại phình to, lại dám dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ hai để đối thoại với Tào Tháo, nói rằng bản thân nghĩ ra một chiêu tuyệt đỉnh có thể khiến "âm mưu mộ nghi" của Tào Tháo phá sản hoàn toàn, đó chính là san bằng cả bảy mươi hai ngôi mộ nghi.
Tôi không biết độc giả nghe xong chiêu độc này của hắn sẽ có cảm nhận thế nào, còn tôi cảm thấy hắn thực sự giống như rất nhiều văn nhân Trung Quốc khác, lấy sự ngu xuẩn làm thông minh, lại còn chẳng sợ người khác ê răng. Chỉ bằng chút trí tuệ ấy, chút bút lực ấy, mà cũng dám đối thoại với Tào Tháo?
Tôi nghĩ, cho dù có loại bỏ tầng lớp trí tuệ kém cỏi này đi chăng nữa, nhà họ Tào trong đại đa số các trường hợp cũng chẳng tài nào tìm được người đối thoại. Trước kia từng có một số người, nhưng đều đã chết trong trận dịch bệnh đó rồi. Vì vậy, họ cũng đành phải biến mất vào sâu thẳm đất mẹ.