Trung Quốc Văn Mạch

Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Phát Hiện Ân Hư

❊ ❊ ❊

Một

Tìm lại Hạ, Thương, Tây Chu đã tiêu tốn của tôi rất nhiều thời gian.

Hạ, Thương, Tây Chu là giai đoạn khởi đầu sau khi văn hóa Trung Hoa bước qua ngưỡng cửa trưởng thành, ẩn chứa một loạt vấn đề lớn quyết định sự sống chết, họa phúc của dân tộc. Do đó, mặc dù những tư liệu được khai quật vẫn chưa mấy hoàn chỉnh, nhưng vẫn phải lật lại nghiên cứu hết lần này đến lần khác, suy ngẫm tỉ mỉ từ đầu, giống như đi tìm mật mã ban đầu để cộng đồng to lớn này dựa vào đó mà sinh tồn.

Rất nhiều nền văn minh lớn của nhân loại đều diệt vong trong vùng hoang mạc của tư duy. Nếu sớm có người tìm ra mật mã ban đầu để sinh tồn, vực dậy sức sống độc đáo, thì đã có thể tránh được cảnh diệt vong. Thế nên, tôi đặc biệt kính trọng những nhà tư tưởng trong thời điểm lâm nguy.

Ngay từ một trăm năm trước, văn hóa Trung Hoa đã đứng trước bờ vực diệt vong. Thật bất ngờ, giữa nỗi buồn tuyệt vọng khôn cùng, có vài nhà tư tưởng văn hóa đứng ra, giúp Trung Quốc khôi phục lại ký ức ở tầng mức cao nhất. Ký ức một khi đã được khôi phục, cục diện liền xoay chuyển hoàn toàn.

Ký ức then chốt mà họ khôi phục lại, có liên quan đến triều đại nhà Thương xa xôi.

Nhớ lại năm xưa khi tôi rời Bán Sơn Tạng Thư Lâu đi xuống núi, điều tôi muốn nghiên cứu chính là Hạ, Thương, Tây Chu. Giờ đây đi một vòng lớn, lại nối tiếp được rồi.

Trong lòng tôi, hình ảnh lóe lên nhiều nhất là bóng dáng kỳ lạ của mấy nhà tư tưởng văn hóa ấy, họ gần như đã trở thành động lực ban đầu cho toàn bộ hành trình gian khổ sau này của tôi.

Vì vậy, xin bạn đọc hãy dừng bước giây lát, lắng nghe tôi kể một cách tỉ mỉ hơn về họ. Sau khi nói về họ rồi mới nói đến nhà Thương, trọng lượng sẽ hoàn toàn khác.

Hai

Hãy bắt đầu từ hai chữ "lâm nguy".

Cuối thế kỷ XIX, các cường quốc dấy lên cơn cuồng phong xâu xé Trung Quốc. Văn hóa giống như nước, còn lãnh thổ giống như chiếc mâm, khi chiếc mâm bị chia cắt từng miếng, nước làm sao còn giữ lại được? Thế nhưng, tất cả mọi người đều bó tay trước xu thế này.

Văn minh Trung Hoa có một vạn lý do để kéo dài sự sống, nhưng lại có đến một vạn linh một lý do để chấm dứt vào thế kỷ XIX, vì vậy, "cuối thế kỷ" này mang trọng lượng rất lớn.

Năm 1899, cuối mùa thu, chỉ cách thế kỷ XX ba trận gió, một trận tuyết.

Những tháng cuối cùng của thế kỷ XIX, thành Bắc Kinh chìm trong hỗn loạn. Triều đình vô năng, nông dân vô thức, cường quốc vô lại, đánh giết lẫn nhau giữa những con đường và ngõ hẻm dơ bẩn. Các cửa hàng hiếm khi mở cửa, cư dân ít khi bước chân ra ngoài, chỉ có một số cửa hàng lương thực và tiệm thuốc duy trì nhu cầu sinh tồn tối thiểu là còn thấp thoáng vài bóng người hoảng hốt. Theo truyền thuyết, ngày ấy, một hiệu thuốc Đông y ở Thái Thị Khẩu bên ngoài Tuyên Vũ Môn từng tiếp nhận một thang thuốc, trong thang thuốc có một vị thuốc gọi là "long cốt", thực ra chính là mai rùa và xương thú thời cổ đại, trên đó thỉnh thoảng có khắc một số cổ tự kỳ lạ. Người sử dụng thang thuốc này tên là Vương Dinh Vinh.

Vương Dinh Vinh là một nhân vật nổi tiếng, lúc bấy giờ là học giả cổ văn kiêm nhà kim thạch học hàng đầu kinh thành. Ông còn là một vị đại quan xuất thân khoa bảng, được phong hàm Hàn lâm, nhậm chức Nam thư phòng hành tễ, Quốc tử giám tế tửu, đứng đầu học phủ cao nhất hoàng gia. Ông từng nghiên cứu sâu về các văn khắc trên đồ đồng thời cổ, thế nên ngày hôm đó khi vô tình nhìn thấy những cổ tự trên miếng "long cốt" chưa bị nghiền nát trong gói thuốc, ông lập tức trở nên nhạy bén, không chỉ thu mua toàn bộ "long cốt" trong hiệu thuốc này, mà còn dặn người đi khắp nơi lùng sục, chẳng mấy chốc đã tập hợp được hơn một nghìn năm trăm mảnh giáp cốt có khắc chữ. Khi thu mua, ông vung tiền hào phóng, thấy bao nhiêu mua bấy nhiêu, kết quả là trong và ngoài kinh thành, "long cốt" từ một vị dược liệu không quan trọng đã biến thành một loại văn vật vô cùng quý giá, không ít người vì tiền tài mà cũng thi nhau gia nhập đội ngũ đi tìm giáp cốt có chữ.

Tôi chưa từng đọc được ghi chép cụ thể nào về việc Vương Dinh Vinh phát hiện ra giáp cốt văn từ gói thuốc của chính mình, hơn nữa các hiệu thuốc lúc bấy giờ phần lớn đều đem "long cốt" nghiền thành bột rồi mới bán, những tình tiết nói trên không đủ để tin hoàn toàn, cho nên đành phải ghi chú là "theo truyền thuyết". Nhưng có thể khẳng định rằng, chính vào cuối mùa thu năm đó, giáp cốt có chữ đã được ông phát hiện.

Trước ông, cũng từng có người nghe nói ở Hà Nam xuất hiện bản xương có khắc chữ, tưởng là "cổ giản". Vương Dinh Vinh vốn thông thuộc cổ thư, lại tận mắt nhìn thấy vật thật, nên đã nhanh chóng đưa ra phán đoán: những mảnh giáp cốt có chữ trước mắt này có liên quan đến luận điểm trong "Sử ký": "Nghe người xưa đời Ngũ đế Tam vương hễ phát động làm việc lớn ắt trước tiên phải bói cỏ thi và mai rùa".

Thế thì thật quá đỗi phấn khích. Từ thời đại truyền thuyết bắt đầu từ Hoàng Đế, hầu như tất cả người Trung Quốc đều từng hoài niệm, nhưng vẫn luôn thiếu minh chứng thực tế; còn thứ xuất hiện trước mắt rõ ràng chính là văn bói toán được dùng vào thời đại đó, hơn nữa lại là cả một đống sờ sờ trước mắt!

Bói toán chính là thỉnh thị ý trời, việc lớn việc nhỏ gì cũng hỏi. Việc lớn nhất như thắng bại chiến tranh, hung cát của tộc quần, thu hoạch mùa màng, đều là những việc mà các sử quan triều đình buộc phải làm lễ bói toán thật long trọng. Trước tiên lấy một mai rùa đã được chỉnh sửa, khắc lên một câu hỏi, ví dụ như: mấy ngày nữa đánh nhau với ai, có thắng không? Sau đó lật ngửa mai rùa lại, dùng một viên than hồng nướng ở mặt sau để tạo ra vết nứt, căn cứ vào hướng đi và độ dài của vết nứt để tìm câu trả lời, rồi khắc câu trả lời lên đó. Đợi đến khi đánh trận xong, lại khắc kết quả lên.

Tổ tiên chúng ta vì duy trì sinh tồn, sinh sôi nảy nở đời sau, không biết đã phải trải qua bao nhiêu tai ương và thử thách, giờ đây, cuối cùng cũng có thể nghe được từng câu hỏi bói hướng về ông trời của họ rồi.

Hỏi một cách thuần phác, hỏi một cách cụ thể, hỏi một cách thành khẩn. Hỏi Thượng đế, hỏi tổ tông; có tế tự, có vu chúc; nhật nguyệt tinh thần, gió sương mưa tuyết, hỏi trời cũng chính là hỏi đất.

Tại sao những tiếng hỏi bói từ hơn ba nghìn năm trước lại bất ngờ trào dâng vào cuối mùa thu của thế kỷ cuối cùng? Tại sao những bậc tiên hiền Hoa Hạ đã im lặng dưới lòng đất lâu đến vậy, mà vào thời điểm này lại "cơn rầm" một tiếng ném ra mai rùa bói toán của chính họ năm xưa, hơn nữa lại tuôn trào ra cả một đống lớn thế này?

Tôi nghĩ, nhất định là tiên hiền Hoa Hạ đã cảm nhận sâu sắc rằng con cháu của họ đang phải đối mặt với nguy nạn có thể dẫn đến họa diệt vong.

Họ rõ ràng có chút tức giận, ném giáp cốt ra để nhắc nhở con cháu: Đây là cơ nghiệp bao nhiêu đời, sao lại để người ngoài tàn phá thành ra thế này?

Họ thậm chí còn nổi giận, ném giáp cốt ra để quở trách con cháu: Cớ sao lại ủ rũ thế này? Ít ra cũng phải bói toán vài lần, cuối cùng thăm dò xem hung cát thế nào chứ!

Vương Dinh Vinh hình như hơi hiểu ra. Ông đặt giáp cốt xuống, đứng dậy.

Ba

Bên ngoài, có quá nhiều chuyện cần Vương Dinh Vinh quan tâm.

Chỉ nửa năm sau khi Vương Dinh Vinh phát hiện ra giáp cốt văn, Liên quân tám nước tiến đánh Bắc Kinh. Quốc hiệu của tám nước này cũng như hành vi của quân đội họ ở Trung Quốc, tôi không muốn nhắc lại ở đây nữa. Tôi chỉ muốn nói đến một kết quả: sáng ngày 15 tháng 8 năm 1900 (ngày 21 tháng 7 âm lịch), Vương Dinh Vinh được thông báo rằng Từ Hi Thái hậu và Quang Tự hoàng đế đã trốn khỏi Bắc Kinh.

Vương Dinh Vinh, vị đại học giả lúc bấy giờ lại gánh vác trọng trách phòng thủ thành Bắc Kinh. Trên đầu ông có thêm một chức quan - "Kinh sư đoàn luyện đại thần", đại diện cho triều đình liên hệ với Nghĩa Hoà Đoàn, nhưng giờ đây mọi chuyện đã quá muộn.

Trong các cuộc chiến tranh liên quan đến sự an nguy của dân tộc qua các triều đại ở Trung Quốc, khởi đầu luôn có không ít võ tướng chiến đấu, nhưng đến cuối cùng người vẫn kiên kháng chiến thường lại là văn quan, đây là một việc vô cùng kỳ lạ, e rằng cũng có liên quan đến việc truyền thừa khí tiết của văn hóa Trung Hoa. Vương Dinh Vinh lại là như vậy, ông cảm thấy thủ đô thất thủ, triều đình trốn chạy là sự thất chức của mình, mặc dù trách nhiệm hoàn toàn không nằm ở ông. Ông biết rằng càng vào những thời khắc thế này thì bản thân càng không nên rời bỏ chức trách, nhưng lại không thể khoanh tay chịu trói với tư cách là quan chức phòng thủ thủ đô của Trung Quốc, trở thành đạo cụ để lực lượng xâm lược nước ngoài càng chứng minh thêm chiến thắng của họ.

Thế là, sự lựa chọn duy nhất chính là, trong thành Bắc Kinh đã thất thủ, sau khi triều đình rời đi, vào khoảnh khắc trước khi ngoại xâm chưa kịp ập đến trước mắt, tự sát tuẫn quốc.

Quá trình tự sát của ông vô cùng bi tráng.

Đầu tiên là nuốt vàng. Vàng miếng không độc, chỉ là dựa vào trọng lượng đặc biệt để phá hoại hệ thống tiêu hóa, quá trình diễn ra chậm chạp, sự đau đớn gây ra có thể tưởng tượng được. Thế nhưng, ông giãy giụa hồi lâu vẫn không chết.

Tiếp theo là uống thuốc độc. Rót kịch độc vào hệ thống tiêu hóa đã bị phá hoại từ trước, cảm giác chắc chắn là đau đớn xé gan xé ruột, nhưng vậy mà ông vẫn không chết.

Cuối cùng, ông áp dụng biện pháp thứ ba triệt để hơn, bò đến bên miệng giếng, nhảy giếng tự vẫn.

Từ nuốt vàng, uống độc cho đến nhảy giếng, ông kiên quyết trải qua đủ các cách tự sát của quan lại, của thị dân và của nông dân, tương đương với việc dùng ba lời thề, ba con đường để đi đến chỗ diệt vong, thực sự là một đi không trở lại.

Sau khi ông nhảy giếng, vợ và con dâu của ông cũng lần lượt nhảy giếng tuẫn tiết theo.

Đây là một cái giếng gạch màu xám nâu. Giờ phút này nơi đây vô cùng tĩnh lặng, không có tiếng thét kinh hãi, không có lời từ biệt, không có tiếng khóc nức nở. Nghi thức tế lễ cao nhất cho sự thất thủ của thủ đô một cố quốc đã được hoàn thành bên thành giếng tĩnh mịch này.

Sau sự việc, thế sự rối ren, chẳng ai còn nhớ đến cái giếng gạch này và ba sinh mạng ấy. Ngôi nhà cũ và cái giếng cũ cũng dần trở nên hoang phế.

Mãi cho đến tận sau này, vài người đồng hương ở quê nhà Yên Đài, Phúc Sơn của Vương Dinh Vinh đến mang đi mấy viên gạch giếng để làm kỷ niệm.

Tôi vẫn luôn cho rằng, Vương Dinh Vinh đích thực là một đấng đại trượng phu, đã trở thành anh hùng dân tộc vào thời khắc quốc gia lâm nạn. Thứ ông nghiên cứu là kim thạch, nhưng bản thân ông lại trở thành kim thạch đanh thép trong văn hóa Trung Quốc; thứ ông phát hiện là "long cốt", nhưng bản thân ông lại trở thành "long cốt" thực sự của dân tộc Trung Hoa.

Tôi tin rằng, trước khi quyết định tự sát, nhất định ông đã đi đi lại lại trong thư phòng rất lâu, ánh mắt không nỡ rời xa nhất chính là đống giáp cốt ấy. Tiếng hỏi bói của tổ tiên là do ông nghe thấy đầu tiên, nhưng vẫn chưa nghe hiểu hoàn toàn. Lần này, ông muốn mượn bước chuyển giao của thế kỷ để bói một quẻ cho mảnh đất mà tổ tiên để lại.

Người bói quẻ là chính ông, vật liệu bói quẻ cũng chính là ông.

Hung ư, cát ư? Ông đã ném xuống, ông đã đi vào lòng đất, ông đã nướng nứt ra, trong vết nứt đã có điềm báo để có thể đọc ra rồi.

Lúc bấy giờ, một số sĩ quan và binh lính trong liên quân tám nước nghe tin có thêm một quan chức Trung Quốc tự sát trước khi họ đến. Họ không hề biết rằng, học thức của vị quan chức Trung Quốc này hoàn toàn không hề kém cạnh các viện sĩ thâm niên của Viện Hàn lâm Pháp hay giáo sư chủ chốt của Cambridge, Oxford, mà thứ ông để lại phía sau lại chính là bài toán bói toán sớm nhất của toàn nhân loại.

Bắc Kinh năm 1900 thoạt nhìn có vẻ đã lụi tàn, nhưng chỉ cần có cái giếng gạch này, đống giáp cốt này, thì cũng không đến mức bị hủy diệt từ tận gốc rễ.

Một quẻ hỏi mấy ngàn năm, một lần bói mấy vạn dặm, vinh nhục họa phúc ở giữa đó, há có thể đơn giản mà luận định?

Bốn

Vương Dinh Vinh làm quan thanh liêm, sau khi qua đời gia cảnh túng quẫn, nợ nần chồng chất. Con trai ông là Vương Hàn Phủ vì để trả nợ, đành phải đem bán số giáp cốt mà người cha đã thu thập được trong mấy tháng trước. Vương Hàn Phủ cũng là người hiểu biết, giáp cốt cất trong nhà vô ích, nên bán cho những học giả Trung Quốc thực sự có chí hướng nghiên cứu giáp cốt văn, người được ưu tiên hàng đầu chính là bạn tốt của Vương Dinh Vinh - Lưu Ngạc.

Lưu Ngạc? Chẳng phải là tác giả của cuốn tiểu thuyết "Lão Tàn du ký" đó sao? Không sai, chính là ông ấy.

Lưu Ngạc mang theo nỗi đau buồn to lớn trước cái chết tuẫn quốc của người bạn cũ, đã mua lại số giáp cốt do Vương Dinh Vinh để lại, tiếp nhận trọng trách nghiên cứu. Đồng thời ông lại thu thập thêm mấy nghìn miếng giáp cốt, vào cùng năm "Lão Tàn du ký" được xuất bản, tức năm 1903, đã cho ra mắt cuốn sách "Thiết vân tạng quy", khiến giáp cốt văn lần đầu tiên từ tư gia cất giấu biến thành tư liệu văn vật công khai trước đông đảo quần chúng.

Bản thân Lưu Ngạc cũng là một nhà kim thạch học thâm niên, người đầu tiên đưa ra nhận định giáp cốt văn là "văn tự dao bút của người Ân", định giáp triều đại một cách chính xác, ý nghĩa học thuật vô cùng trọng đại. Ân, tức là tên gọi khác của nhà Thương sau khi Thương vương Bàn Canh dời đô đến đất Ân, thường được gọi là Thương Ân, hoặc Ân Thương. Nhà Thương vì dời đô đến Ân mà đạt đến thời kỳ cực thịnh, là một sự kiện lớn trong lịch sử thời kỳ đầu của Trung Quốc.

Thế nhưng, một sự nghiệp vĩ đại khi vừa mới khai sáng luôn mang theo sát khí đằng đằng, Lưu Ngạc cũng nhanh chóng bước đến bờ vực diệt vong. Chỉ 5 năm sau khi "Thiết vân tạng quy" được xuất bản, ông đột nhiên bị vu oan giá họa một cách khó hiểu, bị lưu đày đến Tân Cương. Một trong những tội danh là "tự ý phát tán thóc kho Thái Xương", cố tình biến việc tốt thành việc xấu; tội danh thứ hai là "mua đất ở Phố Khẩu", cố tình biến không thành có. Năm 1909, Lưu Ngạc qua đời vì xuất huyết não tại Tân Cương.

Bạn xem, giáp cốt văn vừa mới được phát hiện mới tròn mười năm, công thần số một và số hai đều đã lần lượt qua đời một cách nhanh chóng. Nguyên nhân qua đời dường như đều không liên quan đến giáp cốt văn. Liệu ở đây có ẩn giấu một lời nguyền rủa và vận rủi nào không? Không ai biết.

Thế nhưng, điều này không hề làm chùn bước các học giả Trung Quốc. Một hoạt động học thuật thuần túy và trọng đại chắc chắn mang theo sức hút logic tiến bước từng bước, cám dỗ các học giả sinh ra lòng dũng cảm kinh ngạc, trước sau nối tiếp nhau miệt mài nghiên cứu.

Các nhà khảo cổ học phương Tây khi khai quật kim tự tháp Ai Cập, khai quật di tích Mycenae và di tích Crete của Hy Lạp cổ đại, đều từng thể hiện nhiệt huyết như vậy, lần này đến lượt các học giả Trung Quốc rồi.

Bản rập giáp cốt văn trong nhà Lưu Ngạc đã được thông gia của ông, một đại học giả khác là La Chấn Ngọc nhìn thấy. Ông vừa nhìn liền kinh ngạc, khẳng định rằng những cổ tự này ngay cả các nhà cổ văn học từ thời nhà Hán trở đi như Trương Sưởng, Đỗ Lâm, Dương Hùng, Hứa Thận,... cũng chưa từng nhìn thấy, vì vậy lập tức cảm nhận được bản thân đã gánh vác một sứ mệnh lịch sử do non sông đất nước giao phó cho một thế hệ học nhân. Ông viết:

Nay non sông hiển linh, ba nghìn năm mới hé lộ bí mật một lần, lại vừa đúng lúc ta sinh ra, nên việc mưu cầu cho nó lưu truyền mãi về sau chính là trách nhiệm của ta.

La Chấn Ngọc với học vấn thâm sâu, đã tiến hành giải đọc giáp cốt văn.

Trước và sau thời gian này, ông còn đi sâu nghiên cứu văn thư thạch thất Đôn Hoàng, kim thạch minh khắc cổ đại, giản độc Hán Tấn, thể hiện phong thái của một bậc đại gia. Đối với giáp cốt văn, điều ông quan tâm nhất chính là địa điểm xuất thổ, chứ không phải bàn về chữ nghĩa hay bàn về từng mảnh đơn lẻ. Bởi vì chỉ có khảo cứu xác định được địa điểm xuất thổ, mới có thể làm rõ bối cảnh tổng thể và đầu đuôi gốc ngọn. Sự thật chứng minh, đây quả thực là cái nhìn của bậc cao nhân.

Trước La Chấn Ngọc, cho dù là Vương Dinh Vinh hay Lưu Ngạc, đều không biết địa điểm chính xác giáp cốt văn xuất thổ. Họ bị một số cổ ngoạn thương tìm cách lũng đoạn việc buôn bán giáp cốt lừa gạt, tưởng rằng là ở Thang Âm hay Vệ Huy thuộc Hà Nam. La Chấn Ngọc hiểu rõ tầm quan trọng của việc khảo sát hiện trường, con rể của ông, cũng chính là con trai của Lưu Ngạc - Lưu Đại Khôn từng đến vùng Thang Âm tìm kiếm nhưng không tìm thấy. Do đó, vấn đề này vẫn luôn canh cánh trong lòng La Chấn Ngọc. Cuối cùng, vào năm 1908, một thương nhân cổ vật họ Phạm lỡ lời trong lúc say rượu, đã giúp La Chấn Ngọc biết được một địa danh quan trọng: cách thành Anyang phía tây bắc năm dặm, một ngôi làng bên sông Hoàn Hà, tên là Tiểu Truân.

Bên bờ Hoàn Hà ư? La Chấn Ngọc như có điều ngộ ra. Ông phái em trai và người thân bạn bè khác đến Tiểu Truân xem thử, đây là chặng đường cực kỳ khó khăn có thể đi qua trong điều kiện giao thông lúc bấy giờ. Sau khi đến nơi nhìn thấy, quả thực vô cùng kinh ngạc.

Dân làng địa phương biết giáp cốt có thể bán được giá rất cao, mấy chục hộ dân đều đang cuồng nhiệt đào bới. Anh em già trẻ trong cùng một nhà cũng tự đào phần nấy, không thông báo cho nhau; đợi đến khi thương nhân cổ vật đến, mọi người khiêng từng sọt từng giỏ đến, vô cùng náo nhiệt. Để tranh giành giáp cốt, dân làng thường xuyên xảy ra hỗn chiến. Ngay cả trẻ con trong làng cũng biết đi lục lọi trong những đống bùn đất mà người lớn đã nhặt qua, giáp cốt chúng lấy ra tuy phần lớn đã vỡ vụn nhưng cũng có không ít phẩm chất hảo hạng. Em trai của La Chấn Ngọc chỉ trong vòng một ngày đã có thể thu mua được hơn một nghìn mảnh.

La Chấn Ngọc nhận được hơn một vạn mảnh giáp cốt do em trai thu mua về, vô cùng mừng rỡ, bởi vì đã tìm được địa điểm xuất thổ chính xác, lại có được ngần ấy bảo vật để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn. Thế nhưng, ông lại thực sự cảm thấy căng thẳng.

Một suy luận đơn giản nhất là: Việc dân làng đào bới điên cuồng tuy tốt hơn việc trước đây coi giáp cốt là dược liệu đem đi nghiền thành bột, ít nhất đã giữ lại được giáp cốt văn cho đời sau, nhưng tại sao ở thôn Tiểu Truân lại chôn vùi nhiều giáp cốt đến thế? Lưu Ngạc đã phán đoán giáp cốt văn hẳn là "văn tự dao bút của người Ân", vậy thì, Tiểu Truân liệu có phải là một kinh đô nào đó của thời Ân không?

Nếu phải, thì việc dân làng đào bới điên cuồng chắc chắn là đã phá hoại nghiêm trọng một di tích.

Đây là suy luận đơn giản nhất, ngay cả học giả bình thường cũng có thể nghĩ ra. La Chấn Ngọc không phải là học giả bình thường, từ vị trí địa lý của thôn Tiểu Truân giáp sát sông Hoàn Hà, ông lập tức liên tưởng đến câu nói "Hoàn thủy nam Ân hư thượng" trong "Sử ký", cũng như câu nói "Tướng Châu An Dương vốn là nơi Bàn Canh đóng đô, tức là Bắc Trủng Ân Hư" trong "Sử ký chính nghĩa" của người đời Đường.

Dựa vào số lượng lớn giáp cốt trong tay để tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng, ông nhanh chóng đi đến kết luận: Tiểu Truân chính là Ân Hư - di tích kinh đô ổn định nhất và lâu dài nhất vào thời kỳ cuối nhà Thương, mà giáp cốt bói từ chính là vật của vương thất nhà Thương.

Tại sao việc xác định Ân Hư lại quan trọng đến vậy? Bởi vì đây không chỉ là việc xác định cái tên lịch sử hàng đầu "Ân Hư" vẫn luôn được nhắc đến từ đời Hán cho đến nay, mà còn là việc xác định những dấu tích lịch sử vĩ đại mà mờ ảo của nhà Thương. Từ đó về sau, nhà Hạ, Thương, Tây Chu vốn vẫn luôn bồng bềnh như thần thoại, khiến giới sử học "phái nghi cổ" liên tục lắc đầu, bắt đầu bước từ truyền thuyết sang sử sách đáng tin cậy.

Đây là nơi buộc phải trực tiếp đặt chân đến. Tháng 3 năm 1915, La Chấn Ngọc cuối cùng cũng đích thân đến thôn Tiểu Truân, An Dương. Đến An Dương vào buổi sáng, trước tiên ông nhận phòng trọ tại một quán khách tên là "Nhân Hòa Xương Trách", ăn sáng xong liền thuê một chiếc xe đến Tiểu Truân. Ông mặc áo mã quản, đeo kính gọng tròn, trông có vẻ hơi mệt mỏi, năm đó ông 49 tuổi. Đây là lần đầu tiên học giả cấp cao Trung Quốc xuất hiện tại hiện trường Ân Hư.

Trong lịch sử văn hóa có những bước chân tưởng chừng bình thường nhưng lại được thời gian ghi nhớ, bước chân đến Ân Hư ngày hôm đó của La Chấn Ngọc chính là như vậy. Đây có lẽ là điểm khởi đầu của ngành khảo cổ học cận đại Trung Quốc. Hình ảnh tập thể của các học giả truyền thống Trung Quốc chuyên vùi đầu vào sách vở, nghiền ngẫm câu chữ hay dạo chơi chung chung, bàn luận ý vị sâu xa đã có một sự đột phá then chốt.

Giữa bụi bặm cỏ dại của Tiểu Truân đã đạp ra được một con đường, trên nền tảng kim thạch học truyền thống, thời đại khảo sát điền dã, thăm dò hiện trường, giải mã phế tích, lấy thực chứng để ngôn luận chính thức bắt đầu.

Năm

Trung Quốc nửa đầu thế kỷ XX xuất hiện ba tầng hình ảnh khó tưởng tượng nhất: xã hội hiện thực bị giày vò ngày càng hỗn loạn, văn hóa cổ đại được khai quật ngày càng huy hoàng, các học giả văn hóa được tôi luyện ngày càng uyên bác. La Chấn Ngọc đã đủ lợi hại rồi, chẳng bao lâu sau bên cạnh ông lại xuất hiện một học giả kiệt xuất hơn nữa - Vương Quốc Vi.

Vương Quốc Vi kém La Chấn Ngọc mười một tuổi, thời trẻ từng nhận được không ít sự giúp đỡ của La Chấn Ngọc, mối quan hệ giữa hai người rất khăng khít. So sánh mà nói, nghiên cứu của La Chấn Ngọc về giáp cốt văn vẫn nghiêng về giải đọc văn tự nhiều hơn, còn đến thời Vương Quốc Vi, thì đã dùng giáp cốt văn làm công cụ để nghiên cứu lịch sử thời nhà Thương.

Năm 1917, Vương Quốc Vi công bố bài "Ân bói từ trung sở kiến tiên công tiên vương khảo", xác thực thế hệ nhà Thương được ghi chép trong "Sử ký - Ân bản kỷ" vốn chưa từng được xác thực trước đó, đồng thời cũng chỉ ra một số sai sót trong đó. Ngoài ra, ông còn căn cứ vào giáp cốt văn để nghiên cứu các điển chế chế độ của thời nhà Thương.

Nghiên cứu của Vương Quốc Vi thể hiện đỉnh cao của nghiên cứu giáp cốt văn tính cho đến thời đại của ông.

Vương Quốc Vi là học giả Trung Quốc có học vấn uyên thâm nhất và có tính sáng kiến nhất nửa đầu thế kỷ XX, ngoài giáp cốt văn ra, ông còn cống hiến những thành tựu mang tính khai thiên lập địa trong các lĩnh vực rộng lớn như Lưu sa trụ giản, Đôn Hoàng học, Ngụy thạch kinh, Kim văn, lịch sử Mông Cổ, lịch sử nhà Nguyên, lịch sử kịch khúc... Việc ông can thiệp vào nghiên cứu giáp cốt văn đánh dấu sự lựa chọn trang trọng của lương tri văn hóa tối cao Trung Quốc. Hơn nữa nhờ có ông, tân sử học Trung Quốc mới được đặt nền móng từ từng mảnh giáp cốt.

Thế nhưng, điều vạn phần không ngờ tới là, Vương Quốc Vi vẫn tiếp tục giẫm lên số phận bi thảm khó trốn thoát của các bậc thầy giáp cốt văn, cũng bước lên con đường tự sát. Chẳng lẽ sát khí mang theo từ sự xuất thổ chấn động địa cầu của giáp cốt văn vẫn chưa tiêu tan hay sao?

Cái chết của Vương Quốc Vi không bi tráng như việc Vương Dinh Vinh tuẫn quốc lẫm liệt, cũng không uất ức như cái chết đột ngột của Lưu Ngạc ở Tân Cương. Nguyên nhân cái chết của ông vẫn luôn mập mờ không rõ, từ trước đến nay có rất nhiều lời bàn tán. Tôi nghĩ, nguyên nhân cốt lõi là, ông gánh vác lịch sử văn hóa quá nặng nề, lại đối mặt với cục diện thời cục thay đổi quá xa lạ. Hai nguồn lực va chạm mạnh mẽ, ông vừa vặn bị kẹp ở giữa. Trong đó, giáp cốt văn không phải là nguyên nhân trực tiếp đẩy ông đến cái chết, nhưng nhất định đã gia tăng thêm trọng lượng trong quá trình đè bẹp ông.

Thứ sức nặng không thể gánh nổi này thực ra cũng đã đè bẹp một bậc thầy giáp cốt văn khác là La Chấn Ngọc. La Chấn Ngọc không tự sát, nhưng lại mang tâm lý của di dân triều Thanh mưu cầu phục tích, sau đó còn nhậm chức trong Mãn Châu Quốc bù nhìn, biến thành một hình thức tự hủy hoại tinh thần khác.

Trong giáp cốt văn có một loại gọi là "trinh nhân", là sử quan chủ trì việc bói toán thời nhà Thương. Tôi cảm thấy các học giả như Vương Dinh Vinh, Lưu Ngạc, La Chấn Ngọc, Vương Quốc Vi đều có thể xem là những "trinh nhân" hiện đại, họ tìm kiếm, họ ghi chép, họ giải mã, họ "bói toán". Chỉ là, nghề nghiệp của họ quá đặc biệt, số phận của họ quá kỳ lạ.

Vào năm thứ hai sau khi Vương Quốc Vi tự sát, tình hình đã có sự thay đổi. Có lẽ, là linh hồn nơi chín suối của Vương Quốc Vi đang thực hiện tâm nguyện? Năm 1928, "Viện nghiên cứu Trung ương" vừa mới thành lập đã phái học sinh của Vương Quốc Vi là Đổng Tác Tân đến Ân Hư điều tra, phát hiện văn vật ở đó vẫn chưa được khai quật hết, di tích cổ ở đó đang rất cần được bảo vệ. Thế là Viện nghiên cứu quyết định dùng sức mạnh của cơ quan học thuật quốc gia để khai quật khoa học di tích Ân Hư. Viện trưởng Thái Nguyên Bồi còn gửi thư cho Phùng Ngọc Tường - vị tướng quân trấn thủ Hà Nam, phái quân đội đến đồn trú tại Tiểu Truân.

Từ đó bắt đầu, Viện nghiên cứu đã tiến hành liên tiếp mười lăm đợt công tác khai quật khoa học quy mô lớn đối với di tích Ân Hư. Đổng Tác Tân, cùng với Lý Tế, Lương Tư Vĩnh và các chuyên gia có tầm vóc học thuật quốc tế tham gia sau đó đã cùng nhau tổ chức, khiến cho tất cả các cuộc khai quật đều duy trì được ghi chép vị trí hố mỏ rõ ràng, đồng thời tiến hành khảo sát có hệ thống đối với các di tích, tầng văn hóa và nhiều loại đồ vật xung quanh giáp cốt, nâng cao giá trị học thuật của việc khai quật Ân Hư lên mức tối đa.

Ngày 12 tháng 6 năm 1936, trong đợt khai quật thứ mười ba đã phát hiện ra hầm chứa giáp cốt YH127, đây là thu hoạch lớn kỳ diệu nhất, bởi vì nơi đây chính là một kho lưu trữ hoàng gia do cổ đại để lại.

Sau đó, cùng với việc phát hiện ra Tư Mẫu Mậu đại phương đỉnh và khai quật mộ Phụ Hảo, nhà Thương dường như ngày càng trở nên hoàn chỉnh hơn, cụ thể hơn, tươi đẹp hơn và cũng vĩ đại hơn.

Nghiên cứu giáp cốt văn vẫn không ngừng tiến về phía trước. Ví dụ như, Đổng Tác Tân đã có cống hiến không nhỏ cho phương pháp định niên đại giáp cốt văn, sau đó di cư sang Đài Loan; Quách Mạt Nhược kém ông ba tuổi trong thời gian lưu vong ở Nhật Bản cũng tâm huyết nghiên cứu giáp cốt văn và lịch sử nhà Thương, sau đó ở đại lục lại cùng với Hồ Hậu Tuyên chủ biên "Giáp cốt văn hợp tập" thu thập bốn vạn miếng giáp cốt, vô cùng đồ sộ.

Nhìn từ góc độ này, năm 1928 có vẻ là một ranh giới, các nhà nghiên cứu giáp cốt văn không còn liên tục gặp phải vận rủi nữa. Thế nhưng, vẫn có một ghi chép khai quật khiến tôi đọc lên vô cùng kinh ngạc, đó chính là sau khi hầm chứa giáp cốt lớn nhất YH127 được phát hiện, đóng thùng vận chuyển đến nhà ga xe lửa An Dương, đột nhiên xuất hiện sự thay đổi thời tiết kỳ lạ. Hoàn Hà bên cạnh Ân Hư bất ngờ phun mây khí hướng lên trời, mây khí biến thành mây trắng, rồi lập tức biến thành mây đen, và nhanh chóng di chuyển từ bầu trời Ân Hư đến bầu trời nhà ga xe lửa, tức thì sấm chớp giật liên hồi, mưa như trút nước, trút xối xả lên những thùng gỗ lớn đựng giáp cốt.

Còn gì rõ ràng hơn thế nữa, ông trời đang tiễn đưa nó, tiễn đưa một cách hào khí ngất trời, lại đượm buồn man mác.

Sáu

Giờ phút này tôi đang đứng bên bờ Hoàn Hà, nhìn dòng nước sâu thẳm không một gợn sóng, liền quay đầu nói với những người bạn của tôi ở An Dương là Triệu Vi và Lưu Hiểu Đình: "Những chuyện có liên quan đến giáp cốt văn, luôn luôn kỳ diệu."

Dựa vào giáp cốt văn và Ân Hư, chúng ta cuối cùng cũng hiểu rõ hơn về thời kỳ Thương Ân, có lẽ còn rõ hơn cả Khổng Tử, bởi vì đúng như tiên sinh Lương Khải Siêu từng nói, Khổng Tử chưa từng nhìn thấy giáp cốt văn. Khổng Tử từng muốn làm rõ chế độ đời Thương Ân, nhưng vì tư liệu văn hiến thiếu thốn nên đành bất lực thở dài. Thế nhưng ông rõ ràng vô cùng khao khát thời nhà Thương, mấy bài "Thương tụng" được đưa vào "Kinh Thi" đến nay đọc lại vẫn khiến tất cả người Trung Quốc cảm thấy say sưa quên mình. Tương truyền Khổng Tử có khả năng từng tự tay san sửa "Kinh Thi", nếu không có, thì cũng hẳn là vô cùng quen thuộc, bởi vì đây chính là âm thanh của mảnh đất thời đại đó.

Tôi không biết làm thế nào để dùng ngôn ngữ hiện đại dịch những câu thơ cổ kính mà hùng vĩ trong "Thương tụng" ấy, chỉ có thể thỉnh thoảng đọc lên một số câu ngắt quãng trong đó:

Thiên mệnh huyền điểu, giáng nhi sinh Thương, trạch Ân thổ mang mang.

Cổ đế mệnh Vũ Thang, chính vực bỉ tứ phương.

---❊ ❖ ❊---

Thương ấp dực dực, tứ phương chi cực.

Hách hách quyết thanh, trạc trạc quyết linh.

Thọ khảo thả ninh, dĩ bảo ngã hậu sinh.

Vẫn còn rất nhiều câu chữ nhiệt huyết sôi trào hơn nữa. Ý nghĩa cơ bản là: Thương Ân, chịu mệnh trời, mở mang bờ cõi, làm gương mẫu, lập chuẩn tắc, chính giáo lẫy lừng, uy linh hiển hách, chỉ mong trường thọ và an yên, phù hộ cho muôn đời con cháu chúng ta...

Những câu thơ này hầu như sưởi ấm vĩnh viễn lịch sử Trung Quốc trong mưa gió bão bùng, nhắc nhở từng thế hệ con cháu chớ nên nản lòng nhụt chí, mà nên nhìn lại sự huy hoàng mà dân tộc này từng tạo dựng. Sự phát hiện của giáp cốt văn và Ân Hư đã khiến những câu thơ hoa mỹ này rơi xuống thực tế, khiến tất cả những người Trung Quốc từng từ chối đón nhận sự an ủi từ thời viễn cổ không thể không mở to hai mắt nhìn lại một lần nữa.

Giáp cốt văn và Ân Hư nói cho mọi người biết rằng, tiên hiền Hoa Hạ đã thông qua từng lần bói toán để chạm tay vào đỉnh cao huy hoàng. Thế nên, sự huy hoàng vốn là ý trời, sau đó mới là sức người.

Giáp cốt văn và Ân Hư nói cho mọi người biết rằng, dân tộc Hoa Hạ không chỉ sớm sở hữu ba yếu tố cơ bản đánh dấu sự trưởng thành của văn minh là đô thị, văn tự, đồ đồng, mà còn sớm thiết lập hệ thống quan sát thiên văn tinh vi nhất trong tất cả các nền văn minh cổ đại của nhân loại, sáng tạo ra lịch âm dương ưu việt nhất, sở hữu kỹ thuật tuyển khai luyện gang khoáng sản và kỹ thuật trồng trọt quản lý hoa màu tiên tiến nhất, thiết lập các cơ quan giáo dục hoàn chỉnh nhất.

Giáp cốt văn và Ân Hư nói cho mọi người biết rằng, y học thời nhà Thương đã khá phát triển, phàm là các phân ngành y học như ngoại khoa, nội khoa, phụ sản khoa, nhi khoa, ngũ quan khoa đều đã mơ hồ hình thành, đồng thời cũng có ghi chép về châm cứu và sâu răng.

Giáp cốt văn và Ân Hư nói cho mọi người biết rằng, trình độ thẩm mỹ của tiên nhân nhà Thương đã đạt đến độ đỉnh cao chói lọi, thần vận và hoa văn của Tư Mẫu Mậu đại phương đỉnh, sự phong phú và tinh xảo của ngọc khí trong mộ Phụ Hảo, cho đến tận ngày nay vẫn khiến các nghệ sĩ đương đại trong và ngoài nước phải trầm trồ thán phục, coi đó là kỳ tích không thể lặp lại của nhân loại.

Đương nhiên, giáp cốt văn và Ân Hư còn nói cho mọi người biết rằng, văn hóa nhà Thương có mối quan hệ uyên nguyên như thế nào với văn hóa thời kỳ đồ đá mới, cũng như môi trường tự nhiên, nhiệt độ thời tiết và động vật hoang dã ở vùng Trung Nguyên lúc bấy giờ.

Một triều đại như thế lại đột ngột xuất hiện rõ mồn một như vậy giữa bối cảnh thế kỷ XX binh đao khói lửa, đất nước lâm nguy, ý nghĩa tinh thần là điều không cần phải nói cũng tự hiểu.

Bảy

Điều này lại khiến tôi liên tưởng đến châu Âu. Việc phát hiện ra số lượng lớn các tác phẩm điêu khắc Hy Lạp cổ đại, thứ được mở ra không phải là thời cổ đại, mà là thời hiện đại. Sự khỏe khoắn và xinh đẹp của Venus, tiếng thở dài và sự giãy giụa của Laocoön từ mấy ngàn năm trước, vậy mà lại thúc đẩy sự khởi thông tinh thần hiện đại.

Trong số các bậc thầy thời kỳ đầu nghiên cứu giáp cốt văn và Ân Hư, Vương Quốc Vi khá quen thuộc với văn hóa tinh thần của nước Đức, ông biết các nhân vật như Winckelmann, Lessing trong phong trào Khai sáng thế kỷ XVIII đã hoàn thành việc lý giải hiện đại trong quá trình khảo cứu nghệ thuật Hy Lạp cổ đại như thế nào, thiết lập nên sự tôn nghiêm mỹ học vượt thời gian và không gian, từ đó trực tiếp gọi ra Kant, Goethe, Schiller, Hegel, Beethoven. Trước họ, nước Đức hỗn loạn và lạc hậu biết bao; sau họ, văn hóa Đức rạng ngời muôn thuở. Một bước ngoặt then chốt trong khoảng thời gian này, chính là cung cấp sự lý giải hiện đại cho văn hóa cổ đại.

Vương Quốc Vi và những người như ông chính là đang làm những việc như vậy. Văn hóa cổ đại mà họ dựa vào hoàn toàn không thua kém gì Hy Lạp cổ đại, năng lực học thuật mà họ sở hữu hoàn toàn không thấp hơn Winckelmann, Lessing. Chỉ tiếc là, họ không thể hoàn thành mọi việc.

Thế là, xuất hiện sứ mệnh của thế hệ chúng ta.

Vậy thì lên đường thôi. Có thể vứt bỏ bất cứ thứ gì, dấn thân đi hết một chặng đường dài.

Bói toán Ân Hư, bói toán Trung Hoa, "trinh nhân" lần này chính là chúng ta.

— Thôi được, đến đây, tôi đã dùng ba bài viết "Phỏng đoán Hoàng Đế", "Cảm ngộ thần thoại", "Phát hiện Ân Hư" để giải thích bản thân đã lén nhìn thấy thời khắc hừng đông của lịch sử văn hóa Trung Quốc như thế nào giữa khung cảnh hỗn độn.

Hình ảnh vào thời khắc hừng đông luôn mơ hồ không rõ ràng, chúng ta chỉ có thể dò dẫm một bước cao một bước thấp một cách ngẫu nhiên. Cuối cùng cũng có Ân Hư, có văn tự, có tất cả những gì gắn liền với văn tự, khung cảnh rạng đông càng nhìn càng rõ ràng. Những cuộc trò chuyện của chúng ta từ nay về sau, sẽ mang một diện mạo hoàn toàn khác.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.