Trung Quốc Văn Mạch

Lượt đọc: 83 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương X: Bản Mẫu Lịch Sử

❊ ❊ ❊

Một

Trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, người khiến tôi khâm phục thì nhiều, mà người làm tôi xúc động lại rất ít.

Điều này rất tự nhiên. Bởi vì văn nhân rốt cuộc cũng chỉ là văn nhân, họ có lẽ viết ra không ít câu chuyện làm cảm động người khác, nhưng bản thân họ lại hiếm khi có được những câu chuyện như thế.

Đôi khi dường như cũng xuất hiện những câu chuyện kiểu này, ví dụ như có văn nhân xả thân cứu giá, có văn nhân thà chết không hàng, nhưng điều này lại không mấy liên quan đến lịch sử văn hóa. Khi làm những việc ấy, họ mang thân phận của một bề tôi trung thành hoặc tướng giữ thành để bước vào lịch sử chính trị và lịch sử quân sự, chứ không phải với tư cách văn nhân để thúc đẩy lịch sử văn hóa.

Những nhân vật vừa có thể lay động lịch sử văn hóa Trung Quốc, vừa có thể làm cay giọt lệ của chúng ta đang ở đâu?

Còn có nhân vật nào khiến chúng ta xúc động hơn Mặc Tử và Khuất Nguyên nữa không?

Có. Ông tên là Tư Mã Thiên.

Tôi từ lâu đã khẳng định ông là nhân vật đầu tiên trong lịch sử văn hóa Trung Quốc khiến tôi xúc động, nhưng vẫn luôn khó lòng diễn tả được mức độ xúc động ấy.

Các bạn độc giả có lẽ sẽ nghĩ rằng, điểm cảm động ở Tư Mã Thiên chẳng phải là việc dùng một thân thể tàn tật vì hình phạt để viết nên một tác phẩm lịch sử quan trọng đó sao, sao lại cứ khó diễn tả mãi thế?

Đúng vậy, nội dung tôi muốn biểu đạt còn sâu sắc và gai góc hơn nhiều.

Hai

Hôm nay tôi muốn mạo hiểm một lần, thử biểu đạt điểm cảm động gai góc nhất ở Tư Mã Thiên, hơn nữa lại cố tình đặt nó ở ngay phần đầu của bài viết này, phạm vào điều đại kỵ trong việc viết văn là không thể "từ sâu đến nông", mong các bạn độc giả hãy kiên nhẫn chịu khó đọc qua.

Tôi cho rằng điểm cảm động gai góc nhất ở Tư Mã Thiên bao gồm ba tầng ý nghĩa sau đây.

Thứ nhất, Tư Mã Thiên đã khiến tất cả người Trung Quốc trở thành "người trong lịch sử".

Bộ "Sử ký" với hình thái "bản mẫu" không thể vượt qua đã gây tiếng vang lớn, trở thành khuôn mẫu chung được các thế hệ làm sử đời sau vô thức noi theo. Do đó, chính ông đã giúp cho dân tộc Trung Hoa hình thành nên hứng thú lịch sử, sứ mệnh lịch sử và quy phạm lịch sử nhất quán từ trước ra sau, trở thành một cộng đồng văn minh hiếm hoi trên thế giới luôn có sử sách để noi theo và lấy sử sách làm chỗ đứng cho cuộc đời.

Nói theo một nghĩa nào đó, bản thân ông tuy đã qua đời từ lâu, nhưng lại là tổng đạo diễn của toàn bộ "Nhị thập ngũ sử". Ông đã biến hai ngàn năm lịch sử trên trang giấy và trên đại địa thành cùng một bộ thông sử.

Ông khiến cho tất cả vương hầu tướng tướng, du hiệp thương gia, văn nhân mặc khách của mọi triều đại khi làm bất cứ việc lớn nào cũng đều nghĩ đến ngòi bút lịch sử khổng lồ lơ lửng sau lưng họ. Ông đã trao cho lịch sử rối ren một ánh nhìn ổn định về công nghĩa, khiến lịch sử ấy không bị đứt đoạn đột ngột giữa một mảng âm thanh hỗn tạp. Văn minh Trung Hoa có thể độc lập kéo dài đến tận ngày nay, có thể thản nhiên xem những chuyện cách đây hàng ngàn hàng vạn năm như ngày hôm qua và ngày hôm kia trên cuốn lịch nhà mình, tất cả đều có liên quan đến ông. Tư Mã Thiên đã trao cho mỗi người Trung Quốc một "gia phả" hữu hình lẫn vô hình, khiến phần lớn trong số họ không trở thành những đứa con bất hiếu đến cùng cực.

Thứ hai, Tư Mã Thiên lấy truyện ký nhân vật làm xương sống để viết sử, mở đầu cho một nền lịch sử Trung Quốc "lấy con người làm gốc".

Đây lại là một kỳ tích kinh ngạc nữa, bởi vì lịch sử lưu giữ của các dân tộc khác phần lớn lấy niên đại sự kiện làm manh mối, các nhân vật khác nhau chỉ là những người tham gia vào từng sự kiện, gọi thì đến, đuổi thì đi. Tư Mã Thiên đã đảo ngược điều đó lại, lấy từng cá nhân nhân vật làm cốt lõi, khiến các sự kiện khác nhau phải gọi thì đến, đuổi thì đi.

Đây không phải là một phương pháp uy quyền tạm thời, mà là một quan niệm táo bạo. Trong cái nhìn của ông, tất cả các sự kiện đều trôi đi như nước chảy qua sông, chỉ có thiện ác, khí độ, tính cách của nhân vật là mãi mãi có thể được các thế hệ đời sau trải nghiệm. Lịch sử thực sự sâu sắc không phải là sự học thuộc lòng máy móc của thầy trò khác thời đại đối với các sự kiện đã qua, mà là sự thấu hiểu, tiếp nhận, lựa chọn, truyền tụng của người sau đối với người trước. Những nhân vật nổi tiếng được Tư Mã Thiên miêu tả trong "Sử ký" từ lâu đã trở thành "nguyên mẫu" của văn hóa Trung Quốc, tức là một mô hình tinh thần và mô hình hành vi, sinh sôi nảy nở lâu dài, cuối cùng cấu thành nên những bộ phận quan trọng trong nhân cách tập thể của người Trung Quốc.

Sự lựa chọn coi nhẹ sự việc mà coi trọng con người này đã giúp nhà sử học Tư Mã Thiên có thể "nghiên cứu mối quan hệ giữa trời và người, thông hiểu sự biến đổi từ xưa đến nay, thành một lời của một nhà", từ đó đồng thời mang sẵn tố chất của một nhà văn và một nhà triết học.

Thế nhưng quan trọng hơn cả, sự lựa chọn của ông đã giúp cho lịch sử Trung Quốc vốn dĩ nên nguội lạnh từ lâu vẫn luôn giữ được thân nhiệt và hơi thở của con người. Chế độ chuyên chế độc tài lâu đời của Trung Quốc thường áp dụng một loạt chính sách bạo ngược phản nhân tính, nhưng một khi đã có quan niệm lịch sử lấy con người làm gốc, phạm vi và khoảng thời gian thực thi sự bạo ngược ấy đều đã chịu sự kiềm chế. Thường luồng nhân nghĩa, tình cảm và phẩm giá con người mãi mãi nắm giữ một cách chân thực từng ngõ ngách phố xá, từng ánh đèn vạn nhà.

Thứ ba, khi ông đang dựng xây truyền thống "lấy sử lập thân", "lấy con người làm gốc" cho văn hóa Trung Quốc, bản thân ông lại đang phải gánh chịu nỗi nhục nhã kỳ lạ khó mà mở lời.

Ông vì mấy câu nói bình thường mà vướng tội, chịu hình phạt "cung hình", còn gọi là "hủ hình", tức là bị cắt bỏ cơ quan sinh dục. Lúc đó ông ba mươi tám tuổi, với tư cách là một đại học giả tuổi tác không còn trẻ, đối mặt với tai họa kỳ quái nhường này, hầu như không ngoại lệ ai cũng sẽ chọn cái chết, nhưng chính ngay thời điểm sinh tử then chốt này, sự mâu thuẫn đầy nghịch lý khiến tôi vô cùng xúc động đã xuất hiện —

Ông quyết định sống tiếp, dùng những năm tháng phi nhân tính của mình để mài giũa lịch sử lấy con người làm gốc, dùng những ngày tháng còn lại của mình để chải chuốt cho muôn đời sau của Trung Quốc, dùng sự nhục nhã nặng nề của mình để đổi lấy tôn nghiêm đáng có của dân tộc, dùng thân thể đã mất đi tính nam của mình để hiệu triệu ngọn gió lớn mạnh mẽ, kiên cường của đại địa.

Hơn nữa, ông đã làm được từng điều một, ông đã làm được tất cả, ông thực sự đã làm được!

Tôi nghĩ, nói đến đây, tôi đã phác họa phớt qua điểm cảm động gai góc nhất ở Tư Mã Thiên. Thế nhưng, vẫn không thể trút hết toàn bộ cảm xúc của mình.

Tôi thường đứng thẫn thờ một thời gian dài trước chiếc tủ sách "Nhị thập ngũ sử" chiếm gần kín cả một bức tường. Nghĩ đến các thế hệ binh đao sắt ngựa, vương đạo bá đạo, tiếng chợ giọng đồng đều tụ hội về đây, mà điểm xuất phát của toàn bộ sự tụ hội ấy lại chính là một người đàn ông như vậy: khuôn mặt tái nhợt, ánh mắt mất đi vẻ rạng ngời.

Tôi còn hay bỗng nhiên lơ đễnh trước những lời hào hùng, những niềm khát khao đầy nhiệt huyết về văn hóa Trung Hoa, mà nghĩ đến nguồn gốc của luồng khí thế cuồn cuộn ấy — thời nhà Hán, những đêm dài cô độc lạnh đến thấu xương.

Văn nhân Trung Quốc các đời tuy đều đọc thuộc làu "Sử ký", nhưng tĩnh tâm ngẫm lại sẽ cảm thấy hổ thẹn không dám đối mặt với ngọn đèn dầu không biết đã tắt vào năm tháng nào sau năm chín mươi trước Công nguyên.

Tôi đã vô số lần đến Tây An, rất nhiều độc giả bản địa vẫn luôn hỏi tôi tại sao không viết một bài văn về Tây An, tôi luôn ấp úng khó nói, trong lòng lại vẫn luôn nghĩ đến Long Môn bên bờ Hoàng Hò cuồn cuộn ở phía xa Đông Bắc Tây An — nơi sinh ra Tư Mã Thiên. Tôi biết ở Hàn Thành còn có mộ và từ đường của Tư Mã Thiên, nhưng lại không thể đoán trước liệu có quá nhiều dấu vết hiện đại khiến mình thất vọng hay không, nên không dám đi. Nhưng tôi nghĩ, sớm muộn gì cũng sẽ đi một lần.

Năm đó sau khi trải qua chuyến khảo sát mạo hiểm hàng vạn cây số ở các nền văn minh nhân loại khác trở về, tôi từng đến trước lăng Hoàng Đế để tế bái, bài văn tế do tôi soạn có câu "Bẩm cáo thủy tổ, chuyến đi này đã thành". Ngày hôm sau đi qua thác Hồ Khẩu, băng giá trên dưới Hoàng Hà phẳng như đá mài, tôi cũng hướng về Long Môn ở phía nam mà mặc niệm những câu trong bài văn tế. Bởi vì trong mắt tôi, Hoàng Đế cần được bẩm cáo, Tư Mã Thiên cũng cần được bẩm cáo.

Thậm chí có thể nói, Tư Mã Thiên chính là một "vị vua văn hóa" không ai sánh bằng. Sự cung kính của tôi dành cho ông, vượt xa những vị hoàng đế thời Tần Hán và Đại Đường.

Ba

Trước khi gánh chịu nỗi nhục nhã kỳ lạ, Tư Mã Thiên là một nhà lữ hành kiệt xuất với vạn dặm gió bụi.

Uyên bác, khỏe mạnh, tò mò, hiếu học, tận dụng mọi cơ hội để khảo sát thiên hạ, ông chắc chắn là học giả trẻ tuổi đi xa nhất thời bấy giờ. Ông dùng đôi chân và đôi mắt của mình để làm sống lại những điển tịch từng đọc trước đây. Ông dùng không gian khoáng đạt để bắt trọn thời gian xa xôi. Ông dùng tuyến đường du ngoạn cá nhân làm chiếc lưới vó, vớt lên những bảo vật ngàn năm chìm dưới đáy nước.

Do đó, muốn đọc bộ "Sử ký" dưới ngòi bút của ông, trước tiên phải đọc chặng đường dưới đôi chân của ông.

Chặng đường, vừa đo lường thể chất văn hóa, vừa đo lường trách nhiệm văn hóa.

Tư Mã Thiên bắt đầu những chuyến ngao du từ năm hai mươi tuổi, năm đó hẳn là năm 115 trước Công nguyên. Ở đây xuất hiện một tranh chấp học thuật: rốt cuộc ông sinh vào năm nào? Về vấn đề này, trước đây vẫn luôn có những cái nhìn khác nhau. Đến thời cận đại, các đại học giả Vương Quốc Vi và Lương Khải Siêu đều chủ trương ông sinh năm 145 trước Công nguyên, cho đến nay vẫn được noi theo. Nhưng cũng có những nhà nghiên cứu hiện đại như Lý Trường Chi, Triệu Quang Hiền v.v... cho rằng nên lùi lại mười năm, tức là năm 135 trước Công nguyên. Tôi đã đối chiếu kỹ lưỡng các khảo chứng khác nhau, quyết định từ bỏ kết luận của Vương Quốc Vi và Lương Khải Siêu, tán thành ý kiến thứ hai.

Trong chuyến ngao du bắt đầu từ năm hai mươi tuổi, Tư Mã Thiên đã đi đến những đâu? Để độc giả thuận tiện, tôi tạm thời dùng tên địa danh hiện nay để chỉnh lý và sắp xếp lại —

Xuất phát từ Tây An, qua Đan Phượng (Thiểm Tây), Nam Dương (Hà Nam), Giang Lăng (Hồ Bắc), đến Trường Sa (Hồ Nam), rồi đi về phía bắc thăm sông Mịch Lơ nơi Khuất Nguyên trầm mình.

Sau đó, dọc theo sông Tương đi về phía nam, đến Ninh Viễn (Hồ Nam) thăm núi Cửu Nghi. Lại qua sông Nguyên, đến sông Trường Giang rồi hướng về phía Đông, đến Cửu Giang (Giang Tây), leo núi Lư Sơn. Tiếp tục xuôi dòng Trường Giang về phía đông, đến Thiệu Hưng (Chiết Giang), thám hiểm huyệt mộ vua Đại Vũ.

Từ Chiết Giang đến Tô Châu (Giang Tô), ngắm Ngũ Hồ, rồi vượt sông đến Hoài Âm (Giang Tô), thăm đất cũ của Hàn Tín. Sau đó đi về phía bắc sang Sơn Đông, đến Khúc Phụ, cung kính tham quan di tích của Khổng Tử. Lại đến Lâm Trì thăm kinh đô nước Tề, đến Trâu Mạc Thành thăm núi Trâu Mạc Trạch, rồi đi về phía nam đến Đằng Châu tham quan thái ấp của Mạnh Thường Quân.

Tiếp tục đi về phía nam, đến Từ Châu, Bái Huyện, Phong Huyện (Giang Tô), cùng với Túc Châu (An Huy), thăm viếng rất nhiều đất cũ của cuộc khởi nghĩa Trần Sheng, Ngô Quảng và tranh chấp Sở Hán. Những nơi này thu hoạch lớn nhất, cảm xúc sâu sắc nhất, nhưng vì nơi nào cũng nghèo khó, dọc đường không yên bình, thường xuyên bị cản trở, bước đi vô cùng gian nan.

Sau khi thoát khỏi cảnh khốn đốn, đi đến Hoài Dương (Hà Nam), thăm đất cũ của Xuân Thân Quân. Lại đến Khai Phong (Hà Nam), thăm kinh đô nước Ngụy thời Chiến Quốc, rồi quay về Trường An.

Chuyến ngao du này tiêu tốn khoảng hơn hai năm trời. Chiếu theo điều kiện giao thông thời bấy giờ, có thể xem là nhanh. Chúng ta có thể tưởng tượng ra vẻ mặt của người thanh niên đầy khí phách hiên ngang ấy đang sải bước thật nhanh giữa những di tích lịch sử. Ông dùng sức lực tuổi trẻ để đuổi theo bước chân của tổ tiên, hoàn toàn không xem bất kỳ sự gian khổ nào ra gì. Đặc biệt là ở vùng đất cũ tranh chấp Sở Hán, đã gặp phải rất nhiều khó khăn, nhưng cũng vì tâm ở thời cổ đại mà vô cùng hứng thú. Từ toàn bộ tác phẩm sau này của ông, có thể phát hiện ra rằng, thứ mà ông hấp thụ từ mảnh đất cằn cỗi chính là hào khí ngút trời, gió lớn ngàn dặm.

Đây là thời đại của Hán Vũ Đế, sự kiêu dũng cường tráng là mốt chung của cả dân tộc. Vị học giả trẻ tuổi từ lúc sinh ra đã nghe thấy tiếng sóng dữ dội của Hoàng Hà này, hầu như dùng tâm thái của một kiếm khách vô địch để hoàn thành chuyến khảo sát văn hóa lần này. Từ tốc độ, bước chân và trạng thái hưng phấn của ông, cũng có thể suy đoán được sự lĩnh hội của ông đối với toàn bộ văn hóa Trung Hoa.

Sau chuyến ngao du này, ông có được một chức quan rất nhỏ — Lang trung, cần phải tùy giá Hán Vũ Đế đi tuần thú. Mặc dù đôi khi chẳng qua chỉ làm nhiệm vụ canh gác cho hoàng đế, hầu hạ xe giá, nhưng dẫu sao cũng coi như được tiếp cận hoàng đế, trong mắt người khác thì khá là vẻ vang. Còn điều khiến Tư Mã Thiên vui mừng là có thể nhân danh tùy giá để tiếp tục đi đây đi đó. Sau đó, triều đình vì muốn an trí các dân tộc thiểu số vùng Tây Nam nên cũng từng cử một vị quan trẻ tuổi khỏe mạnh như ông đi sứ, thế là ông lại đi được xa hơn.

Do đó, chúng ta cần phải tiếp tục sắp xếp lại hành trình của ông.

Năm hai mươi ba đến hai mươi tư tuổi, ông tùy giá Hán Vũ Đế đi tuần thú, đến Phượng Tường (Thiểm Tây), Hạ Huyện, Vạn Vinh (Sơn Tây), Huỳnh Dương, Lạc Dương (Hà Nam), Lũng Huyện (Thiểm Tây), Thanh Thuỷ (Cam Túc), Cố Nguyên (Ninh Hạ), quay về Cam Tuyền Sơn thuộc Thuần Hóa, Thiểm Tây.

Năm hai mươi lăm tuổi, ông đi sứ các vùng dân tộc thiểu số Tây Nam như Tứ Xuyên, Vân Nam.

Năm hai mươi sáu tuổi, ông vừa đi sứ Tây Nam trở về, lại tùy giá Hán Vũ Đế đi tuần thú núi Thái Sơn (Sơn Đông), Xương Lê, Lư Long (Hà Bắc), Ngũ Nguyên (Nội Mông).

Năm hai mươi bảy tuổi, lại đến Lai Châu (Sơn Đông), Bộc Dương (Hà Nam).

Năm hai mươi tám tuổi, ông thăng chức Thái sử lệnh, tùy giá Hán Vũ Đế đến Phượng Tường (Thiểm Tây), Cố Nguyên (Ninh Hạ), Trác Châu, Uất Huyện (Hà Bắc), Ninh Viễn (Hồ Nam), Tiềm Sơn, Hoàng Mai (Hồ Bắc), Tùng Dương (An Huy), Giao Nam (Sơn Đông), lại đến Thái Sơn.

Khi tôi sắp xếp những tuyến đường du lịch thời thanh niên này của Tư Mã Thiên, vừa tra cứu bảng địa danh cổ kim, vừa vẽ vời trên bản đồ, cuối cùng không khỏi kinh ngạc thốt lên rằng, ông thực sự đã đi qua hầu như tất cả mọi nơi có thể đặt chân tới vào thời bấy giờ. Thời kỳ đó, nhờ có tài năng kiệt xuất và chí hướng chấn hưng đất nước của Hán Vũ Đế, tình hình kinh tế và diện mạo xã hội các nơi đều có tiến triển lớn, cảm nhận dọc đường của Tư Mã Thiên đại khái là tốt; tất nhiên, cũng nhìn thấy rất nhiều vấn đề khác nhau mà sau này ông đã phê phán nghiêm khắc trong "Sử ký".

Đây là lúc mảnh đất của Hán Vũ Đế và ánh mắt của Tư Mã Thiên gặp gỡ, bên nào cũng ẩn chứa một vẻ hùng vĩ không cần nói cũng hiểu. Chỉ cần là đất đai của Hán Vũ Đế, bất kỳ nhà trí tuệ nào nhìn thấy cũng sẽ phấn chấn, huống chi là ánh mắt của Tư Mã Thiên; chỉ cần là ánh mắt của Tư Mã Thiên, bất kỳ bức tranh nào cũng sẽ trở nên sâu thẳm khoáng đạt, huống chi là đất đai của Hán Vũ Đế.

Tư Mã Thiên đã bắt đầu viết sách, đồng thời ông còn bận rộn quản lý và canh tân lịch pháp thiên văn. Còn Hán Vũ Đế thì bận rộn khai phá cương thổ Tây Bắc, liên tục chinh chiến với Hung Nô, toàn bộ triều đình bị cuốn đi bởi tiếng móng ngựa cuồn cuộn như sóng gầm thác đổ.

Chính trong không khí ấy, Tư Mã Thiên bước vào tuổi ba mươi bảy đầy bất cát của mình, tức là năm Thiên Hán thứ hai, năm 99 trước Công nguyên.

Bốn

Cuối cùng cũng phải nói đến sự kiện mà tôi vô cùng không muốn nhắc tới ấy.

Người khác đã nói qua rất nhiều lần, tôi muốn dùng cách của mình để nói, cố gắng vắn tắt một chút.

Đây là một câu chuyện bi thảm diễn ra trong thời đại của các anh hùng.

Hung Nô không nghi ngờ gì là mối đe dọa lớn nhất đối với nhà Hán, hai bên đánh đánh hòa hòa, khó mà có được lòng tin. Sau khi Hán Vũ Đế với khí phách hiên ngang lên nắm quyền, cảm thấy vô cùng nhục nhã trước chính sách từng bắt con gái nhà Hán gả cho Hung Nô để cầu hòa năm xưa, bèn liên tiếp xuất binh đánh Hung Nô và thường xuyên giành thắng lợi, đồng thời trong chiến tranh đã cho mọi người thấy được những vị tướng kiệt xuất là Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh. Hung Nô ngoài mặt trở nên thuần phục, nhưng rồi lại liên tiếp gây ra phiền phức. Hán Vũ Đế sao có thể dung thứ? Bèn phái tướng quân Lý Quảng Lợi dẫn đại quân kỵ binh đi chinh phạt Hung Nô. Lúc này lại xuất hiện một vị tướng quân tên là Lý Lăng, cháu nội của danh tướng lịch sử Lý Quảng, ông ta lớn tiếng tuyên bố chỉ cần năm ngàn bộ binh là có thể chiến thắng Hung Nô, và đã được Hán Vũ Đế chuẩn thuận. Lý Lăng xuất chiến hết lần này đến lần khác lấy ít thắng nhiều, chiến quả lẫy lừng, nhưng cuối cùng gặp phải vòng vây, sức địch không địch lại quần thể, đành bất đắc dĩ đầu hàng.

Hán Vũ Đế triệu tập các quan lại để bàn bạc về việc này, ai nấy đều dậu đổ bìm leo, trách mắng Lý Lăng. Khi hỏi đến Tư Mã Thiên, ông cho rằng chiến công của Lý Lăng đã vượt xa binh lực mà ông ta có thể huy động, ông ta đã đánh bại kẻ thù hết lần này đến lần khác, hiện tại chẳng qua chỉ vì rơi vào đường cùng mới có sự lựa chọn này. Dựa vào nhân phẩm đạo đức từ trước đến nay của Lý Lăng, tin rằng chẳng bao lâu nữa ông ta sẽ quay về để báo ơn triều đình nhà Hán.

Hán Vũ Đế vừa nghe liền nổi giận, cho rằng Tư Mã Thiên không những biện hộ cho tướng phản bội, mà còn ám chỉ lực lượng chủ lực của Lý Quảng Lợi kém cỏi, cho nên hạ lệnh xử tử Tư Mã Thiên.

Tại sao không được ám chỉ lực lượng chủ lực của Lý Quảng Lợi? Bởi vì em gái của Lý Quảng Lợi chính là Lý Phu Nhân được Hán Vũ Đế sủng ái nhất. Lý Phu Nhân qua đời khi tuổi đời còn trẻ, trước lúc lâm chung đã gửi gắm Hán Vũ Đế hãy chăm sóc thật tốt cho người anh trai. Hán Vũ Đế vì thương nhớ Lý Phu Nhân, nên cũng dùng sự nhạy cảm tột độ để bảo vệ Lý Quảng Lợi. Tất cả những điều này, là lúc trả lời câu hỏi của Hán Vũ Đế mà Tư Mã Thiên không thể ngờ tới.

Nói là xử tử, nhưng lại không thi hành ngay lập tức. Luật pháp thời bấy giờ có quy định, tội chết vẫn còn có cách cứu vãn, cách thứ nhất là dùng năm mươi vạn tiền để chuộc thân, cách thứ hai là dùng hủ hình thay cho tội chết.

Gia cảnh Tư Mã Thiên nghèo khó, hoàn toàn không lấy đâu ra ngần ấy tiền. Chức quan của ông quá thấp, lại không có được sự chạy chót từ những nhân vật có thế quyền. Những người bạn trước kia, đến lúc này đều trốn tránh từ xa, sợ bản thân dây dưa phải thứ gì đó. Thậm chí cả họ hàng cũng ra vẻ như hoàn toàn không có chuyện này xảy ra, chẳng ai muốn góp tiền để cứu tính mạng của ông. Lúc này, Tư Mã Thiên đành "chỉ làm bạn với lại lại trong pháp luật, chìm sâu trong chốn ngục tù u tối".

Tư Mã Thiên lẳng lặng chờ đợi trong ngục một thời gian, cũng giống như chẳng đợi được gì. Ông biết rất rõ rằng, sự lựa chọn của bản thân chỉ có hai con đường: chết, hoặc tiếp nhận hủ hình.

Cái chết là đơn giản nhất, tự nhiên nhất. Trong thời đại lan tỏa bầu không khí khai hoang mở cõi, chinh chiến chém giết ấy, người ta xem cái chết khá là tùy tiện. Tư Mã Thiên trước kia khi tùy giá Hán Vũ Đế đi tuần thú, thường nhìn thấy các đại quan thời đó vì không chuẩn bị tốt việc đón giá mà tự sát, đơn giản giống như bực bội vỗ vào đầu mình một cái, quan lại xung quanh cũng chẳng lấy làm lạ, ví dụ như Thái thú Hà Đông và Thái thú Lũng Tây lúc bấy giờ đều chết như vậy. Lần này tin tức Lý Lăng đầu hàng truyền đến, vị quan cách đó không lâu vừa báo cáo chiến công của Lý Lăng cũng đã tự sát. Theo thống kê, trong hơn hai mươi năm trước sự kiện Lý Lăng, trong số năm vị thừa tướng mà Hán Vũ Đế trọng dụng, có tới bốn vị thuộc dạng chết bất đắc kỳ tử. Do đó, mọi người đều đoán trước Tư Mã Thiên nhất định sẽ chọn cái chết sảng khoái, chứ không ngờ ông lại chọn hủ hình, sống tiếp với nỗi nhục nhã kỳ lạ.

Sự lựa chọn nằm ngoài dự liệu, nhất định có lý do nằm ngoài dự liệu. Sự thể hiện đầy đủ của lý do này, cần đến hàng ngàn hàng vạn năm thời gian.

Hủ hình cũng không được thi hành ngay, Tư Mã Thiên vẫn tiếp tục bị giam trong ngục. Đến năm thứ hai, tâm tư Hán Vũ Đế có chút lay động, muốn đón Lý Lăng từ chỗ Hung Nô về lại. Nhưng nghe một tên tù binh nói rằng Lý Lăng đang giúp Hung Nô luyện binh kìa. Lần này lại một lần nữa chọc giận Hán Vũ Đế, lập tức hạ lệnh giết sạch người nhà của Lý Lăng, đồng thời thi hành hủ hình đối với Tư Mã Thiên.

Vừa mới máu me đầm đìa làm xong mọi chuyện, thì lại có tin tức truyền đến — tên tù binh kia nhớ nhầm rồi, người giúp Hung Nô luyện binh không phải là Lý Lăng, mà là một người khác mang họ Lý.

Năm

Tư Mã Thiên bị giam trong ngục hơn ba năm, đến năm 96 trước Công nguyên thì ra tù.

Thời đại đó quả thực có chút kỳ lạ, Tư Mã Thiên vừa ra tù lại được thăng quan, hơn nữa còn thăng làm Trung thư lệnh với chức vụ không hề nhỏ. Hán Vũ Đế hình như không xem việc chịu hình, giam cầm ra gì, thậm chí ông ta không phân biệt tội phạm và quan lại với nhau, cảm thấy hai bên có thể thường xuyên luân phiên đổi chỗ cho nhau.

Không ít vị quân chủ tài ba lỗi lạc rất thích trò chơi đại giáng chức đại thăng chức này, họ cảm nhận được niềm vui thu phóng quyền lực trong những trò chơi như thế.

Được thăng quan thì có một số việc công, nhưng Tư Mã Thiên lúc này, toàn bộ tâm trí đều đặt vào việc viết sách.

Chiếu theo lời tự thuật của ông trong "Báo Nhâm An thư", trạng thái tinh thần của ông lúc bấy giờ đã xảy ra sự thay đổi cực lớn, khí phách hiên ngang trước kia mãi mãi không tìm lại được nữa.

Bộc dĩ khẩu ngữ ngộ tao thử họa, trọng vi hương đảng sở tiếu, dĩ ô nhục tiên nhân, diệc hà diện mục phục thượng phụ mẫu chi khâu mộ hồ? Tuy luy bách thế, cấu di di thậm nhĩ! Thị dĩ tràng nhất nhật nhi cửu hồi, cư tắc hốt hốt nhược hữu sở vong, xuất tắc bất tri kỳ sở vãng. Mỗi niệm tư sỉ, hãn vị thường bất phát bối triêm y dã!

Đoạn tự thuật này bình dân giống như văn xuôi bạch thoại, không cần phải giải thích nữa. Tóm lại, ông thường rơi vào trạng thái thất thần, không thể thoát khỏi cảm giác nhục nhã mãnh liệt. Người càng cao quý thì càng như vậy.

Trong những lần giằng xé tinh thần hết lần này đến lần khác, thứ giành chiến thắng cuối cùng, luôn là sự suy ngẫm về giá trị sinh mệnh. Ông biết rằng, thời đại đó vì mọi người xem cái chết quá đỗi bình thường, cho nên ung dung tìm đến cái chết tuy dễ dàng nhưng lại giống như lông chín bò mất một sợi, hoặc giống như con kiến chết đuối trong giọt nước, thực sự không đáng nhắc tới. So với điều này, chỉ có sau khi làm được một số việc có giá trị rồi mới chết, mới hoàn toàn khác biệt. Chính vì nghĩ đến đây, ông đã nói ra một câu mà bây giờ ai ai cũng biết: "Người vốn có một cái chết, hoặc nặng bằng Thái Sơn, hoặc nhẹ hơn lông hồng, do mục đích sử dụng khác nhau mà thôi."

Trong lòng ông, thứ thực sự nặng bằng Thái Sơn chính là bộ "Sử ký". Ông sống trong nhục nhã, chính là để tạo dựng và gánh vác trọng lượng ấy.

Việc cúi đầu của con người có hai khả năng, một là sự quy phục thực sự, hai là đang thử luyện tư thế gánh vác Thái Sơn, nhưng nhìn qua thì cũng giống như đang quy phục.

Tư Mã Thiên đại khái hoàn thành "Sử ký" vào năm bốn mươi sáu tuổi. Theo khảo chứng của Vương Quốc Vi, bài cuối cùng là "Hung Nô liệt truyện", đó là tác phẩm được viết vào năm 90 trước Công nguyên.

Chúng ta nhớ rằng, một trong những nguyên nhân khiến Tư Mã Thiên gặp họa, là do khi biện hộ cho Lý Lăng có khả năng đã "ám chỉ" tướng quân Lý Quảng Lợi được Hán Vũ Đế che chở là kẻ kém cỏi. Ngay vào năm 90 trước Công nguyên, chính bản thân Lý Quảng Lợi cũng đầu hàng Hung Nô. Tư Mã Thiên đã điềm tĩnh đưa sự việc này viết vào "Hung Nô liệt truyện", ông cảm thấy, một nút thắt liên quan đến chính mình đã được hạ xuống, ông đã có thể buông bút.

Từ đó về sau, hoàn toàn không còn bất kỳ tin tức nào về ông nữa. Rốt cuộc ông sống bao lâu, lại qua đời như thế nào, qua đời ở đâu, đều không rõ.

Có học giả phán đoán từ một số lời lẽ trong các tác phẩm như "Hán thư cựu nghi" của Vệ Hoằng, "Tây kinh tạp ký" của Cát Hoằng và "Diêm thiết luận" của Hoàn Khoan, cho rằng cuối cùng Tư Mã Thiên vẫn vì hay oán trách mà bị hạ ngục rồi sát hại. Nhưng theo tôi, những tư liệu này quá đơn giản và mơ hồ, vẫn chưa đủ để tin cậy. Tất nhiên, sự đơn giản và mơ hồ ấy cũng có thể xuất phát từ một thứ lòng trắc ẩn, không muốn để mọi người phải gánh chịu nỗi bi ai lần thứ hai của Tư Mã Thiên.

Ông cứ thế, lặng lẽ vô thanh vô ảnh mà biến mất.

Ông viết nhiều câu chuyện đặc sắc về các nhân vật lịch sử như vậy, thế nhưng câu chuyện của chính mình lại không có kết cục.

Có lẽ, đây mới là đại kết cục thực sự. Ông biết rằng có "Sử ký", thì không cần phải sắp xếp thêm một nghi thức kết thúc nào nữa.

Ông biết rằng chỉ cần lịch sử chưa kết thúc, thì "Sử ký" và ông đều không thể kết thúc.

Sáu

Bài viết đã có thể kết thúc. Bỗng nhiên lại nghĩ ra một tầng ý nghĩa nữa, bèn dài dòng thêm vài câu.

Nhiều năm qua tôi vẫn luôn bị hỏi rằng việc viết tản văn chịu ảnh hưởng của ai sâu sắc nhất, tôi từng thành thật trả lời là "Tư Mã Thiên", liền lập tức bị người đặt câu hỏi cho là sự hàiجور kiểu vô litư.

“Chúng tôi đang hỏi về tản văn cơ mà, sao ông lại lôi ra một nhà sử học cổ đại?”

Tôi không biết giải thích thế nào, sau này gặp phải câu hỏi tương tự thì cũng thôi không đáp nữa.

Tuổi tác càng lớn, đọc qua càng nhiều, nếu tự hỏi bản thân nghiêng lòng về nhà tản văn nào nhất, câu trả lời của tôi vẫn không hề thay đổi.

Tản văn viết gì cũng được, nhưng cảnh giới cao nhất nhất định phải liên quan đến lịch sử. Điều này là bởi vì, bản thân lịch sử quá giống tản văn, khiến cho những nhà tản văn chân chính không thể không xao xuyến cõi lòng.

Lịch sử không có vần điệu, không có hư cấu, không có mở đầu và kết thúc; thế nhưng lịch sử có khí tượng, có cốt truyện, có thu phóng, có nhân quả, có vô số không gian tự do cần vừa đi vừa cảm thán, vừa kể vừa bình, có vô số mảnh vỡ rực rỡ không cần cố ý xâu chuỗi mà vẫn luôn lóe sáng ở khắp nơi, đây không phải tản văn thì là gì? Hơn nữa cũng chỉ có thể là tản văn, không phải thoại bản, không phải truyền kỳ, không phải sách lược, không phải tạp kịch.

Đã vắt lịch sử vốn dĩ là như thế, Tư Mã Thiên liền tìm được phương thức viết sử tuyệt vời nhất. Ông cứ một mạch dùng chủ thể tường thuật ở ngôi thứ ba thong thả cất lời, nhưng lại khác với sự lạnh lùng băng giá của các tác phẩm lịch sử thông thường. Ông cất lời vô cùng biểu cảm, lúc thì tán thưởng, lúc thì kính mộ, lúc thì hoài niệm, lúc thì tế bái, lúc thì phẫn nộ, lúc thì châm biếm, lúc thì khinh bỉ. Nhưng tất cả những điều này, chỉ ẩn hiện giữa đôi mày khóe miệng đôi môi kẽ răng của ông, chứ không làm thay đổi tính liên tục của âm điệu tường thuật.

Đôi khi, trong lời tường thuật của ông xuất hiện cốt truyện khá hoàn chỉnh, có nhân vật, có tính cách, có chi tiết, có khẩu khí, có bối cảnh, giống như từng mẩu tiểu thuyết thoại bản. Thế nhưng, ông tuyệt đối không thỏa mãn với sự kỳ vọng thế tục của mọi người đối với cốt truyện, tuyệt đối không sa vào điệu bộ cao hứng của văn học nghệ nhân, bước chân tường thuật vẫn ngang dọc trời đất, tuyệt đối không có chút hiềm nghi câu khách chuộng lạ nào.

Đôi khi ông buộc phải bình luận, ngoài phần "Thái sử công viết" ở cuối mỗi bài, còn vỗ bàn chỉ điểm giữa chừng câu chuyện, nhưng rồi cũng chỉ chấm phá đúng mực rồi tiếp tục kể chuyện. Sự việc có nặng nhẹ xa gần, ông khua tay như mây như cầu vồng, tiện tay nhặt lấy lại tùy tay vứt bỏ, không dây dưa lôi thôi.

Cứ như thế, dưới ngòi bút của ông xuất hiện một tổ hợp lớn gồm đủ loại sắc điệu, đủ loại phong thái, đủ loại tâm sự, đủ loại tình cảnh. Quân vương anh minh, tướng hiền tể tướng, quan ác thủ hạ, mưu sĩ mưu thần, hiệp khách nghĩa hiệp, thích khách sát thủ, mỗi người kéo theo một giai điệu nhân sinh tươi sáng, cấu thành nên bản giao hưởng phong phú về đạo trời lòng người, nhân chính đức lớn. Đây chính là "đại tản văn lịch sử văn hóa" đích thực.

Cục diện tản văn như thế của "Sử ký" cuồn cuộn tựa mây biển, so sánh với nó, ngay cả Đường Tống Bát đại gia cũng trở nên quá mức biên tập cắt gọt, dụng ý quá đà, ngẫm lại thấy hơi tiểu khí.

Nếu hỏi rằng: Lấy tản văn viết sử, có phù hợp với khoa học lịch sử hay không? Câu trả lời của tôi là: Đã vắt diện mạo chân thực của lịch sử là trạng thái tản văn chứ không phải trạng thái luận văn, vậy thì càng dùng hình thái gần gũi để nắm bắt, lại càng thích hợp. Bằng không, sẽ giống như bắt mây thuần hóa biển, ai nấy đều nhọc mệt.

Lại hỏi: Lấy "Sử ký" làm bản mẫu tản văn, có phải là quá lớn so với mức độ hay không? Câu trả lời của tôi là: Vẽ trời có thể lấy một góc của nó, nhưng nhất định phải cảm nhận khí tượng đầy trời trước; vẽ đất có thể chọn một xó của nó, cũng nhất định phải ngắm nhìn bốn bề đại địa mênh mông trước. Bản mẫu của tản văn lịch sử nên rộng rãi phóng khoáng hơn tản văn thông thường rất nhiều, mới có thể thoát khỏi kỹ thuật vụn vặt mà đạt được thần vận hùng vĩ.

Ngoài nội dung ra, đơn vị cơ bản của tản văn chính là ngôn ngữ. Về điểm này, Tư Mã Thiên cũng xứng đáng là ngòi bút ngàn đời có một.

Ngòi bút của Tư Mã Thiên, là sự giãy giụa đầy gian khổ thoát khỏi thứ văn phong đang thịnh hành xung quanh ông. Trước thời ông, văn đàn ngập tràn bầu phong cách từ phú nồng đậm. Lấy Mai Thừa, Tư Mã Phượng vương vả làm đại diện, theo đuổi sự phô trương và xa hoa về mặt văn học. Đến thời đại Tư Mã Thiên, phong trào này ngày càng dữ dội. Dường như để hưởng ứng phong thái đại quốc và cục diện giàu có do Hán Vũ Đế mở ra, ngay cả tản văn cũng đua nhau theo đuổi sự hoa mỹ, chỉnh tề, trống rỗng, phóng túng, thậm chí còn viện dẫn kinh điển, mài giũa âm tiết. Mặc dù quả thực không thiếu văn tài, nhưng rốt ra vẫn cứ hoa hòe lòe loẹt mà không thực chất, làm ra vẻ ta đây. Xu hướng này phát triển về sau, trở thành văn biền ngục đời Lục triều quá mức chú trọng trang sức, đối ngẫu, thanh luật, dùng điển tích, khiến cho đến đời Đường, Hàn Lũy, Liễu Tông Nguyên vẫn phải phát động một phong trào để phản đối.

Biết được môi trường ngôn ngữ của Tư Mã Thiên rồi, thì có thể hiểu được ngòi bút sạch sẽ, mộc mạc, linh động của ông chứa đựng sự đột phá lớn đến nhường nào. Ông đặc biệt né tránh các kiểu câu đối ngẫu chỉnh tề như tránh dịch bệnh, dốc sức theo đuổi những câu tản văn tự nhiên, rõ ràng như lời nói thường, lúc dài lúc ngắn xen kẽ nhau. Ông lại còn nhào nặn những câu tản văn ấy giống như thô tục mà tao nhã, sinh động hoạt bát, quả thực đã nắm giữ được bí quyết căn bản của việc viết tản văn. Ông còn không để văn ngôn cổ đại xuất hiện trong bài viết của mình dưới hình thức khó hiểu lùng bùng lỗ tai, mà bắt buộc phải cải biên sao cho dễ hiểu trôi chảy, thích hợp cho người đương thời đọc. Nếu chúng ta nhìn thấy loại câu văn chỉnh tề, đối xứng, so song trong sách của ông, cơ bản có thể khẳng định không phải do tự tay ông viết ra. Ví dụ như các chuyên gia đời sau nhìn thấy trong một bài văn nào đó có một đoạn văn pháp hiệp vần bốn chữ, đều nhất trí khẳng định là do người đời sau xen tạp vào.

Nói đến đây, tôi thực sự không thể che đậy được nỗi buồn thương hiện đại tích tụ đã lâu. Thời đại của chúng ta, cách xa hai Hán Lục triều biết bao, chẳng biết từ lúc nào bỗng nhiên dấy lên một thứ văn biền ngục đương thời không ra gì — một bề theo đuổi sự sắp xếp chỉnh tề của những lời sáo rỗng trống rỗng, văn tài đương nhiên thua xa văn biền thể cổ đại, nhưng lại luôn không sợ lặp đi lặp lại mà đọc lên vẫn xuôi tai. Có một lần tôi được mời tham dự lễ kỷ niệm thành lập của một trường đại học, các quan lại đến chúc mừng vậy mà có tới năm người hoàn toàn lặp lại đúng một câu mở đầu giống hệt nhau: "Tháng mười vàng óng, quế thơm ngào ngạt, đám trò giỏi tụ họp một nhà." Sau đó lại có một vị quan chỉ đổi "Tháng mười vàng óng" thành "Gió vàng thổi mát", còn mười hai chữ đằng sau vẫn y sì đúc không khác một ly. Tôi muốn cười lớn mà lại không thể không che miệng lại, bởi vì những người xung quanh đều cảm thấy như thế này mới giống như bài văn hay.

Có một lần tôi gợi ý trên truyền thông rằng giới trẻ khi viết văn nên ít dùng thành ngữ, tính từ, câu đối ngẫu và câu so song, quay về với lối tường thuật mộc mạc. Đây là một ý kiến mang tính thường thức biết bao, thế nhưng nghe nói lại gây ra một trận xôn xao bàn tán, ai nấy đều nói rằng thiếu đi thành ngữ, tính từ, câu đối ngẫu và câu so song thì lấy đâu ra "tính văn học"? Mọi người vậy mà đều không biết rằng, cái gọi là "tính văn học" không giống con người bình thường nói năng kiểu này, thực ra lại là "hình thái ngụy văn học" thấp hèn nhất. Người Trung Quốc đã rũ bỏ được hai ngàn năm, đến thời nhà Đường lại rũ bỏ một trận thật đau tay, đến thời Ngũ Tứ lại rũ bỏ một cách triệt để. Hơn nữa, mỗi thể văn bị rũ bỏ đều tốt hơn cái mớ đang thịnh hành hiện nay rất nhiều.

Tôi nghĩ, mọi người vẫn nên đọc kỹ "Sử ký" hơn nữa, ngoài việc nhận thức Tư Mã Thiên trên phương diện sử học, còn nên nhận thức Tư Mã Thiên trên phương diện văn học.

Đêm qua lúc viết bài văn này có nghỉ giải lao một chút, tôi lấy cuốn "Tư Mã Thiên luận cảo" do tiên sinh Nhiếp Thạch Kiều viết trên giá sách xuống lật xem, không ngờ vừa liếc mắt đã nhìn thấy một đoạn văn, không khỏi thầm mượn ý cười thầm. Ông ấy nói:

Thành tựu tản văn cổ đại nước ta cao nhất là thời Hán, thành tựu tản văn thời Hán cao nhất là văn học truyện ký, thành tựu văn học truyện ký cao nhất chính là "Sử ký".

Quan điểm này, rất hợp ý tôi.

Đến đây, tôi thực sự có thể dùng mấy câu để kết thúc bài viết này: "Sử ký", không chỉ là bản mẫu lịch sử của Trung Quốc, mà còn là bản mẫu văn học của Trung Quốc. Trông có vẻ như nó chỉ có sự khác biệt lớn với thơ trong văn học, nhưng như Lỗ Tấn đã nói, so với "Ly tao", nó chẳng qua chỉ là "không vần" mà thôi.

Vị vĩ nhân dung hợp văn và sử vào chung một lò từ hai ngàn năm trước, thực ra cũng chính là dung luyện chân, thiện, mỹ lại với nhau, dung luyện trong những đêm tối không chân, không thiện, không mỹ ấy.

Lò luyện chính là ngọn đèn dầu nhỏ bé kia.

Chẳng lẽ, nó thực sự đã tắt rồi sao?

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.