Một
Nhìn từ sử sách phương Tây, thành phố kiêu hãnh nhất thế giới cổ đại chắc chắn là thành Rome cổ đại từng rực rỡ với những cây cột đá và võ đài hùng vĩ. Thế nhưng, thành Trường An đứng sừng sững trên thế giới cùng thời với nó lại lớn gấp sáu lần.
Thế kỷ thứ năm, thời gian và bối cảnh "dợn phương bắc" chiếm đóng Đế quốc Tây La Mã rất giống với thời gian và bối cảnh tộc Tiên Bì chiếm đóng miền bắc Trung Quốc, nhưng kết quả lại hoàn toàn trái ngược: văn minh La Mã bị sức mạnh thô bạo hủy hoại, còn văn minh Trung Hoa lại được sức mạnh thô bạo nuôi dưỡng.
Khi dân số thành Trường An lên tới cả triệu người, dân số Rome đã chưa đầy năm vạn. Nhìn lại vùng đất châu Âu quanh Rome, lúc bấy giờ cũng chìm đùm trong sự u ám của thần học thời Trung cổ. Thỉnh thoảng bắt gặp từng cụm ánh sáng, đó chính là ngọn lửa của tòa án dị giáo thiêu đốt những kẻ "dị giáo".
Nhìn xa hơn về phía đông, Đế quốc Ba Tư từng có khí phách hào hùng đã bị thế lực Ả Rập chiếm đóng vào giữa thế kỷ thứ bảy, Ấn Độ cũng vào khoảng thời gian đó mà rơi vào hỗn loạn vì sự ra đi của vua Giới Nhật. Những thành phố ra dáng trên thế giới lúc bấy giờ, ngoài Trường An ra thì còn có Constantinople và Baghdad. Thành phố trước là trục kết nối Đông Tây, thành phố sau là trung tâm của Đế quốc Ả Rập, nhưng so với Trường An thì đều nhỏ hơn rất nhiều, hai thành phố cộng lại còn chưa bằng một nửa Trường An.
Văn nhân Trung Quốc đời sau hễ nghĩ đến Trường An là ngay lập tức chìm đắm vào mấy câu chuyện cung đình không biết đã kể bao nhiêu lần. Cho đến tận ngày nay vẫn vậy, bằng chứng là có hàng loạt bộ phim truyền hình, kịch sân khấu, tiểu thuyết lặp đi lặp lại. Đây không phải vì họ ngưỡng mộ vua chúa mỹ nhân cỡ nào, mà chỉ vì lười biếng. Sử sách lưu hành từ xưa đến nay nói đi nói lại cũng chỉ có mấy đề tài này, mọi người cứ thế mà hùa theo.
Lấy câu chuyện cung đình lấn át thực tế chợ búa, thậm chí lấn át cả sinh kế muôn dân thiên hạ, đây là ví dụ điển hình nhất cho tư duy "lấy quan làm gốc" của Trung Quốc. Thực ra, nhà Đường là nhà Đường, Trường An là Trường An, tuy có rất nhiều dấu hiệu bên ngoài mang tính đại khái, nhưng tín hiệu tinh tế nhất, nội tại nhất lại nằm trong tiếng cười nói chốn ngõ hẻm thường ngày, trong nếp áo của nam thanh nữ tú trên đường phố. Tiếc là những điều này đều thiếu vắng ghi chép.
Thiếu vắng ghi chép, không có nghĩa là không có ghi chép. Có một số lời châu ý ngọc vô tình để lại, có thể khiến chúng ta bất chợt tưởng tượng ra một góc phong cảnh của Trường An thời Đường, giống như tìm thấy một khe hở từ cánh cửa gỗ mãi mãi khép kín, áp mặt vào xem xét kỹ lưỡng, thì cũng có thể thoáng nhìn (nhìn trộm) được một góc khung cảnh vườn tược mờ ảo.
Bạn xem, ở đây đã có một khe hở rồi. Một vị tăng nhân người Nhật Bản tên là Viên Nhân, đến Trường An nghiên cứu Phật pháp, trong cuốn "Nhập Đường cầu pháp tuần lễ hành ký" do ông viết có ghi chép lại rằng, năm Hội Thám thứ ba, tức năm 843 công nguyên, đêm ngày 27 tháng 6, ở Trường An đã xảy ra hỏa hoạn:
"Đêm canh ba, Đông Thị hỏa hoạn. Thiêu hủy Đông Thị Tào môn hướng tây hai mươi tư hàng, bốn nghìn bốn trăm thêm hộ. Tài sản quan tư, vàng bạc lụa là thuốc men, thảy đều thiêu rụi."
Ba mươi lăm chữ Hán ngắn ngủi này chứa đựng không ít thông tin. Đầu tiên là địa điểm rất cụ thể, tức là phía tây Tào môn của Đông Thị, tất nhiên không phải toàn bộ Đông Thị. Tiếp theo là số lượng cửa hàng rất cụ thể, tức là trận hỏa hoạn chỉ xảy ra ở phía tây Tào môn của Đông Thị thôi đã thiêu rụi bốn nghìn bốn trăm mấy chục hộ cửa hàng với hai mươi tư dãy. Vậy Đông Thị rốt có bao nhiêu dãy? Nghe nói có hai trăm hai mươi dãy, tính toán như vậy, tổng số cửa hàng ở Đông Thị sẽ là bao nhiêu chứ? Thật sự khiến người ta kinh ngạc.
Đã nhắc đến Đông Thị thì sẽ nghĩ ngay đến Tây Thị. So với Đông Thị, Tây Thị lại càng tập trung đông đảo thương gia nước ngoài, phồn thịnh hơn Đông Thị rất nhiều. Vậy Đông Thị và Tây Thị chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong toàn bộ thành Trường An? Không lớn. Diện tích thành Trường An tổng cộng hơn tám mươi km vuông, Đông Thị và Tây Thị mỗi nơi chiếm một km vuông mà thôi, cộng lại cũng chỉ chiếm một phần bốn mươi của toàn bộ thành Trường An. Thế nhưng, dù là Đông Thị hay Tây Thị thì một km vuông cũng thật sự không nhỏ. Mỗi nơi đều có bố cục đường phố hình chữ tỉnh, chia thành chín khu vực thương mại, vạn thương tụ hội, trăm nghề hưng thịnh, chắc chắn là trung tâm thương mại mậu dịch phồn thịnh nhất thế giới lúc bấy giờ.
Từ đó có thể thấy, trận đại hỏa hoạn được vị tăng nhân người Nhật Bản Viên Nhân ghi chép lại ấy, tuy không được chép trong sử sách đời Đường, nhưng lại soi sáng một góc sinh thái của thành Trường An, khiến người ta có nền tảng để suy đoán về thực trạng văn minh phát triển nhất của loài người vào thế kỷ thứ chín công nguyên. Ý nghĩa của nó, tất nhiên là vượt xa trận đại hỏa hoạn trong trận chiến Xích Bích thời Tam Quốc. Trận đại hỏa hoạn ở Xích Bích có thể soi sáng điều gì? Nó có quan hệ gì với sự tiến lùi của văn minh, bước đi của lịch sử, họa phúc của muôn dân, tọa độ của thế giới?
Xem ra, lời khuyên can của tôi đối với người bạn cùng lớp năm xưa ở nông trại vẫn là đúng.
Hỏa hoạn ở Đông Thị bùng lên vào lúc nửa đêm canh ba. Nhà cửa Trung Quốc chủ yếu là kết cấu gạch gỗ, kém chịu lửa hơn kết cấu đá lớn của Rome, đến ngày hôm sau là có lẽ đã cháy trụi rồi. Chiếu theo thực lực tài chính công tư và năng lực quản lý của Trường An lúc bấy giờ, việc khôi phục chắc là không chậm. Trong thời gian khôi phục, thương gia khắp nơi đều tập trung hết về Tây Thị.
Tây Thị mang đậm phong vị ngoại quốc, thế nhưng lại chính là chủ điệu của Trường An. Nhà hàng, quán rượu rất nhiều, thu hút nhất là "Hồ cơ tửu tứ" (quán rượu có mỹ nhân tộc Hồ), nhân viên phục vụ bên trong là những thiếu nữ Trung Á và Tây Á xinh đẹp tuyệt trần. Nghệ thuật Rome, kiến trúc phong cách Byzantine, hoa văn họa tiết nhẫn đông dây leo uốn lượn của Hy Lạp, kỹ nghệ tạp kỹ ma thuật của Ấn Độ, bày la liệt khắp đường phố.
Sau khi vương triều Sasan của Đế quốc Ba Tư bị Đại Thực (tức Ả Rập) tiêu diệt, rất nhiều quý tộc và thường dân Ba Tư đã lưu lạc đến Trường An, mà Trường An lại tụ tập một lượng lớn người Đại Thực. Tôi không biết lúc họ gặp nhau thì mang ánh mắt gì, nhưng Trường An không phải chiến trường, và tôi cũng không tìm thấy ghi chép về việc họ khiêu khích đánh nhau trong sử liệu.
So sánh ra, người Ba Tư dường như biết làm ăn buôn bán hơn. Họ là kẻ thua cuộc trên chiến trường, nhưng lại là người chiến thắng trên thương trường. Đá quý, mã não, hương liệu, dược phẩm, đều do họ kinh doanh. Điều càng khiến họ nở mày nở mặt hơn nữa là trang phục Ba Tư bó sát đã thịnh hành khắp Trường An. Trang phục truyền thống của người Hán tương đối rộng rãi, lúc này trên người các thiếu nữ ở Trường An thì đã biến thành kiểu dáng Ba Tư khoét ngực, ôm sát. Đồng thời, họ còn thích mặc nam trang ra phố. Những bộ trang phục thời thượng này còn đổi mới theo từng năm.
Trên đường phố Trường An, người nước ngoài vô cùng nhiều. Hơn ba vạn lưu học sinh, chỉ riêng lưu học sinh Nhật Bản đã từng đến hơn một vạn người. Lưu học sinh cũng có thể tham gia kỳ thi khoa cử, chỉ tính riêng thời kỳ cuối nhà Đường, sĩ tử Tân La (Triều Tiên) đỗ khoa cử đã có hơn năm mươi người. Chế độ khoa cử thực chất là chế độ tuyển chọn quan văn, thế nên những sĩ tử ngoại quốc này cũng có được tư cách đảm nhận chức quan ở Trung Quốc. Họ quả thực cũng có không ít người ở lại Trung Quốc làm quan.
Có một người Ba Tư được triều đình nhà Đường phái sang làm đại sứ ở Đế quốc Đông La Mã, tên là "A La Hãn". Học giả Nhật Bản đương đại Hada Toru cho rằng, "A La Hãn" chính là Abraham, hiện nay thường dịch là "Abraham", một cái tên rất phổ biến trong người Do Thái. Do đó, rất có khả năng đây là người Do Thái di cư sang Ba Tư.
Vì vị A La Hãn này, tôi đã từng thân thiết mạo hiểm đến một thành phố không lớn ở miền tây Iran là Hamadan, khảo sát di tích người Do Thái di cư sang Ba Tư sớm nhất. Tôi nghĩ, người ta đã rời xa quê hương làm đại sứ của nhà Đường phụng mệnh đi xa từ lâu, chẳng lẽ chúng ta còn không nên tìm hiểu đôi chút về lịch sử di dời của tổ tiên họ hay sao?
Tóm lại, ở Trường An, việc nhìn thấy các loại "A La Hãn" làm quan, nhìn thấy các loại Hồ cơ bán rượu, nhìn thấy những người đến từ bất kỳ nơi nào trên thế giới làm bất kỳ ngành nghề nào, đều không có gì kỳ lạ. Họ cư trú lâu ngày, đều đã trở thành nửa "người Đường", mà "người Đường" thì đã trở thành người thế giới có huyết thống Trung Quốc.
Trường An mở rộng cửa chào đón thế giới, thế giới cũng coi Trường An như một sân khấu. Giữa hai yếu tố này, điều quan trọng nhất chính là tâm thái của người chủ nhà.
Trường An thời nhà Đường tuyệt đối không mang thái độ cao ngạo trịch thượng mà coi sự đến của người dân xứ lạ là một sự quy thuận và khuất phục. Ngược lại, nó là kẻ sùng bái thành kính của các nền văn-minh khắp nơi. Nó hiểu rất rõ, không phải mình "khoan dung" với các nền văn minh khác, mà là chính bản thân mình không thể rời xa các nền văn minh khác, nếu rời xa, sẽ trở nên nhạt nhẽo vô vị, cứng nhắc héo mòn. Thế nên, nó từ tận đáy lòng học được cách thưởng thức và noi theo. Thái độ này của chủ nhà, tất cả các nền văn minh ngoại lai đều nhanh chóng nhạy bén nhận ra, thế nên càng sẵn sàng coi Trường An là nhà, cắm rễ sinh sôi.
Trường An có một sự tự tin đầy đủ, không lo lắng nền văn minh ngoại lai sẽ nhấn chìm mình. Nói chính xác hơn, nó thậm chí còn chưa từng nghĩ đến vấn đề này. Giống như một thung lũng xinh đẹp, tuyệt đối sẽ không phòng bị đàn chim muông bướm lượn bay vào từ ngoài núi, cũng sẽ không cảnh giác những đóa hoa dại cỏ lạ xa lạ đang đung đưa theo gió.
Nếu đã cảnh giác, đã phòng bị, thì nó sẽ không còn xinh đẹp nữa.
Cho nên, sự thịnh vượng của thịnh Đường, trước hết hưng thịnh ở tinh thần; sự vĩ đại của đại Đường, trước hết vĩ đại ở tâm thái.
Công tâm mà nói, quân đội nhà Đường không hẳn là rất mạnh, từng thua rất nhiều trận trong các cuộc chiến biên giới. Lược đồ lãnh thổ của nhà Đường cũng không tính là quá lớn, vừa không bì được với nhà Hán trước đó, lại vừa không bì được với nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh sau này. Cho nên, nếu xét thuần túy từ góc độ quân sự và chính trị, nhà Đường có rất nhiều điểm có thể chê trách. Thế nhưng, từng thế hệ người Trung Quốc lại vô cùng yêu mến nhà Đường, yêu mến hơn nhiều so với những thời đại tỏ ra cường thịnh nhờ hiếu chiến, bài ngoại và bảo thủ. Thực tế này chứng minh rằng, đại đa số người dân tuy không mong muốn đất nước suy yếu, nhưng cũng không hề tán thưởng loại quốc lực và quân lực đã đánh mất tâm thái tinh thần tốt đẹp.
Sự "yêu mến" của người dân, giống như "chỉ số hạnh phúc" mà chúng ta nói hiện nay, ngoài việc cần phải có sự bảo đảm cơ bản về an toàn và kinh tế ra, thì lại càng phải vượt qua những sự bảo đảm cơ bản này, mưu cầu sự tự do thân tâm, quyền lợi cá nhân, sự sinh tồn thi vị. Từ mạch tư duy này, chúng ta mới có thể giải mã nhà Đường một cách sâu sắc hơn.
Có học giả liệt kê một số điểm yếu của nhà Đường, để chứng minh rằng việc mọi người yêu mến nó chỉ là xuất phát từ một loại ảo tưởng. Tôi cảm thấy suy nghĩ này quá ư đơn giản. Giống như chúng ta nhìn nhận con người, một kẻ lúc nào cũng mạnh mẽ, không có chỗ hở, so với một kẻ vui vẻ ngây thơ nhưng cũng thường hay vấp váp, thì ai đáng yêu hơn?
Giữa sự mạnh mẽ và sự đáng yêu, văn hóa quan tâm đến điều sau hơn.
Ví dụ như, bức phù điêu Lục tuấn ở Chiêu lăng của Đường Thái Tông, dùng sáu con chiến ngựa để khái quát lịch sử ra đời của một vương triều, đó là một sự mạnh mẽ đáng kính trọng. Thế nhưng, bước chân của những con chiến ngựa này có nhiệm vụ cụ thể, khi nhiệm vụ đó đã rõ ràng, bản thân chúng liền bước vào bức phù điêu. Thế rồi, có thêm những con ngựa khác chở theo những người chủ khác xuất hiện. Lý Bạch từng viết:
"Ngũ lăng niên thiếu kim thị đông,
Ngân yên bạch mã độ xuân phong.
Lạc hoa đạp tẫn du hà xứ?
Tiếu nhập Hồ cơ tửu tứ trung."
Đối với cảnh tượng này, tôi nghĩ, Đường Thái Tông và những con chiến ngựa của ông đều sẽ không tức giận.
Mấy tiếng hý vang già nua mà vui vẻ truyền đến từ Đường Chiêu lăng đằng xa, những con ngựa bạch yên bạc dưới hông đám thanh niên Ngũ lăng dựng tai lên. Nghe thấy thế, lại chạy nhanh hơn nữa.
Hai
Nhà Đường không có "triết học quốc gia", đây cũng là điểm đáng yêu của nó.
Học giả giỏi cũng có một số, ví dụ như Khổng Dĩnh Đạt – người biên soạn cuốn "Ngũ kinh chính nghĩa", hay Lưu Tri Cử – tác giả cuốn "Sử thông" từng có ảnh hưởng sâu sắc đến tôi. Khổng Dĩnh Đạt, người Hành Thủy, Hà Bắc này là nhân vật không thể lược bỏ trong lịch sử phát triển của Nho học, ông không chỉ kết hợp các quy chuẩn lễ pháp khác nhau của Nho học lại với nhau, mà còn học hỏi một số phương thức lý luận của Đạo gia và Phật học, tạo thành một thể thống nhất, nhận được sự ủng hộ của các vị hoàng đế nhà Đường. Vốn dĩ điều này rất dễ cấu thành một sự thống trị tư tưởng, nhưng nhà Đường dẫu sao vẫn là nhà Đường, học vấn có lớn đến đâu, sự ủng hộ có cao đến đâu, cũng không thể tước đoạt đi sự tự do tinh thần của người khác. Bạn xem, ngoài một đại nho thế hệ như Khổng Dĩnh Đạt ra, còn có nhân vật "phái tự do" như Lưu Tri Cử. Lưu Tri Cử đã đưa ra học thuyết biến dị lấy "nghi cổ", "hoặc kinh" làm trục chính, thể hiện phong vận tư tưởng luôn theo đuổi vạn vật canh tân, phản đối mù quáng cổ kinh của nhà Đường lúc bấy giờ.
Nho ư? Đạo ư? Phật ư? Ở nhà Đường, hoàn toàn có thể tự mình lựa chọn. Trừ một số ít hoàng đế có lúc tương đối thiên kiến ra, trong phần lớn trường hợp, họ đều rất có khí lượng đối với tín ngưỡng xã hội, thường thực hiện phương châm "Nho, Đạo, Phật cùng giương cao".
Tôi đặc biệt chú ý rằng, các vị hoàng đế nhà Đường phần lớn đều sẵn lòng chăm chú lắng nghe trong vấn đề này, thậm chí còn khiêm tốn thỉnh giáo. Ví dụ như, Đường Thái Tông Lý Thế Minh thuở đầu không mấy tin tưởng Phật giáo, sau đó vì nhiều lần thỉnh giáo Huyền Trang, tín ngưỡng đã xảy ra thay đổi lớn, nhiều lần kéo vạt áo Huyền Trang mà nói rằng: "Trẫm cộng sư tương phùng vãn, bất đắc quảng hưng Phật sự." Thái độ giống như học trò này, xuất phát từ một vị anh chủ một thời, là điều không hề dễ dàng.
Đường Thái Tông đã tự tay viết lời tựa cho bộ "Du-già sư địa luận" do Huyền Trang dịch, đây chính là "Đại Đường Tam giáo thánh giáo tự" mà mọi người đều biết. Nhà thư pháp Trữ Suối Lương từng viết bài tựa này, mà người tôi thích nhất chính là bài bia do hòa thượng Hoài Nhân chùa Hoằng Phúc sưu tập hành thư của Vương Hi Chi đời Tấn rồi ghép lại khắc thành, nên gọi là "Tập Vương thánh giáo tự" nhỉ, hồi nhỏ khi học thư pháp, tôi đã từng luyện bản khắc dập của nó rồi.
Ngoài Nho, Đạo, Phật, Trường An cũng chừa ra không gian cho các tôn giáo Tây Vực mới truyền vào.
Ví dụ như giáo phái Nestorian của Cơ Đốc giáo (Nestorian Church), sau khi truyền vào Trung Quốc được gọi là Cảnh giáo, đã xây dựng một nhà thờ ở phường Nghĩa Ninh của Trường An.
Thực ra, từ năm 431 công nguyên, lãnh tụ của giáo phái này là Nestorius đã bị tòa thánh ở châu Âu phán là "kẻ dị giáo" rồi cách chức lưu đày, những kẻ đi theo ông ta liền trốn sang Ba Tư. Năm 635 công nguyên, một vị giám mục của giáo phái này tên là Alopen (A Lô Bản) đã đến Trường An truyền giáo. Đối với giáo phái đã bị phá hủy ở châu Âu từ hai trăm năm trước này, Trường An bày tỏ sự chào đón nồng nhiệt. Đường Thái Tông phái Thừa tướng Phòng Huyền Linh dẫn đầu đội nghi lễ đến phía tây Trường An nghênh đón, lại còn tự mình lắng nghe bài giảng của A Lô Bản. Nhà Đường gọi Đế quốc La Mã là "quốc gia Đại Tần", thế nên nhà thờ ở Trường An còn gọi là Đại Tần tự, cũng gọi là Ba Tư tự.
Chiếu chỉ mà Đường Thái Tông ban hành đối với giáo phái lưu vong này, phản ánh một thứ tâm lý tập thể của trên dưới triều Đường, so với cuộc bức hại tôn giáo ở châu Âu lúc bấy giờ, đã thể hiện một phong độ văn hóa hoàn toàn trái ngược. Ông nói rằng:
"Đạo vô thường danh, thánh vô thường thể, tùy phương thiết giáo, mật tế quần sinh. Đại Tần quốc đại đức A Lô Bản, viễn tướng kinh tượng, lai hiến thượng kinh. Thường kỳ giáo chỉ, huyền diệu vô vi; quan kỳ nguyên sinh, sinh thành lập yếu. Từ vô phồn thuyết, lý hữu vonguyên, tế vật lợi nhân, nghi hành thiên hạ. Sở ti tức vu kinh Nghĩa Ninh phường tạo Đại Tần tự nhất sở, độ tăng nhị thập nhất nhân."
Tôn chỉ "Đạo vô thường danh, thánh vô thường thể" được thốt ra tự nhiên như thường thức, chứng minh sự coi nhẹ đối với "ý thức hệ chủ lực" và "thần tượng tinh thần truyền thống" trong tâm trí. Chính sự coi nhẹ này đã mang lại sự coi trọng đối với của cải tinh thần đa nguyên.
Hỏa giáo của Ba Tư cổ đại, tức Hỏa giáo (Zoroastrianism), còn gọi là bái hỏa giáo, Hỏa hỏa giáo, trên lãnh thổ bản địa của Ba Tư cũng đã tuyệt tích vào thế kỷ thứ bảy do quân đội Ả Rập chiếm đóng, thế nhưng lại rất hưng thịnh ở Trường An. Có tổng cộng bốn nhà thờ: một ở phường Tĩnh Cung, hai ở phường Bố Chính, ba ở phường Lễ Tuyền, bốn ở phường Phổ Ninh.
Hỏa giáo từng có thời kỳ trở thành quốc giáo ở Ba Tư cổ đại, từng bức hại giáo phái Manichaeism, bản thân Mani cũng bị sát hại. Tín đồ Manichaeism phiêu bạt về phương tây, sau đó lại truyền từ Trung Á vào nhà Đường. Võ Tắc Thiên từng giữ lại tín đồ Manichaeism trong cung giảng kinh. Đường Đại Tông ban hành sắc lệnh vào năm 768 công nguyên, cho phép Manichaeism thiết lập tự viện ở Trường An, và ban biển ngạch "Đại Vân Quang Minh". Đáng tiếc là, đến giữa thế kỷ thứ chín, vì nguyên nhân chiến tranh, Manichaeism đã suy sụp không gượng dậy nổi.
Hồi giáo được sáng lập vào đầu thế kỷ thứ bảy, chỉ mấy chục năm sau đã truyền vào Trung Quốc. Về sau người Ả Rập ở Trường An có số lượng rất lớn, họ thường duy trì tín ngưỡng của dân tộc mình, thế nên địa vị của Hồi giáo ở Trường An cũng rất cao.
Ở đây xuất hiện một hiện tượng thú vị: ở Ba Tư, Hỏa giáo vốn dĩ là kẻ xua đuổi Manichaeism, Hồi giáo vốn dĩ là kẻ xua đuổi Hỏa giáo, thế nhưng ở Trường An, tất cả bọn họ lại đều bình an vô sự an đốn cùng nhau. Hơn nữa, ngoài Hồi giáo ra, Hỏa giáo và Manichaeism từ lâu đã là những tôn giáo "lưu vong" mất đi bản thổ, thế mà Trường An lại đối đãi với chúng như thượng khách.
Khí độ thực sự của một thành phố, không nằm ở việc tiếp đón bao nhiêu đại quốc hiển quý, mà nằm ở việc dung nạp bao nhiêu trí giả lang thang phiêu bạt. Sự cao quý thực sự của một thành phố, không nằm ở việc tập trung bao nhiêu đối thủ một mất một còn, mà nằm ở việc khiến những đối thủ này không còn là đối thủ nữa, thậm chí còn trở thành bạn bè.
Một thành phố vĩ đại, nên sở hữu rất nhiều "hòn đảo tinh thần cô độc", bất kể chúng đến từ đâu, cũng bất kể chúng có ngộ tính gì ở những nơi khác.
Những thành phố như thế này cổ kim Đông Tây chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong mắt tôi, Trường An thời nhà Đường phải đứng vị trí thứ nhất. Ở thời hiện đại, Paris và New York vẫn còn kém một chút, chỉ là, New York quá thiếu đi vẻ thi vị.
Ba
Mỗi lần đến Tây An, tôi luôn đến di tích Đại Minh cung ở phía bắc thành đi dạo ngẩn ngơ một hồi, sau đó đến phía đông nam thành, ngồi lặng yên một lát bên hồ Khúc Giang dưới chân tháp Đại Nhạn.
Tôi nghĩ, hiện nay ngày càng có nhiều người Trung Quốc thích nói "mộng hồi đại Đường", "mộng hồi Trường An", đây là chuyện tốt. Thế nhưng, nếu thực sự quay trở lại, dù là trong giấc mộng, e rằng cũng không thể chịu đựng nổi.
Một thời đại vĩ đại luôn có một bầu không khí đậm đặc, mà bầu không khí này sẽ khiến người lạ choáng váng chốc lát. Rất nhiều người nhất định sẽ nói, nhà Đường là của chúng ta, Trường An cũng là của chúng ta, hà cớ gì mà khiến chúng ta choáng váng? Thực ra, nhà Đường đã qua quá lâu rồi, đối với nó, chúng ta từ lâu đã thành người xa lạ.
Ngay cả khi chiếu theo những câu thơ của Lý Bạch để chọn một nhóm "thiếu niên Ngũ lăng" ngày nay quay trở lại, tình huống chắc chắn cũng sẽ rất lúng túng.
Những "thiếu niên Ngũ lăng" ngày nay rất dễ châm ngòi cho một loại tình cảm ái quốc cực đoan sướt mướt, mở miệng ngậm miệng đều là "từ chối đón lễ hội nước ngoài", "người Trung Quốc nhất định phải mặc Hán phục và Đường trang" v.v. Một nhóm người như vậy một khi bước vào đường phố Trường An thời Đường, ắt sẽ hoảng sợ tột độ, trợn mắt há mồm. Cư dân trong và ngoài thành Trường An, nhìn thấy biểu cảm thần kinh hễ thấy văn hóa ngoại lai nào cũng phòng bị nghiêm ngặt của họ, cũng sẽ vô cùng ngỡ ngàng. Tiến lên hỏi thăm tỉ mỉ, những lời giãi bày của họ tuy nghe có vẻ không gặp chướng ngại về ngôn ngữ, nhưng chẳng ai nghe hiểu nổi.
Chẳng bao lâu sau, một nửa trong số họ có lẽ sẽ có thể tỉnh táo lại, bắt đầu khiêm tốn thỉnh giáo cư dân trong và ngoài thành Trường An. Còn nửa còn lại, đại đa số sẽ đi đến một cực đoan khác, trở thành những tên du côn phóng túng nhất trong "quán rượu Hồ cơ", hỏng bét.
Ngay cả nửa số người đã tỉnh táo lại kia, muốn leo lên "ngựa bạch yên bạc" tiêu khiển một cách thoải mái như người Trường An, cũng không còn khả năng nữa. Bởi vì trên đời này cái gì cũng có thể bắt chước, nhưng rất khó bắt chước được niềm vui phát ra từ đáy lòng.
Tôi rất đồng cảm với những "thiếu niên Ngũ lăng" ngày nay. Họ không biết từ lúc nào đã bị nhồi nhét một thứ "triết học thời loạn", hễ mở miệng là vạch ranh giới, ngày ngày cảnh giác, lúc nào cũng nhạy cảm. Họ coi mưu quyền lừa đảo là trí tuệ, coi sự tự kỷ là văn hóa, coi bản thổ là thiên hạ. Hơn nữa, còn tưởng rằng như thế mới có thể thực hiện được "tôn nhã". Tâm lý tự ti vừa nhát gan vừa cuồng loạn này, chớp mắt đã ngụy trang thành chủ nghĩa anh hùng nhe nanh múa vuốt và chủ nghĩa bi tình, đôi khi cũng có thể lây nhiễm cho một số người, hình thành một "cấu trúc tự ủi an" mang tính hùa theo. Kết quả là, thế giới tâm lý ngày càng nhỏ hẹp, tâm lý bài ngoại ngày càng nặng nề, chỉ có thể từ tự kỷ mà đi đến tự teo tóp.
Tôi không biết làm thế nào mới có thể khiến họ hiểu rằng: nhà Đường từng mang lại sự tôn nghiêm cao nhất cho dân tộc Trung Hoa tuyệt đối không phải như thế. Mà là thế này: đều là thời đại suy vi, vốn không có mấy tôn nghiêm để nói tới.
Nếu họ vẫn không hiểu đạo lý này, thì tôi ít nhất có thể dùng thân mình để nói, bàn về cảm nhận nhân sinh của bản thân. Thế hệ chúng tôi, khi trẻ nuốt trọn toàn bộ là "triết học thời loạn", cơn mưa đêm bùn lầy được nhắc đến ở phần đầu bài viết này, hầu như đã nuốt chửng toàn bộ thanh xuân của chúng tôi. Chúng tôi được bảo rằng, xã hội cổ đại và thế giới bên ngoài đầy rẫy sự kinh hoàng, còn chúng tôi đang tận hưởng hạnh phúc trong sạch không một hạt bụi. Thỉnh thoảng không kìm được mà ảo tưởng về thời đại cổ đại, thế nhưng lại vẫn không dám ảo tưởng về nước ngoài. Chính trải nghiệm khắc cốt ghi tâm này, khiến chúng tôi sau khi tỉnh ngộ sâu sắc rất khó chìm sâu vào vũng lầy bế quan tỏa cảng.
Mấy năm trước tôi vẫn luôn thắc mắc, tại sao mỗi khóa học sinh của tôi hầu như đều không cởi mở bằng tôi. Sau đó tôi mới hiểu ra, đó là vì họ không sở hữu thứ của cải mang lại từ tai họa.
Thế nên tôi ngày càng có lòng tin hơn, người lớn tuổi quả thực chưa chắc đã lỗi thời hơn người trẻ tuổi, giống như nhà Đường sẽ không lỗi thời hơn nhà Minh, nhà Thanh.
Vậy thì hãy để tôi dẫn theo người trẻ tuổi, chứ không phải đuổi theo người trẻ tuổi, đi dạo một vòng Trường An trong tưởng tượng đi. Để tôi dẫn đường, để tôi giảng giải, giảng giải bài học vĩnh hằng này.