Một
Sinh ra là người Trung Quốc, cả đời phải gánh chịu không biết bao nhiêu là phiền muộn, phẫn nộ và tẻ nhạt. Thế nhưng, có một vài yếu tố khiến tôi không nỡ rời đi, thậm chí sẵn sàng kiếp sau lại đầu thai làm người Trung Quốc.
Một trong số đó, chính là thơ Đường.
Cách nói này có lẽ không nhận được nhiều sự đồng tình. Không ít bạn bè sẽ nói: "Ở nước ngoài vẫn có thể đọc thơ Đường mà, hơn nữa, các quốc gia khác cũng có rất nhiều thơ hay chứ!"
Vì vậy, tôi buộc phải nói thêm vài lời về chuyện này.
Thơ Đường trong lòng tôi là một sự tồn tại toàn vẹn. Tồn tại trong "Khương địch cô thành" (sáo Khương thành quạnh), tồn tại giữa "Hoàng hà bạch vân" (sông Hoàng mây trắng), tồn tại sau "Không sơn tân vũ" (núi lạnh mưa vừa tạnh), tồn tại trong "Tầm Dương thu sắc" (tiêu điều thu Tầm Dương). Chỉ cần một người Trung Quốc dắt vai văn mực nhìn thấy khung cảnh liên quan, lập tức sẽ phóng thích ra những hình tượng ẩn giấu trong lòng, cuộn tất cả mọi thứ trước mắt vào cảnh giới thơ.
Hình tượng trong lòng đã được ẩn giấu từ khi còn rất nhỏ. Có lẽ là do cha mẹ ngâm tụng, có lẽ là do thầy cô hướng dẫn, dù sao đi nữa thì đó cũng là một trong những điều tươi đẹp nhất trong những lời dạy của thế hệ đi trước. Cha mẹ và thầy cô chỉ cần đem thơ Đường ra dạy, cũng sẽ tự nhiên xóa nhòa ranh giới thế hệ, với thần thái siêu thoát cùng con cháu bước vào cõi thiên nhiên thuần khiết.
Thế là, thơ Đường đối với người Trung Quốc mà nói, là một sự thức tỉnh mỹ học toàn diện: thức tỉnh nội tâm, thức tỉnh sơn hà, thức tỉnh sự truyền đời của văn hóa, thức tỉnh bản tính sinh tồn.
Hơn nữa, sự thức tỉnh này hoàn toàn không xuất phát từ khái niệm trừu tượng, mà xuất phát từ hình ảnh cảm tính, từ chi tiết cụ thể. Những hình ảnh và chi tiết này qua sự sàng lọc của thời gian, đã trở thành sự nhạy cảm tập thể, ngôn ngữ thông dụng của một dân tộc khổng lồ.
Có đôi khi ở xứ người đất khách cũng có thể nhìn thấy những cảnh tượng tương tự như "Nguyệt lạc ô đề" (trăng tàn quạ kêu), "Độc điếu hàn giang" (một mình câu sông lạnh), khiến chúng ta sinh ra liên tưởng, thế nhưng, cái thứ diễm tình thơ mỹ huyền bí gắn liền với văn hóa thẩm mỹ tổng thể ấy lại không hề tồn tại. Điều này giống như việc phát hiện ở nơi xa xôi một căn nhà nhỏ rất giống nhà cũ của mình, hoặc một cụ bà có gương mặt giống hệt bà nội mình, tuy có niềm vui thoáng chốc, nhưng ngắm nghía kỹ lại cảm thấy vô cùng hụt hẫng. Hụt hẫng cái gì? Hụt hẫng toàn bộ mối quan hệ hô ứng gắn chặt với sinh mệnh, hụt hẫng cái chân thực khiến mình trở thành chính mình.
Đương nhiên, không thể thay thế không có nghĩa là đẹp. Nhưng thơ Đường quả thực là một vẻ đẹp lớn, bất kể đọc ở hoàn cảnh nào, cũng có thể nâng tâm hồn lên cảnh giới thanh tao mà cao vời. Nghĩ lại, sự thanh tao, cao vời này vốn dĩ đã thuộc về chính mình, hoặc thuộc về bí truyền của tổ tiên, chỉ là ngày thường bị vô số chuyệnn vụn vặt vùi lấp mà thôi. Thơ Đường giống như chày ngọc gõ cửa, đinh đang leng keng, ong ong râm ran, bỗng chốc mở toang cánh cửa tâm hồn, cho chúng ta thấy một bản thân vô cùng tốt đẹp.
Bản thân này, thoạt nhìn có vẻ bình thường, vậy mà cũng có thể theo sự chỉ dẫn của con chữ xa xôi, hoàn thành sức tưởng tượng hào phóng nhất, nỗi nhớ nhung sâu thẳm nhất, sự quan sát tinh tế nhất, sự lắng nghe tỉ mỉ nhất, sự đồng cảm nhân từ nhất, sự siêu việt phóng khoáng nhất.
Bản thân này, thoạt nhìn có vẻ vướng bận chuyện trần tục, vậy mà cũng có thể cùng non cao cúi ngẩng, cùng mây trắng cuộn bay, cùng biển rộng sáng râm.
Bản thân này, thoạt nhìn học lực không cao, vậy mà cũng có thể bắt kịp nhịp điệu tao nhã ấy, âm vận lanh lãnh ấy, văn từ hoa quý ấy.
Một bản thân như thế, ở bất cứ nơi đâu cũng sẽ là điều hiếm có, nhưng nhờ có thơ Đường, ở Trung Quốc lại trở thành một sự tồn tại thường thái vô cùng phổ biến.
Chính vì nguyên nhân này, tôi mới nói, dù thế nào cũng không nỡ rời bỏ mảnh đất sinh ra thơ Đường, thậm chí sẵn sàng kiếp sau lại đầu thai làm người Trung Quốc.
Tôi cũng coi là một người đi khắp thế giới, đối với thông tin văn hóa giữa các quốc gia không hề xa lạ, đương nhiên biết nơi nào cũng có ý thơ, sẽ không sa vào vũng bùn chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi trong vấn đề này. Nhưng chính vì nhìn thấy nhiều, tôi cũng có lý do để đưa ra một phán quyết công bằng: Giống như người Trung Quốc trong âm nhạc tôn giáo và múa hiện đại hoàn toàn thua xa một số dân tộc trên thế giới, thơ Đường là đỉnh cao sừng sững của loài người trong lĩnh vực thơ ca cổ điển, rất khó tìm được đối tượng có thể sánh vai với nó.
Hai
Rất nhiều lịch sử văn học khi nhắc đến thơ Đường, đầu tiên đều dùng số lượng nhà thơ và tác phẩm để chứng minh, thời Đường là một "thời đại thơ ca".
Nói vậy cũng không hẳn là không được, nhưng nên hiểu rằng, số lượng không phải là yếu tố quyết định. Điều này cũng giống như, bây giờ cho dù ai ai cũng đi hát karaoke, cũng không thể chứng minh đây là một "thời đại âm nhạc".
Nếu nói về số lượng, "Toàn Đường Thi" mà chúng ta đều biết thu nhận hơn bốn vạn chín nghìn bài thơ, bao gồm hơn hai nghìn tám trăm tác giả. Đương nhiên đây không phải là toàn bộ tác phẩm thơ thời Đường, mà là thơ Đường được bảo tồn cho đến triều Thanh sau một nghìn năm, thế nhưng vẫn là một đại quan uy nghi. "Toàn Đường Thi" do Khang Hi hoàng đế viết lời tựa, nhưng đến thời Càn Long, số lượng thơ do một mình ông viết ra đã xấp xỉ "Toàn Đường Thi". Bởi vì ngoài "Lạc Thiện Đường Toàn Tập", "Ngự Lễ Thơ Dư Tập", "Toàn Vận Thơ", "Diên Minh Viên Thơ" của ông ra, trong "Vãn Tình Sướng Thi Vạn Thực Hội" nghe nói còn có bốn vạn một nghìn tám trăm bài. Nếu cộng lại với nhau, thực sự sẽ khiến hơn hai nghìn tám trăm tác giả của một nghìn năm trước phải hổ thẹn. Chỉ là, nếu nhìn về chất lượng, Càn Long có thể lấy ra được bài nào chứ?
Làm thơ viết văn theo nghĩa rộng, là việc dễ dàng nhất trên đời, bất kỳ ai đã biết đặt câu chỉ cần buông lỏng tay ra đều có thể tiện tay tô vẽ ra một đống lớn. Cho đến ngày nay chúng ta vẫn thường xuyên thấy rất nhiều quan chức đương đại bận rộn xuất bản tập thơ văn, về số trang, độ dày và cách đóng gáy hầu như đều có thể vượt qua danh tác thế giới, và nghe nói họ vẫn tiếp tục sản xuất năng suất cao, khuyên cũng không cản được. Điều này lại khiến tôi nhớ đến Càn Long. Ông mê muội viết thơ như vậy, văn võ bá quan ngày ngày hô hào cổ vũ, sau đó cuối cùng cũng có một vị quan tên là Lý Thận Tu mạnh dạn dâng sớ, khuyên ông không cần phải dùng việc viết thơ để thể hiện tài trị quốc của mình. Càn Long vừa nhìn thấy, lập tức lại phun ra một bài tuyệt cú —
Thận Tu khuyên ta chớ làm thơ, ta cũng biết thơ không thể làm.
Nhưng trong lúc nhàn nhã thanh thản, lại đem việc gì để tiêu khiển thời giờ đây?
Đối với việc này, người nay Tiền Chung Thư châm biếm rằng, Lý Thận Tu vốn dĩ là muốn dùng một thứ gì đó để đè nén ngọn lửa ham muốn viết thơ của Càn Long, không ngờ không những không đè nén được, mà thứ đó cũng bốc cháy theo, ngược lại còn tiếp thêm một bùng lửa.
Từ ngọn lửa này, chúng ta cũng có thể thấy được tài thơ của Càn Long rồi. Nhưng nói cho công bằng, tài thơ của Càn Long tuy kém cỏi, nhưng cũng còn trôi chảy mộc mạc hơn thơ của rất nhiều quan chức hiện nay một chút.
Nhắc đến Càn Long khi nói về thơ Đường, dường như hoàn toàn không tương ứng, nhưng không thể trách tôi được, ai bảo vị hoàng đế này lại dùng số lượng thơ của một mình mình để so kè với "Toàn Đường Thi" chứ!
Thực ra, thơ Đường là thứ không thể đem ra so sánh, ngay cả ở thời Tống, trong tay một số nhà thơ kiệt xuất cũng đã không thể rồi.
Đó là vì, đàn thơ Đường có một phong thái đại trượng phu chưa từng có, ngay cả nỗi buồn cũng hào sảng, ngay cả sự quanh co cũng thấu triệt, ngay cả tình riêng cũng sảng khoái, ngay cả ẩn ngữ cũng rực rỡ. Khí tượng này, sau đời Đường chưa từng xuất hiện lại một cách trọn vẹn, cho nên lại là tuyệt diệu độc nhất.
Quan trọng hơn là, khí tượng này, đã được mấy vị nhà thơ thực sự vĩ đại tiếp nhận và phát huy, trở thành một nhân cách, tỏa ra hơi ấm miên man không dứt với lịch sử.
Ba
Bàn về thơ Đường, đầu tiên đương nhiên là Lý Bạch.
Lý Bạch luôn khiến người ta cảm thấy kinh ngạc. Tôi phải mất một thời gian rất lâu mới phát hiện ra một bí mật, đó là, sự kinh ngạc của chúng ta đối với ông, chính lại xuất phát từ sự kinh ngạc của ông, cho nên đó là một sự truyền tải kinh ngạc. Cả đời ông vẫn luôn kinh ngạc trước non nước, kinh ngạc trước nhân tính, kinh ngạc trước chính mình, điều này khiến ông trở nên vô cùng ngây thơ. Chính cái sự ngây thơ kinh ngạc này, hay nói cách khác là sự kinh ngạc ngây thơ, đã lay động sâu sắc tất cả mọi người.
Chúng ta đọc trong thơ ông nào là thục đạo ngàn đời, Hoàng Hà chín khúc, thác nước bay tuôn, còn có thể đọc được ánh mắt của ông, dăm phần hoảng hốt, dăm phần kinh thán, dăm phần khó hiểu, dăm phần ngẩn ngơ. Điều đầu tiên đả động độc giả, chính là ánh mắt này, chứ không phải cảnh vật. Sau đó nương theo ánh mắt ông ngắm nhìn cảnh vật, mới phát hiện cảnh vật quả nhiên kỳ vĩ như vậy.
Thực ra, lúc này ánh mắt của độc giả cũng đã thay đổi, Lý Bạch sinh ra là để cải tạo ánh mắt của con người. Từ trước đến nay những đại thi nhân thực sự đều như vậy, nói là ảnh hưởng đến tâm hồn con người, chi bằng nói đều bắt đầu từ việc cải tạo hệ thống cảm giác của con người. Dạy con người ta cách nhìn, cách nghe, cách phát hiện, cách liên tưởng trước, sau đó mới có sự cộng hưởng tầng sâu. Khi sự cộng hưởng ấy qua đi, hệ thống cảm giác vẫn còn tồn tại.
Một Lý Bạch như thế, đến hệ thống cảm giác của mọi người cũng bị ông cải tạo, chắc là sẽ khiến mọi người cảm thấy gần gũi chứ? Thực ra lại không. Ông từ chối việc mọi người quá gần gũi với mình, nguyện ý duy trì một mức độ xa cách nhất định giữa đôi bên. Đây cũng là điểm khác biệt giữa ông và một số nhà thơ hiện thực chủ nghĩa.
Cảm giác xa lạ mà Lý Bạch mang lại cho người ta mang tính tổng thể. Ví dụ như, ông chưa bao giờ nói rõ nơi mình đến và nơi mình đi, chỉ khiến người ta tin rằng, ông nhất định đến từ một nơi xa xôi nào đó không ai biết, nhất định sẽ đi đến một phía trước nào đó không ai hay, ông nhất định sẽ nhìn thấy cảnh vật mà không ai có thể tưởng tượng nổi, nhất định sẽ sinh ra bút mực mà không ai có thể hình dung được...
Ông cũng từng viết những câu thơ khiến bất kỳ ai cũng sinh ra cảm giác gần gũi như "Cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương", nhưng ngay sau đó lại nảy sinh một vấn đề gay cấn: Đã nhớ quê như vậy, tại sao mãi mãi không về quê nhà? Ông có đủ sự tự do về thời gian và không gian, thỉnh thoảng về quê không phải là chuyện khó khăn gì. Thế nhưng, vị nhà thơ viết nên "bài thơ nhớ quê đệ nhất Trung Quốc" này lại kiên quyết lưu đày chính mình ở xứ người, thậm chí không để cho bất kỳ chốn khách quê nào thực sự trở nên thân thuộc, hễ có chút thân mật là nhấc chân bỏ đi. Hóa ra, sinh mệnh của ông cần sự xa lạ, sinh mệnh của ông thuộc về sự xa lạ.
Vì thế, ông giống như chiếc thuyền không cột, ngày ngày đuổi theo sự xa lạ, và duy trì sự kinh ngạc trong cuộc rượt đuổi đó. Thế nhưng, nhà thơ suy cho cùng khác với nhà khảo sát địa lý, ông lại muốn dung hòa sự xa lạ vào thân tâm, ôm trọn xứ người vào lồng ngực. Yếu tố đầu tiên giúp ông hoàn thành sự chuyển hóa tinh thần này, chính là rượu. "Nhân phân thiên lý ngoại, hưng tại nhất bôi trung", "Đán sử chủ nhân năng túy khách, bất tri hà xứ thị tha hương", đều nói lên cơ duyên huyền bí ở chốn này. Yếu tố thứ hai giúp ông hoàn thành sự chuyển hóa tinh thần đó, chính là thơ.
Đối với bạn bè, Lý Bạch cũng là tìm sự quen thuộc trong xa lạ, tìm sự xa lạ trong quen thuộc. Là một kẻ lãng du vĩnh viễn, ông đương nhiên rất thích kết bạn. Trên lưng ngựa nhìn thấy người qua đường đi ngược chiều, liếc mắt một cái thấy có vẻ nói chuyện được, ông đã nắm roi ngựa chắp tay hành lễ rồi. Nếu tâm đắc hợp ý, lại bàn đến chuyện thơ ca, thì đã trở thành huynh đệ, có thể ăn ở không phân chia rồi. Ông kết giao với Đỗ Phủ sau đó thậm chí còn đến mức "Túy miên thu cộng bị, huề thủ nhật đồng hành", đủ thấy là thế nào.
Thế nhưng, so với Đỗ Phủ, Lý Bạch không tính là một người bạn chung tình nhất, sâu sắc nhất. Vừa mới từ biệt, ông lại vội vã hòa mình vào non nước kỳ dị, và giữa những non nước ấy lại liên tục chắp tay trên lưng ngựa, chào đón những người huynh đệ tốt mới. Ông cứ luôn muốn tìm tiên hỏi đạo, rất khó coi tình bạn là một mục tiêu ổn định. Ông sẽ yêu cầu người bạn mới quen cùng đi thăm một vị đạo sĩ ở ẩn. Phát hiện ra đạo sĩ đã qua đời, liền nghe ngóng đối tượng đáng ghé thăm tiếp theo, chứ cũng không bắt buộc người bạn phải tiếp tục đi cùng mình. Thế là, lại một màn từ biệt đầy thơ tính, mây nước bị ríu rít, bóng buồm mờ mịt.
Từ xưa đến nay luôn có người bàn tán xôn xao về tình bạn giữa Lý Bạch và Đỗ Phủ, cho rằng Đỗ Phủ từng viết rất nhiều thơ hoài niệm Lý Bạch, mà Lý Bạch lại viết rất ít. Cũng có người đưa ra giải thích cho việc này, cho rằng thơ của Lý Bạch thất lạc quá nhiều, trong đó chắc chắn bao gồm rất nhiều bài thơ hoài niệm Đỗ Phủ. Đây là một thiện ý, và cũng có khả năng thực sự là như vậy. Thế nhưng, nên thấy rằng, việc ép buộc sự cân bằng giữa họ trong tình bạn là không có ý nghĩa, bởi vì suy cho cùng đây là hai kiểu người khá khác biệt. Dù khác biệt, nhưng không hề ảnh hưởng đến sự cao quý ngang nhau của họ trong lĩnh vực tình bạn.
Điều này giống như Đại Bằng và Hồng Nhạn gặp nhau, phút chốc cánh lớn cuộn múa, sông núi cùng chiêm ngưỡng. Nhưng sau khi chúng từ biệt nhau, Hồng Nhạn không ngừng cất tiếng kêu vang thấp cao cho cuộc hội ngộ này, còn Đại Bằng thì đã tung tăng dạo chơi ngoài biển Nam bể Bắc, không vướng bận chút nào. Sự khác biệt lớn đến thế, nhưng chúng đều là cánh lớn trời cao, bóng kiêu chín từng.
Bạc
Lý Bạch và Đỗ Phủ gặp nhau vào năm 744. Năm đó, Lý Bạch 43 tuổi, Đỗ Phủ 32 tuổi, chênh lệch 11 tuổi.
Nhiều năm trước tôi từng thắc mắc về độ tuổi này, bởi vì từ nhỏ đọc thơ Đường vẫn luôn cảm thấy Đỗ Phủ lớn tuổi hơn Lý Bạch. Lý Bạch anh tư bừng bừng, tràn ngập ngây thơ, không thể tưởng tượng nổi sự già nua của ông; còn Đỗ Phủ thì ôn lương thuần hậu, từ tốn như một bậc trưởng giả, sao lại có chuyện đảo lộn tuổi tác như thế? Từ đó có thể thấy, âm hưởng sinh mệnh mà phong cách nghệ thuật phản chiếu, sẽ hoán đổi thành hình ảnh tuổi tác khác nhau trong lòng độc giả. Hình ảnh tuổi tác này, thường có sự chênh lệch lớn so với tuổi thật.
Thực tế, Lý Bạch không chỉ lớn hơn Đỗ Phủ 11 tuổi về mặt tuổi tác thực tế, mà còn đi trước Đỗ Phủ trọn vẹn một thế hệ về bậc vế trong thi đàn. Đó là, họ lần lượt đại diện cho hai thời kỳ hoàn toàn khác nhau của nhà Đường trước và sau loạn An Sử. Những tác phẩm xuất sắc của Lý Bạch, phần lớn đã được viết ra trước loạn An Sử, trong khi các tác phẩm xuất sắc của Đỗ Phủ lại chủ yếu ra đời sau loạn An Sử.
Thời gian và thân phận khác biệt cách nhau bởi một cột mốc rõ rệt này, khiến hai người khi gặp nhau có một cảm giác kỳ lạ. Lý Bạch lúc đó đã nổi danh thiên hạ, mà Đỗ Phủ vẫn chỉ là mới lộ diện. Đỗ Phủ từ sớm đã đọc thuộc lòng rất nhiều bài thơ nổi tiếng của Lý Bạch, lúc này nhìn thấy người thật, lòng sùng kính không sao kể xiết. Một người đạt được tiếng tăm xã hội to lớn thường có một sự thoải mái và phóng khoáng mà người khác không thể bắt chước, phong thái này rơi vào người Lý Bạch lại càng khiến ông thêm phần phơi phới thần thái. Đỗ Phủ trước mắt vừa vặn là người cảm nhận rõ nhất thần thái này, cho nên nhất thời ông hoàn toàn mê đắm, bị cuốn hút bởi nhân cách mang màu sắc thơ ca của Lý Bạch.
Lý Bạch nhìn thấy Đỗ Phủ cũng sáng rực cả mắt. Từ trước đến nay ông không mấy giỏi nhìn người, thường xuyên bị lừa gạt, nhưng đó là ở chốn quan trường và thị dã. Nếu muốn ông nhận diện một nhà thơ, ông rất khó nhìn lầm. Dù hoàn toàn không quen biết, chỉ cần ngâm vài câu, trò chuyện vài câu, là có thể lập tức đưa ra phán quyết. Đỗ Phủ khiến ông kinh thán, thế là hai người nhanh chóng trở thành bạn tốt. Ông đương nhiên không thể đoán trước, người thanh niên trước mắt này, sẽ cùng ông trở thành bậc chí tôn nắm giữ vương quốc thi ca văn minh Hoa Hạ mấy ngàn năm mà không ai có thể dòm ngó; nhưng ông đã cảm nhận được, ngọn gió thiên tài không thể ngăn cản đang ập tới trước mặt.
Họ uống mấy vạn chén rượu rồi lên ngựa, quyết định cùng nhau đi săn.
Điểm xuất phát của họ cũng là nơi họ gặp nhau, ở phía đông nam thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam ngày nay, địa danh cũ gọi là Trần Lưu. Đi đâu săn bắn đây? Hướng đông, lại hướng đông, đi qua huyện Kỷ, huyện Tuy, huyện Ninh lăng ngày nay, đến Thương Khâu; từ Thương Khâu đi về bắc, cho đến địa giới Sơn Đông ngày nay, lúc đó có một vùng đầm lầy lớn, đây chính là nơi hai vị đại thi nhân có một không hai của chúng ta dong ngựa săn bắn.
Cùng đi săn với họ lúc đó, còn có nhà thơ nổi tiếng Cao Thích. Cao Thích kém Lý Bạch ba tuổi, thuộc cùng thế hệ. Vị nhà thơ có thể viết ra những câu thơ hào sảng như "Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ, thiên hạ thủy nhân bất thức quân", "Tá vấn mai hoa hà xứ lạc, phong suy nhất dịch mãn quan san" này, lúc đó đang "lăn lộn chốn ngư tiều", "hát cuồng chốn cỏ hoang" ở quanh vùng này. Nói cách khác, ông mang hoài bão lớn lao mà chật vật mưu sinh ở tầng lớp thấp nhất của xã hội, lãng phí thời gian một cách tẻ nhạt. Tôi không biết lúc đó ông quen thuộc với Đỗ Phủ đến mức nào, nhưng hễ nghe tin Lý Bạch đến, nhất định sẽ vô cùng phấn khích. Đây là mảnh đất của ông, từng khe rãnh mương ngòi đều nằm lòng trong bàn tay, để ông làm hướng dẫn đi săn, không còn gì phù hợp hơn.
Chen chúc bên cạnh ba người họ, còn có một nhà thơ trẻ, không mấy tên tuổi, tên là Giả Trí, kém Đỗ Phủ sáu tuổi, lúc đó mới 26 tuổi. Tuy tuổi còn nhỏ, nhưng cậu ta lại là chủ nhân thực sự ở địa phương, bởi vì cậu ta đang làm Huyện úy ở phía bắc vùng đầm lầy lớn này, chính là huyện Đơn tỉnh Sơn Đông ngày nay, lo liệu mọi việc sẽ thuận tiện hơn. Vì sự lo liệu lần này của cậu ta, tôi còn đặc biệt đọc tập thơ của cậu ta — viết cũng tạm ổn, nhưng lại thiếu đi một khí phách, đặc biệt là khi đặt cạnh đại thi nhân ở bên cạnh ngày hôm đó, lại càng trở nên tầm thường hơn. Giả Trí còn dẫn theo một số người dân địa phương đến góp vui, trong đó cũng có mấy người biết làm thơ.
Thế là, một đội kỵ mã hình thành. Trong tưởng tượng của tôi, đi ở đầu tiên là Cao Thích, ông dẫn đường; tiếp theo là Lý Bạch, ông là nhân vật chính của đội kỵ mã, do Giả Trí đi cùng; lùi lại phía sau một chút là Đỗ Phủ, anh thường xuyên vượt lên trước hai bước sóng vai cùng Lý Bạch; những người do Giả Trí dẫn theo, đi ở phía sau.
Vùng đầm lầy lớn lúc bấy giờ có rất nhiều động vật hoang dã. Họ đi chưa bao lâu đã giương cung rút tên, quất roi giục ngựa, lao vút hò hét lên. Cao Thích và Giả Trí còn mang theo mấy con chim ưng săn mồi, lúc này cũng lao vút vào đám cỏ như chớp. Tiếng cung tên vang lên, con mồi đổ rạp xuống, mọi người đồng thanh hô vang, vẻ mặt của tất cả mọi người đều không giống những thợ săn trầm mặc ít nói ở chốn này, mà giống những đứa trẻ đang rượt đuổi vui đùa hơn. Trong đội kỵ mã, người hò hét to nhất chắc là Lý Bạch, còn người kỵ nghệ giỏi nhất chắc chắn là Cao Thích.
Con mồi không ít, mọi người cảm thấy dựng lửa nướng ăn ngoài đồng là thơm nhất tươi ngon nhất, nhưng Giả Trí nói trong thành đã sớm chuẩn bị sẵn tiệc rượu rồi. Khó từ chối thị tình, vậy thì vào thành thôi. Đến tiệc rượu, vài chén rượu vào bụng, thơ liền tuôn ra. Đây là chốn nào chứ, người ngâm thơ tức cảnh không phải ai khác, chính là Lý Bạch và Đỗ Phủ, ngay cả Cao Thích cũng chỉ có thể nép sang một bên, đúng là xa hoa tột đỉnh.
Những năm gần đây tôi thường xuyên đến vùng Trần Lưu, Thương Khâu, Đơn Đông, mỗi lần đều dừng chân lâu bên vệ đường, tưởng tượng về những tiếng móng ngựa tiếng tên xé gió, những tiếng hò hét kinh ngạc ấy. Nơi các đại văn hào cổ đại Trung Quốc để lại dấu vết sinh mệnh, thông thường vốn dĩ đã quá sâu sắc, quá oán hận, quá bi tráng, những nơi như thế chúng ta đã thấy quá nhiều rồi. Mà ở đây, chỉ có niềm vui thuần túy, chỉ có sự dũng cảm của trò chơi, không phải biên tái, cũng chẳng phải sa trường, dường như không có lý do để nghìn năm ghé lại, thế nhưng, tôi hoài nghi chúng ta đã hiểu lầm trước đây.
Thơ có dung mạo nhã nhặn, nhưng bản chất của nó lại là sự bùng nổ của sức sống. Bất luận là cá thể thơ, quần thể thơ, thời đại thơ đều như vậy. Sự nhã nhặn không có sức sống, không phải là thứ thơ mà chúng ta yêu thích. Cho nên, vùng hoang dã nơi nhà thơ dùng móng ngựa viết thơ, thực sự có thể coi là cuốn sách giáo khoa vĩ đại bị chúng ta bỏ quên từ lâu.
Nơi nhà thơ dùng móng ngựa viết thơ cũng không ít, nhưng nơi này, là Lý Bạch, Đỗ Phủ cùng nhau viết, điều này thật quá kinh khủng!
Tôi từng có ý định, học cưỡi ngựa thật nghiêm túc, đến đó phi nước đại mấy ngày. Vùng đất đó đã không còn là nơi săn bắn nữa, nhưng, tổng vẫn có thể cao giọng hò hét chứ? Tổng vẫn có thể ngâm tụng vài bài thơ của họ chứ?
Trong hoạt động đi săn lần đó, Cao Thích đã ở cùng Lý Bạch, Đỗ Phủ một thời gian dài, và không ngừng được họ cổ vũ, quyết định thay đổi cách sống. Rất nhanh sau đó ông rời khỏi vùng này để du lãm.
Lý Bạch và Đỗ Phủ chơi từ mùa thu cho đến mùa đông. Sau khi chia tay, mùa xuân năm sau lại gặp nhau ở Sơn Đông, Cao Thích cũng chạy đến. Chẳng bao lâu sau, lại một lần từ biệt; lại một lần hội ngộ, lúc đó đã là mùa thu rồi. Khi mùa đông sắp đến, hai vị đại thi nhân Lý Bạch và Đỗ Phủ đã vĩnh biệt nhau.
Lúc đó họ đều không biết đây là lần vĩnh biệt, Lý Bạch nhân lúc chia tay còn viết bài thơ "Hà thời thạch môn lộ, trọng hữu kim tôn khai", nhưng chén vàng không bao giờ mở ra nữa. Cho nên, thời gian giao du của hai vị đại thi nhân này tính ra chỉ có hơn một năm một chút, ở giữa còn có không ít thời gian không ở bên nhau.
Rất nhiều tình bạn trân quý nhất trên đời đều là như vậy, thoạt nhìn thân thiết đến mức thiên hoang địa lão, biển cạn đá mòn nhưng hỏi kỹ lại thì rất ít khi gặp mặt. Ngược lại, nửa đời ngồi đối mặt trong một văn phòng, rất có thể còn chưa đặt chân lên bậc cửa ngoài cùng của tình bạn.
Chính ngay tròn mười năm sau khi Lý Bạch và Đỗ Phủ từ biệt, loạn An Sử bùng nổ. Lúc đó, Lý Bạch đã 54 tuổi, Đỗ Phủ 43 tuổi. Họ và nhà Đường, đều không còn tuổi thanh xuân nữa.
Vẫn là đất đai, móng ngựa, móng ngựa, đất đai, nhưng nội dung đã thay đổi.
Năm
Trong cục diện chính trị hỗn loạn to lớn, khổ sở nhất là bách tính, chật vật nhất là nhà thơ.
Tại sao nhà thơ lại chật vật nhất?
Thứ nhất, bởi vì họ nhạy cảm, cảnh tượng tang thương khắp chốn khiến gan ruột họ cháy như lửa đốt; thứ hai, là bởi vì họ tự tin, hễ thấy nguy nan là muốn hành động theo logic của chính mình; thứ ba, là bởi vì họ ngây thơ, không biết rằng logic thời loạn và logic tâm lý của họ hoàn toàn khác nhau, hành động của họ không những vấp phải tường ở khắp nơi, mà còn trở nên buồn cười, đáng thương.
Từ xưa đến nay luôn có một số văn nhân Trung Quốc đứng bên thảm họa bàn luận rôm rả về "học thuyết ứng phó thời loạn", "học thuyết duy trì cục diện nguy hiểm", "học thuyết ẩn mình nhân cớ", "học thuyết kết minh phe phái", "học thuyết dò xét nghịch cảnh", "học thuyết lật ngược thế cờ", và gọi tất cả những điều này là "mưu lược Trung Hoa", "trí tuệ sinh tồn". Hơn nữa, bởi vì trên đời người phiền muộn luôn nhiều, người thất ý luôn nhiều, người bất lực luôn nhiều, những lời bàn luận như thế thường rất được đón nhận, thậm chí gây chấn động một thời. Thế nhưng, tất cả những điều này đối với những nhà thơ thực thụ mà nói thì hoàn toàn vô dụng. Họ nghe không hiểu, cũng không muốn nghe. Đây không phải vì họ ngu ngốc, mà là vì trong sự nghiệp thi ca lâu dài, họ đã biết được các tầng cấp khác nhau của nhân sinh. Hạ thấp tầng cấp để quan sát sắc mặt người khác, luồn cúi vươn tay, có đánh chết họ cũng không làm.
Họ quả thực "không hợp thời", thế nhưng, cũng chính vì thế, mới để lại cho cõi đời những linh hồn vượt lên trên mọi thứ "thời", để cho độc giả các thời đại khác nhau xích lại gần nhau hết lần này đến lần khác.
Đêm trước khi loạn An Sử bùng nổ, Lý Bạch đang đi lại giữa Thương Khâu tỉnh Hà Nam và Tuyên Thành tỉnh An Huy ngày nay. Thương Khâu lúc đó gọi là Lương Uyển, người vợ thứ ba kết hôn mới được bốn năm của Lý Bạch sống ở đó. Khi loạn An Sử bùng nổ, quân phản loạn tấn công Thương Khâu, Lý Bạch liền dẫn vợ chạy trốn về phương nam đến Tuyên Thành, sau đó lại rẽ về tây nam trốn đến Lư Sơn ở Giang Tây để tránh họa.
Lý Bạch là một người hiểu rõ đại nghĩa, vô cùng căm hận hành vi phản loạn mưu giằng xé thiên hạ bằng máu và lửa của An Lộc Sơn. Ông cầu mong triều đình nhà Đường sớm ngày khôi phục, chỉ hận bản thân không biết làm thế nào để góp sức. Vào thời đại hoàn toàn không có truyền thông, hầu như không có thông tin liên lạc đó, Lý Bạch vô cùng lo lắng giữa làn sương mù dày đặc của Lư Sơn.
Nhà Đường lúc bấy giờ, đang trên con đường hoang vắng chạy trốn hộc tốc. Chạy trốn từ Tây An đến Thành Đô, nửa đường còn xảy ra binh biến, Đường Huyền Tông bị ép bức phải ban chết cho Dương Quý Phi. Đường Huyền Tông hoảng sợ mà thê lương đã rất khó xử lý chính sự, liền giao phó thiên hạ giang sơn thành một sự phân chia đơn giản nhất: Lệnh cho con trai là Lý Hưởng trấn giữ lưu vực Hoàng Hà, lệnh cho con trai khác là Lý Lân trấn giữ lưu vực Trường Giang. Lý Hưởng đã được phong làm Thái tử, Lý Lân đã được phong làm Vĩnh Vương. Lư Sơn nơi Lý Bạch ẩn náu, thuộc quyền quản lý của Lý Lân.
Lý Lân từng đọc thơ của Lý Bạch, tình cờ biết được nơi ẩn nấp của ông, liền ba lần phái một người tên là Vệ Tử Xuân lên núi mời ông gia nhập mạc phủ. Mạc phủ gọi là phủ thự của đại thần quân chính, Lý Lân muốn Lý Bạch tham chính, đảm nhận vai trò kiểu như cố vấn chính trị.
Lý Bạch sớm đã có chí lập công lập nghiệp, huống chi là trong lúc xã gia lâm nạn này, đương nhiên đồng ý ngay tắp lự. Trong lòng ông, lưu vực Hoàng Hà đã bị quân phản loạn giày xéo, giúp Vĩnh Vương Lý Lân trấn giữ lưu vực Trường Giang là nhiệm vụ cấp bách. Sau đó, còn phải đánh về lưu vực Hoàng Hà, "thệ dục thanh U Yên", "bất tích vi khu quyên".
Đã vậy, Lý Bạch xuống núi ngay là được rồi, tại sao lại còn phiền Vệ Tử Xuân phải lên núi mời tới ba lần? Đó là vì, vợ của Lý Bạch không đồng ý. Người vợ này của Lý Bạch họ Tông, là cháu gái của Tể tướng Tông Sở Khách thời Võ Tắc Thiên, có tư duy chính trị rất tốt. Trong lòng bà, người ông có nhiều kinh nghiệm chính trị như vậy cũng sẽ vì không cẩn thận tham gia vào một cuộc tranh giành cung đình mà bị xử tử, quan lộ thực sự là không thể đoán trước. Bà không hoài nghi tính chính nghĩa của việc chồng tham chính, nhưng mấy năm chung sống vợ chồng đã khiến bà hiểu sâu sắc điểm yếu của người chồng đáng yêu của mình trong vấn đề chính trị, đó là tràn ngập lý tưởng mà thiếu đi khả năng phán đoán, tự đánh giá quá cao mà thiếu đi khả năng thực thi. Người bà yêu, chính là một người chồng ngày ngày chỉ biết uống rượu, làm thơ, mà lại còn ảo tưởng có thể phò tá triều đình giống như Quản Trọng, Yến Anh, Phạm Lãi, Trương Lương, nếu chồng một khi thực sự đem ảo tưởng ra hiện thực hóa, không hỏng việc mới là lạ.
Vì thế, vợ chồng đã xảy ra cãi vã. Kéo dài một số ngày, Lý Bạch cuối cùng cũng viết "Biệt nội phó chinh tam thủ", xuống núi "phó chinh", đi đầu quân cho Lý Lân rồi. Thế nhưng, khung cảnh rời nhà ông vẫn luôn nhớ rõ: "Xuất môn thê tử cưỡng khiên y..."
Sự thật nhanh chóng chứng minh, sự lo lắng của vợ không phải là thừa. Lý Bạch quả thực không phân biệt nổi cục diện chính trị phức tạp.
Lý Lân cố nhiên tiếp nhận chỉ lệnh của cha là Đường Huyền Tông, nhưng vào lúc đó anh trai ông ta là Lý Hưởng đã với thân phận Thái tử lên ngôi ở Linh Vũ (ở Ninh Hạ ngày nay), trở thành hoàng đế (Đường Túc Tông), và tôn cha là Đường Huyền Tông làm Thái thượng hoàng. Đường Huyền Tông đau khổ thê lương chạy trốn đến Thành Đô, ông ta cũng mãi sau mới biết tin truyền đến từ Linh Vũ xa xôi, và đành phải chấp nhận. Cục diện này đã mang lại phiền phức lớn cho Lý Lân. Ông ta đang tuân theo chỉ lệnh của cha, chiêu binh mãi mã ở vùng Tương Dương, Giang Hạ để dẹp loạn, và xuôi dòng Trường Giang hướng về phía đông, đến Cửu Giang tỉnh Giang Tây (lúc bấy giờ gọi là Tầm Dương), chuẩn bị tiếp tục tiến về phía đông. Thế nhưng, anh trai ông ta là Lý Hưởng lại truyền chỉ lệnh, bắt ông ta rút quân xuôi dòng Giang về Thành Đô, hộ giá bên cạnh cha. Lý Lân không nghe theo Lý Hưởng, vẫn đi về phía đông đến Kim Lăng. Lý Hưởng cho rằng đây là em trai xem thường ngôi vị hoàng đế mà mình vừa mới có được, cố ý kháng chỉ, vì thế sắp xếp lực lượng quân sự tiến sát Lý Lân, chẳng mấy chốc đã đánh nhau.
Trận đánh này đã làm dấy lên sự cảnh giác của các tướng lĩnh dưới quyền Lý Lân. Đại tướng Quý Quảng Sâm nói với mọi người, chúng ta vốn dĩ vì để bảo vệ triều đình nên mới đến chiến đấu với quân phản loạn, sao đột nhiên lại rơi vào nội chiến, lại đi đánh nhau với hoàng đế thế này? Đây chẳng phải thành một cuộc phản loạn khác rồi sao? Hậu thế sẽ đánh giá chúng ta thế nào đây? Mọi người vừa nghe, thấy có lý, liền lần lượt rời bỏ Lý Lân, đội quân của Lý Lân cũng nhanh chóng tan rã. Bản thân Lý Lân bị bắt và giết trong lúc chạy trốn. Tội danh của ông ta, là phản bội triều đình, mưu đồ cắt cứ.
Lần này, Lý Bạch ngẩn người. Ông rõ ràng là đến tham gia thảo phạt quân phản loạn, sao chớp mắt đã trở thành thành viên của một đội quân phản loạn khác? Ông rõ ràng là đến phò tá người thân cận nhất của nhà Đường, sao chớp mắt người thân cận nhất này lại biến thành kẻ thù không đội trời chung của nhà Đường?
Quân lính đều tản đi như chim muông, mà Lý Bạch vẫn còn đó. Điều tồi tệ hơn là, trong mạc phủ của Lý Lân ông là người nổi tiếng nhất, mặc dù ông chưa chắc đã làm gì.
Thế là, hơn nửa đất nước Trung Quốc đều biết, Lý Bạch đã lên "thuyền giặc".
Chiếu theo một thói quen tâm lý bất lương của người Trung Quốc, người càng có tiếng tăm mà xảy ra chuyện, càng có thể kích thích sự hưng phấn xã hội to lớn. Chẳng bao lâu sau, mọi người đều cho rằng Lý Bạch đáng tội chết, không giết không đủ để bình dân phẫn. Tất cả những kẻ hào sảng lên án, trước đây toàn là "fan cuồng của Lý Bạch".
Lý Bạch chỉ đành chật vật trốn chạy. Trốn đến Bành Trạch tỉnh Giang Tây thì bị bắt, áp giải vào ngục ở Cửu Giang. Vợ chạy đến nhà ngục, vừa nhìn thấy liền ôm mặt khóc lớn. Lý Bạch cảm thấy, điều khiến ông cảm thấy có lỗi nhất chính là vợ.
Đường Túc Tông hạ chiếu phán lưu đày Lý Bạch đi Dạ Lang (ở Quý Châu ngày nay). Mùa đông giá rét năm 757, Lý Bạch cùng vợ khóc biệt bên bờ sông Tầm Dương. Hơn một năm sau, Đường Túc Tông vì Quan Trung hạn hán mà ban bố sắc lệnh, Lý Bạch cũng nằm trong phạm vi được ân xá.
Khi nghe được sắc lệnh, Lý Bạch đang đi ngang qua vùng Quỳ Châu, ông vui mừng khôn xiết, lập tức quay người bắt thuyền, xuôi dòng đông hạ Giang Lăng. Ông cất tiếng ngâm trên mũi thuyền một bài thơ mà không biết bao nhiêu người Trung Quốc có thể đọc thuộc lòng —
Triều từ Bạch Đế thái vân gian, thiên lý Giang Lăng nhất nhật hoàn.
Lưỡng ngạn vươn thanh đê bất trụ, khinh châu dĩ quá vạn trùng sơn.
Nhanh, nhanh, nhanh! Mau chóng trốn khỏi vũng bùn chính trị mà ngay cả bản thân cũng hoàn toàn không hiểu rõ ấy, đi đuổi theo tình thơ đã đánh mất từ lâu. Đuổi theo tình thơ cũng chính là đuổi theo bản ngã, cái bản ngã từng được Cửu Châu quen thuộc, từng bị vợ ôm lấy không buông ấy, cái bản ngã cứ ngỡ đã tìm thấy nhưng lại hóa mất đi ấy.
Lần quay đầu đuổi theo này, có rạng đông đưa tiễn, có dòng sông làm chứng, có tiếng vượn cổ vũ, có muôn núi nhường đường, cho nên, chiếc thuyền sinh mệnh vốn mang nặng trĩu nay lại biến thành thuyền nhẹ.
Chỉ là, ngọn gió sông hiu hiu đã cảm nhận được, vị nam nhân đứng trên mũi thuyền này đã điểm bạc mái đầu. Năm nay ông đã 58 tuổi, sinh mệnh mà ông có thể đuổi theo chỉ còn lại bốn năm.
Trước đó, rất nhiều bạn bè vẫn luôn nhớ nhung ông, mà người lo lắng sâu sắc nhất là hai người bạn cũ.
Người thứ nhất đương nhiên là Đỗ Phủ. Ông nghe nói triều đình khi bàn luận về vụ án của Lý Bạch từng xuất hiện dư luận "người đời đều muốn giết", sau đó lại không nhận được tin tức liên quan đến Lý Bạch, liền viết một bài ngũ luật. Tên bài thơ vô cùng trực diện, gọi là "Bất kiến", tự chú "gần đây không có tin tức của Lý Bạch". Toàn bài thơ như sau:
Bất kiến Lý sinh cửu, dương cuồng chân khả ai.
Thế nhân giai dục sát, ngô ý độc lân tài.
Mẫn tiệp thi thiên thủ, phiêu linh tửu nhất bôi.
Khu Sơn độc thư xứ, đầu bạch hảo quy lai.
Người thứ hai là Cao Thích. Lúc trước Đường Túc Tông Lý Hưởng hạ lệnh dùng binh với người em trai không nghe lời là Lý Lân, một trong những sĩ quan nhận lệnh chính là Cao Thích. Lý Bạch lúc đó đang ở trong doanh trại của Lý Lân, rất nhanh đã biết tin tức này.
"Cao Thích?" Tiếng móng ngựa khi đi săn ở vùng đầm lầy lớn mười năm trước, lại vang lên bên tai.
Cao Thích đương nhiên biết sớm hơn, trong số những đối tượng mà mình phải đi thảo phạt, có một người lại chính là Lý Bạch. Ông đã chật vật trên lưng ngựa ba ngày, lo lắng không biết khi nào trong một đám đông tù binh bị binh lính trói lôi đến lại phát hiện ra gương mặt quen thuộc đó, lúc đó phải xử lý thế nào đây...
Sáu
Vậy còn bản thân Đỗ Phủ thì sao?
Đêm trước loạn An Sử, Đỗ Phủ vừa mới có được một chức quan nhỏ, nhiệm vụ là canh giữ binh giáp khí giới, quản lý chìa khóa cửa ngõ.
Để một đại thi nhân quản lý binh khí và cửa ngõ, quả thực là quá ủy khuất rồi, nhưng tôi luôn cảm thấy việc này có ý nghĩa tượng trưng. Ông trời dường như muốn để hệ thống thần kinh nhạy cảm nhất Trung Quốc lúc bấy giờ trực tiếp trải nghiệm xem, binh khí của nhà Đường huy hoàng, làm sao chống lại được biến loạn, cửa ngõ của thành Trường An nguy nga, làm sao ngăn cản nổi quân phản loạn.
Suy cho cùng, Trường An vào giữa thế kỷ thứ 8 quá quan trọng, không chỉ đối với Trung Quốc, mà đối với thế giới, đều là như vậy. Sự phồn hoa đỉnh cao của toàn thế giới lúc bấy giờ sắp bước vào suy tàn, không ai có thể ngăn cản, nhưng thế nào cũng phải tìm ra người chứng kiến có đầy đủ tư cách.
Người chứng kiến tuyệt nhất đương nhiên là nhà thơ. Nhà Đường lớn, Trường An lớn, cho nên nhà thơ này cũng bắt buộc phải lớn. Dường như có sự sắp đặt trong cõi u minh, để Đỗ Phủ nhận lấy mấy chùm chìa khóa đồng đó.
Thân ở kinh đô, lại cầm mấy chùm chìa khóa đồng đó, đương nhiên tỉnh táo hơn Lý Bạch ở cách xa ngàn dặm rất nhiều. Đỗ Phủ đăm đăm nhìn khí tượng mây sà sát đất, gió lạnh quất vào mặt, biết rằng sẽ có đại sự xảy ra.
Sau khi quân phản loạn công chiếm Trường An, Đỗ Phủ nhanh chóng biết tin Lý Hưởng lên ngôi ở Linh Vũ. Thời đại của Đường Huyền Tông đã trở thành thời đại của Đường Túc Tông, với tư cách là quan viên đại Đường, ông đương nhiên phải đi trình diện. Thế nên, ông trốn khỏi thành Trường An, an trí gia đình ở Khương thôn huyện Phù, còn bản thân thì lao vào vùng hoang vu mịt mờ, đi xa đến Linh Vũ.
Thế nhưng, đội kỵ mã của quân phản loạn đã đuổi theo Đỗ Phủ và những kẻ trốn chạy khác, áp giải tất cả trở về Trường An. Đỗ Phủ bị giam cầm như một tù binh. Sự giam cầm này suy cho cùng khác với nhà ngục, quân phản loạn cũng không có quá nhiều lực lượng canh gác nghiêm ngặt, Đỗ Phủ tám tháng sau nhân lúc mùa hè đến, cỏ cây tươi tốt, tìm được một cơ hội trốn thoát khỏi Kim Quang Môn dưới sự che khuất của cỏ cây. Lúc này ông đã nghe tin, Đường Túc Tông rời Linh Vũ đến Phượng Tường. Phượng Tường ở phía tây Trường An, thuộc địa giới Thiểm Xi ngày nay, gần hơn Linh Vũ của Cam Túc rất nhiều. Đỗ Phủ cứ thế nhanh chóng tìm thấy triều đình lưu vong, nhìn thấy Đường Túc Tông. Đường Túc Tông chỉ lớn hơn Đỗ Phủ một tuổi, nhìn thấy vị đại thi nhân trước mắt chân đi giày cỏ, hai ống tay áo lộ khuỷu tay, quần áo rách rưới, có chút cảm động, liền giữ ông lại bên cạnh nhậm chức gián quan, gọi là "Tả Thấp Di".
Đối với việc này, Đỗ Phủ rất phấn khích, giống như sự phấn khích của Lý Bạch trong mạc phủ của Lý Lân vậy.
Thế nhưng, chưa đầy một tháng, Đỗ Phủ đã gặp chuyện, thời gian là vào tháng 5 âm lịch năm 757. Xin hãy chú ý, đây cũng chính là lúc Lý Bạch đối mặt với khủng hoảng to lớn.
Hai vị đại thi nhân, đồng thời gặp khủng hoảng dưới tay hai người con trai của Đường Huyền Tông, chỉ là tính chất khác nhau mà thôi. Phiền phức mà Đỗ Phủ gặp phải nhỏ hơn Lý Bạch một chút, nhưng cũng tương tự, đều là vì nhà thơ không hiểu việc chính trị.
Chuyện của Đỗ Phủ, có liên quan đến một nhân vật hiển hách bên cạnh Đường Túc Tông lúc bấy giờ — Phòng Quản.
Phòng Quản vốn là một trong những cận thần quan trọng nhất của Đường Huyền Tông, khi loạn An Sử xảy ra đã đi theo Đường Huyền Tông từ Trường An trốn đến Tứ Xuyên, chính ông ta đã đề nghị bổ nhiệm Lý Hưởng làm Thiên hạ binh mã nguyên soái để chủ trì dẹp loạn và thu hồi lưu vực Hoàng Hà. Sau đó khi Lý Hưởng lên ngôi ở Linh Vũ, lại chính là ông ta mang ngọc tỷ truyền quốc của Đường Huyền Tông đến Linh Vũ, vì thế, Lý Hưởng vô cùng cảm kích ông ta, rất coi trọng ông ta. Quân phản loạn công chiếm Trường An xong, ông ta tự ứng cử chọn tướng đốc sư phản công Trường An, nhưng lại đại bại trở về, khiến Đường Túc Tông mất hết mặt mũi. Người này ngày thường thích bàn luận suông, vì thế có những người như Lạc Lan Tiến Minh nhân cơ hội châm ngòi ly gián, nói Phòng Quản chỉ trung thành với Đường Huyền Tông, có lòng hai mí với Đường Túc Tông. Điều này chạm đến huyệt nghi ngờ trong lòng Đường Túc Tông, liền giáng chức Phòng Quản.
Trong triều lại có người mưu tính truy tìm phe cánh của Phòng Quản, vu oan một cái gọi là "Phòng đảng". Đỗ Phủ có quen biết Phòng Quản, mà trong cái gọi là "Phòng đảng" lại có một người từng đi săn cùng Lý Bạch, Đỗ Phủ, Cao Thích là Giả Trí. Mọi người còn nhớ chứ, lúc ấy cậu ta làm Huyện úy nhỏ bé ở huyện Đơn, mới 26 tuổi, bây giờ cũng sắp 40 tuổi rồi. Tiếng móng ngựa tuổi trẻ giữa vùng đầm lầy lớn ngày hôm đó, vừa liên quan đến sự đối đầu của Lý Bạch và Cao Thích ở phía đông nam ngày nay, vừa liên quan đến nỗi oan ức của Đỗ Phủ và Giả Trí ở phía tây bắc ngày nay, bốn nhà thơ lúc ấy lao vút hò hét, nào đâu lường trước được kết quả này!
Phiền phức của Đỗ Phủ xuất phát từ sự lương thiện của ông, giống như rắc rối Tư Mã Thiên từng gặp phải năm xưa, nói giúp cho người vừa đột ngột bị giáng chức. Ông dâng sớ cứu viện Phòng Quản, nói Phòng Quản "thiểu tự thụ lập, vãn vi thuần nho, hữu đại thần thể", hy vọng hoàng đế có thể "khí tế lục đại". Đường Túc Tông đang lúc bực bội, nghe những lời mang tính giáo huấn kiểu này, lập tức sầm mặt xuống, muốn trị tội Đỗ Phủ, "giao tam ti thôi vấn".
Chuyện liên quan đến quyền lực tối cao thế này, một khi đã trở thành nhân vật phản diện, thường là lành ít dữ nhiều. May là ấn tượng Đỗ Phủ để lại ngày thường không tệ, Tể tướng mới nhậm chức Trương Cảo và Ngự sử đại phu Vệ Trắc đứng ra nói giúp cho ông, nói "Phủ ngôn tuy cuồng, bất thất gián thần thể". Ý là, gián thần chính là người góp ý mà, tuy thốt lời cuồng ngôn, cũng tha cho ông ta đi. Đường Túc Tông nghe xong cũng thấy phải, liền bảo Đỗ Phủ rời khỏi chức vị, về nhà thăm người thân, sau đó qua nhiều khúc quanh co lại bị giáng làm Hoa Xuyên Tư công tham quân. Giả Trí bị giáng làm Nhữ Châu thứ sử, còn bản thân Phòng Quản, thì bị giáng làm Bân Châu thứ sử.
Hoa Xuyên chính là huyện Hoa tỉnh Thiểm Xi ngày nay. Khi Đỗ Phủ đến, chỉ thấy khắp nơi chim chết cá khô, cỏ hoang ngút ngàn, cảm thấy một vị quan tép riu bị giáng chức như mình đối mặt với khung cảnh trước mắt hoàn toàn bất lực. Đã vậy, thì không nên chiếm giữ chức vị một cách vô ích, Đỗ Phủ liền từ quan đi xa, dẫn gia đình đến Cam Túc tìm người quen, kết quả đói rét giáp lai, lại đành phải rời đi. Trải nghiệm sau này của ông, có thể tóm tắt bằng câu thơ của chính ông: "Ngũ tái khách Thục quận, nhất niên cư Tự Châu. Như hà quan tái trở, chuyển tác Tiêu Tương du." Mùa đông năm 770, Đỗ Phủ bệnh chết trên thuyền ở hồ Động Đình, thọ 58 tuổi.
Đỗ Phủ gần như trải qua cả đời trong cảnh bồng bềnh lưu lạc, đất nước Trung Quốc sau loạn An Sử đã được ông nhìn cho chán chê. Ông rất khác với Lý Bạch: Lý Bạch thường mang kiếm cầu tiên với vẻ mặt phơi phới, dọc đường có người tiếp tế, còn Đỗ Phủ thì chỉ có thể chật vật bôn ba vì cơm áo của vợ con, có những lúc thậm chí giống như người tị nạn không biết đêm nay trọ ở đâu. Thế nhưng, chính trong hoàn cảnh như thế, ông đã tạo ra một sự vĩ đại có một không hai.
Đó chính là, ông đã dồn tâm huyết quan tâm và đồng cảm cực lớn cho muôn dân đất trời. Ngôi làng nhỏ đến đâu, gia đình nghèo đến đâu, khung cảnh khổ sở đến đâu, cũng không thoát khỏi đôi mắt của ông. Ông lặng lẽ ngắm nhìn, tỉ mỉ lắng nghe, thở dài lâu, lặng lẽ rơi nước mắt. Ông không tiền không lực, rất khó mang lại sự giúp đỡ cụ thể, sự giúp đỡ có thể mang lại chính là những giọt nước mắt này và ngòi bút theo sau đó.
Một nỗi khổ đau được quan tâm thì không còn là nỗi khổ đau triệt để nhất, một nỗi khổ đau được miêu tả lại càng không phải là vũng bùn vô vọng nữa. Trung Quốc chưa từng có một văn nhân nào, dùng nhiều câu thơ như Đỗ Phủ để nói cho toàn xã hội biết phương vị và hình thái tồn tại của khổ đau, cũng như sự vô tội và bất lực của những kẻ phải gánh chịu khổ đau. Cho nên, Đỗ Phủ đã trở thành người sáng lập ra "ngữ pháp đồng cảm" trọn vẹn nhất trong lịch sử văn hóa Trung Quốc. Chương trình tâm lý nảy sinh khi văn nhân Trung Quốc đối mặt với nỗi thống khổ của nhân gian sau này, ít nhất một nửa có liên quan đến ông.
Con người có thể nhào nặn được. Một thứ ngữ pháp đặc biệt có thể thay đổi tư duy của con người, một thứ chương trình đặc biệt có thể nhào nặn nhân cách của con người. Văn hóa Trung Quốc vì từng có Đỗ Phủ, nên đã tăng thêm không ít yếu tố thiện lương.
Theo tôi, đây là một đại sự thực sự.
Một đại sự khác liên quan đến đại sự này chính là, sự thiện lương của Đỗ Phủ, toàn bộ đều được thực hiện thông qua cái đẹp. Điều này rất khó làm được, nhưng ông đã làm được. Dưới ngòi bút của ông, việc khổ sở nhất, cảnh ngươc khổ sở nhất, con người khổ sở nhất, tâm can khổ sở nhất, đều có thành phần của cái đẹp. Ông dốc sức khai thác chúng, khiến cái đẹp trở thành phông nền của cái khổ, hoặc khiến cái khổ trở thành sự ánh chiếu lẫn nhau của cái đẹp, thậm chí dứt khoát dung hòa cái đẹp và cái khổ làm một, khó mà tách rời.
Xin lấy một ví dụ nhỏ nhất. Ông trốn chạy bị bắt rồi trở thành tù binh của quân phản loạn, vào đêm Trung thu trong trại tù binh ở Trường An đã viết một bài thơ nhớ nhà. Ông tưởng tượng trong thơ: Con trẻ còn quá nhỏ không hiểu chuyện, cho nên trong đêm Trung thu này, chỉ có một mình người vợ ngẩng đầu nhìn trăng, nhớ nhung mình. Người vợ lúc này có bộ dáng thế nào? Ông viết rằng: "Hương vụ vân tân thấp, thanh huy ngọc tý hàn." Chỉ vài chữ thưa thớt này, đã huy động cả khứu giác, thị giác, xúc giác và các cảm giác khác. Tại sao tóc mai của vợ lại ẩm ướt? Bởi vì sương đêm rất nặng, cô ấy đứng ở bên ngoài nhìn trăng thời gian dài, không thể không ẩm ướt; đã đứng lâu như vậy, thì đôi tay trắng ngần phơi bày dưới ánh trăng kia, chắc cũng nên có chút hơi lạnh rồi chứ?
Tóc mai ẩm ướt và tay áo lạnh ngắt như thế, vừa là cảm giác của người vợ, lại vừa chứa đựng cảm giác xúc giác chân thực như thật như ảo của người chồng, quả thực là vô cùng chân thực. Đương nhiên, thứ bút mực này cũng chỉ có thể văng vẳng với mức độ cực kỳ vừa phải giữa những cặp vợ chồng mỗi người một ngả trong thời kỳ tai ương, nếu không phải mối quan hệ này, thời kỳ này, sẽ cảm thấy có chút ngấy ngúa.
Tôi tốn nhiều bút mực phân tích hai câu thơ như vậy, là muốn minh họa cụ thể, Đỗ Phủ đã dùng cái đẹp để chế ngự khổ nạn như thế nào. Nhân tiện cũng để độc giả lĩnh ngộ, ông và Lý Bạch khác nhau đến nhường nào. Đổi lại là Lý Bạch, tuyệt đối sẽ không tinh tế nhường ấy, tĩnh lặng nhường ấy, hàm súc nhường ấy.
Thế nhưng, phong cách này chưa hẳn đã là toàn bộ của Đỗ Phủ. "Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ, bất tận trường giang cổn cổn lai"; "Bạch Đế thành môn thủy vân ngoại, đê thân trực hạ bát thiên xích"; "Hướng lai hạo thủ kinh vạn nhân, tự ỷ hồng nhan năng kỵ xạ"; "Vân lai khí tiếp Vu Hạp trường, nguyệt xuất hàn thông tuyết sơn bạch"... Những câu thơ thế này, ngay cả Lý Bạch cũng phải kinh thán trước khí phách hào sảng giữa chúng.
Thế giới của Đỗ Phủ, là nơi bất cứ thứ gì cũng có thể bước vào, nơi nào cũng có thể vươn tới. Bạn xem, bất luận ở đâu, "Xá nam xá bắc giai xuân xuân, đán kiến quần âu nhật nhật lai"; "Xá hàm tây lĩnh thiên thu tuyết, môn bạc đông vạn lý thuyền"... Đây chính là không gian vô hạn của ông.
Chính vì thế, thiên địa thơ ca của ông bao la vạn tượng, cái gì cần có đều có đủ. Không chỉ về mặt nội dung là vậy, mà về hình thức, kỹ pháp, phong cách cũng đều như vậy. Đỗ Phủ đã trở thành bậc đại thành tập của thi ca cổ điển Trung Quốc, vừa kế thừa tất cả những gì trước ông, vừa mở ra tất cả những gì sau ông.
Nhân gian đối với ông, lạnh lùng thế, keo kiệt thế, hoang vắng thế; mà ông đối với nhân gian thì hoàn toàn ngược lại, hóa ra lại nhiệt tình thế, hào phóng thế, phong phú thế. Đây chính là Đỗ Phủ.
Mấy chục năm trước, đài truyền hình NHK của Nhật Bản từng tốn mất mấy ngày để phát sóng trực tiếp tôi và một nhóm nhà Hán học người Nhật Bản thảo luận về Lý Bạch và Đỗ Phủ trên con tàu du lịch ở sông Trường Giang. Mấy vị nhà Hán học mỗi người một ý kiến về vấn đề nên thích Lý Bạch hơn hay thích Đỗ Phủ hơn, ngày nào cũng xảy ra tranh luận thú vị. Họ hỏi ý kiến của tôi, tôi nói, tôi sẽ dùng sự nhiệt tình chung thủy suốt đời để luôn dõi theo bóng dáng khỏe khoắn như thiên sứ của Lý Bạch, nhưng nếu muốn tìm một nơi nào đó để ngồi xuống thầm thì tâm sự thật lâu, rồi thương lượng xem làm thế nào để cứu giúp một số người bất hạnh, thì nhất định sẽ tìm Đỗ Phủ, không trật đi đâu được.
Bảy
Bài viết này vốn dĩ chỉ muốn bàn về Lý Bạch, Đỗ Phủ, và cũng đã viết không ngắn. Thế nhưng, khi nhắc đến những tao ngộ kỳ lạ của hai người này trong loạn An Sử, tôi quyết định nói thêm vài lời về một vị nhà thơ khác, bởi vì tao ngộ của ông ấy trong loạn An Sử cũng đủ kỳ lạ. Ba sự kỳ lạ gộp lại với nhau, có thể cho chúng ta thấy rõ hơn một mệnh đề chung trọng đại.
Vị nhà thơ này, chính là Vương Duy. Trên bảng xếp hạng cấp bậc nhà thơ đời Đường, đặt ông ngồi cùng Lý Bạch, Đỗ Phủ cũng rất phù hợp. Đương nhiên Bạch Cư Dị cũng có tư cách tranh ngôi vị thứ ba với Vương Duy, tôi cũng từng lưỡng lự về điều này nhiều lần, cho nên trong một lần lên lớp từng tiến hành điều tra bảng hỏi đối với học sinh các khoa Trung văn, Lịch sử, Nghệ thuật của Đại học Bắc Kinh, kết quả Vương Duy xếp thứ ba, Bạch Cư Dị xếp thứ tư. Đặc biệt là các nữ sinh, vô cùng thích Vương Duy.
Vương Duy và Lý Bạch, năm sinh năm mất hầu như y hệt nhau. Vương Duy dường như lớn hơn Lý Bạch mấy tháng, Lý Bạch lại mất muộn hơn Vương Duy một năm. Nhưng ngay từ khi bắt đầu cuộc đời, Vương Duy đắc ý hơn Lý Bạch rất nhiều. Vương Duy mới 20 tuổi đã dựa vào tài nghệ tấu tỳ bà, tài năng thơ ca và ngoại hình tuấn tú mà thu hút sự khen ngợi của hoàng tộc, đồng thời được giới thiệu để đỗ đạt làm quan, còn Lý Bạch, cho đến năm 30 tuổi vẫn còn ở nhà trọ núi Chung Nam chờ đợi sự tiếp kiến của hoàng tộc mà không toại nguyện.
Khi Lý Bạch cuối cùng cũng thất vọng với quan lộ mà lang thang khắp nơi, Vương Duy bước lên quan lộ lại bị quan lộ chi phối. Khi tể tướng Trương Cửu Linh người tín nhiệm ông bị Lý Lâm Phủ thay thế, những ngày tháng của ông liền không dễ chịu nữa. Thêm vào đó là việc mất mẹ mất vợ, Vương Duy xua đi tia hào khí cuối cùng trong lòng, bước vào trạng thái sinh thái thanh tĩnh nửa ẩn nửa làm quan. Trong khoảng thời gian này, ông đã viết ra rất nhiều bài thơ hay được lưu truyền ở đời.
Trong mắt các đồng nghiệp triều đình, đây là một bóng lưng vội vã về nhà sau khi tan triều. Trong lòng các nhạc sư Trường An, đây là một kho bí mật xuất khẩu liên tục những lời ca đỉnh cao. Dưới ngòi bút của các văn nhân hậu thế, đây là một kỳ tài hòa tan thơ ca, âm nhạc, hội họa vào trong lòng bàn tay và cùng đẩy tất cả chúng lên tầng trời cao.
Trong loạn An Sử, Vương Duy vốn muốn đi theo Đường Huyền Tông trốn đến Thành Đô, nhưng đuổi theo không kịp, bị quân phản loạn bắt giữ. An Lộc Sơn biết Vương Duy là đại tài tử, muốn ông làm quan dưới quyền mình. Vương Duy vốn ôn uyển nhã nhặn không biết kháng cự thế nào, bèn uống thuốc tả cáo bệnh, lại giả vờ cổ của mình cũng có vấn đề, không phát ra tiếng động được nữa. An Lộc Sơn mặc kệ, đón ông đặt ở chùa Phổ Thi ở Lạc Dương, và ban cho chức quan "Cấp sự trung", giống như chức quan ban đầu của ông trong triều đình nhà Đường. Tính ra, đây cũng là chức vụ quan trọng, chịu trách nhiệm "bác chính chính lệnh vi thất", tương đương với thanh tra viên hành chính. Vương Duy trốn thoát, lại bị bắt về, ép buộc nhậm chức.
Thế nhưng, đây dù thế nào cũng là một vấn đề lớn. Sau đó Đường Túc Tông phản công Trường An đắc thắng, tất cả các quan viên nhậm chức quan ngụy dưới tay An Lộc Sơn, đều trở thành phản thần nghịch thần bị triều dã cả nước chung tay lên án, chắc chắn phải phán tội nặng, Vương Duy đáng thương cũng nằm trong số đó.
Chiếu theo tiêu chuẩn thời đó, tội trách của Vương Duy quả thực nghiêm trọng hơn Lý Bạch và Đỗ Phủ rất nhiều. Lý Bạch chỉ là đi nhầm người trong đội ngũ thảo phạt An Lộc Sơn; Đỗ Phủ thậm chí còn không đi nhầm người, chỉ là nói giúp cho một vị quan đánh trận thua; còn Vương Duy, lại bị coi là người thuộc phe An Lộc Sơn. Nếu nói, ngay cả chuyện như Lý Bạch mà còn đến mức "người đời đều muốn giết", thì nên xử trí Vương Duy thế nào? Nghĩ đến thôi cũng đủ khiến người ta vã mồ hôi lạnh.
Thế nhưng, Vương Duy đã được cứu.
Người cứu ông, chính là bản thân ông.
Hóa ra, vào lúc Vương Duy nhậm chức quan ngụy, từng xảy ra một sự kiện. Hôm đó An Lộc Sơn tổ chức tiệc mừng công ở Ngưng Bích Cung, ép các đệ tử Lê Viên tấu nhạc đệm. Các đệ tử Lê Viên ai nấy đều rơi nước mắt, không tấu thành khúc, nhạc công Lôi Hải Thanh thậm chí còn vứt ngay cây tì bà xuống đất, hướng về phía tây ngửa mặt khóc lớn. An Lộc Sơn lập tức hạ lệnh, dùng thủ pháp tàn khốc xử tử Lôi Hải Thanh. Vương Duy nghe được chuyện này, liền viết ngay một bài thơ, nhan đề là "Nghe tin nghịch tặc làm nhạc ở đìa Ngưng Bích". Hai chữ "nghịch tặc", đã ngưng tụ tất cả bi phẫn trong lòng ông.
Muôn hộ đau lòng sinh khói dại, trăm quan ngày nào lại triều thiên?
Lá hòe mùa thu rơi trong cung điện trống, đầu đìa Ngưng Bích tấu quản huyền.
Bài thơ này, vì xuất từ tay Vương Duy, nên chẳng mấy chốc đã lặng lẽ lan truyền ra ngoài, hơn nữa còn truyền ra khỏi tường thành, truyền thẳng đến tai Đường Túc Tông. Đường Túc Tông từ bài thơ này biết được sự kỳ vọng của thành Trường An dành cho mình, cho nên sau khi phá thành, đã hạ lệnh xử phạt nhẹ nhàng đối với Vương Duy. Thêm vào đó, em trai của Vương Duy là Vương Tấn là vị tướng có công bên cạnh Đường Túc Tông, đã xin tước giảm chức quan của mình để giảm nhẹ tội cho anh trai. Kết quả là, Vương Duy chỉ bị giáng chức một chút, sau đó rất nhanh lại được phục hồi chức cũ, rồi tiếp tục thăng đến Thượng thư Hữu thừa.
Có thể lan truyền một bài thơ như thế, có thể đứng ra một người em trai như thế, suy cho cùng không phải là chuyện tất nhiên. Do đó, chúng ta vẫn phải vì Vương Duy mà hô lên một tiếng: Thật hiểm hoi!
Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, ba đại danh gia, ba phen hiểm hoi. Từ đó đủ để chứng minh, tất cả hiện tượng văn hóa vĩ đại trong trạng thái sinh tồn thực tế, đều là đi qua cây cầu độc mộc hẹp nhất trong trạng thái run rẩy, đều là bò qua sợi dây leo bám vách đá mỏng manh nhất trong sự run lẩy bẩy. Sẩy chân một chút, liền tan xương nát thịt, hóa thành mây khói.
Nguy cơ của ba người còn cho thấy, nếu muốn áp đặt những tội danh không thuộc phạm vi văn hóa lên người các thiên tài văn hóa, thì quả thực dễ như trở bàn tay. Hơn nữa, bọn họ quả thực cũng ngày ngày cung cấp cho người khác những cái cớ về mặt này. Danh tiếng của họ lại khiến những điểm yếu này bị phóng đại vô hạn, khiến họ không thể trốn chạy.
Vận mệnh của họ giống như cục bột mềm bị lòng bàn tay của người già kẻ trẻ tùy ý nhào nặn, những chuyện ngốc nghếch của họ giống như bong bóng xà phòng bị đủ loại "Gia Cát Lượng sau sự việc" không ngừng thổi phồng lên. Ở Trung Quốc, không một ai hỏi rằng, những kẻ nhào nặn cục bột mềm và thổi bong bóng xà phòng này, bản thân lúc ban đầu đang làm gì, lại lấy từ đâu tư cách và quyền lực để giày vò Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy.
Thế nhưng, cho dù bất kỳ bàn tay và cái miệng nào có thể làm đủ mọi chuyện trên người những con người này, thì cũng không thể hạ thấp sự sáng tạo văn hóa của họ dù chỉ một hào một ly. Chẳng cần phải đợi lâu, những kẻ "người đời đều muốn giết" ấy đều từ từ quay đầu tập thể. Cuối cùng họ tuyên bố rằng: Tay của họ, vốn dĩ chưa từng nhào nặn cục bột mềm nào cả, mà là đang điêu khắc đại sư; miệng của họ, vốn dĩ chưa từng thổi bong bóng xà phòng nào cả, mà là đang hôn vĩ nhân.
Có thể như thế thì cũng thôi đi, bất kể họ từng làm gì, thân phận duy nhất mà lịch sử để lại cho họ không có gì khác, chính là những người cùng thời với Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy. Con cháu của họ sẽ lấy đó làm tự hào, rất lâu, rất lâu.
Đã viết đến Vương Duy, tôi thực sự không kìm nổi, muốn mời các bạn đọc cùng nhau thưởng thức lại những câu thơ của ông mà ai nấy đều có thể học thuộc lòng. Thơ của ông không cần phân tích, bởi vì quá đỗi bình dị, ai cũng có thể đọc hiểu; lại quá đỗi thâm sâu, ai cũng khó mà tìm được lời lẽ bình phẩm.
Sa mạc khói cô độc thẳng tắp, sông dài mặt trời lặn tròn vo. ("Sứ tới cõi sé")
Trăng sáng soi giữa rừng thông, suối trong chảy trên đá. ("Sơn cư thu minh")
Sông chảy ngoài trời đất, sắc núi trong cõi có không. ("Hán giang lâm điểu")
Mặt trời lặn giang hồ trắng xóa, thủy triều lên trời đất một màu xanh. ("Tiễn Hình Quế Châu")
Đường núi vốn không mưa, sắc xanh thăm thẳm ướt vạt áo. ("Trong núi")
Còn có bài này——
Người thảnh thơi hoa quế rụng, đêm tịch mịch núi xuân không.
Trăng mọc làm giật mình chim núi, chốc chốc hót trong khe xuân.
Một chữ "kinh" (giật mình), đã đánh thức toàn bộ ngọn núi tịch mịch giữa đêm sâu. Theo tôi, đây là một Vương Duy với tư cách là nhạc sĩ đang dùng một tiếng tì bà gảy cao đột ngột, để khơi gợi phong cảnh dưới trăng do một Vương Duy với tư cách là họa sĩ sắp đặt sẵn, cuối cùng giao phó cho một Vương Duy với tư cách là thi nhân, dùng ngòi bút tiết kiệm nhất để phác họa ra.
Vương Duy giống như Đào Uyên Minh, khiến cho tất cả mọi ngôn từ hoa lệ, ồn ào trên thế gian phải hổ thẹn không có chỗ dung thân. Họ tĩnh lặng tựa vầng trăng sáng, chẳng muốn làm kinh động đến ai, nhưng lại thực sự kinh động đến cả một vùng rộng lớn, điều này quả có thể gọi là "trăng mọc làm giật mình chim núi" vậy.
So với sự tĩnh lặng của Đào Uyên Minh, sự tĩnh lặng của Vương Duy lại mang thêm chút hơi thở quý tộc, thêm chút thiết kế tinh tế. Sự cao tay của ông nằm ở chỗ: quý tộc đến mức còn bình dân hơn cả người bình dân, thiết kế đến mức còn tự nhiên hơn cả tự nhiên.
Tám
So với Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, trong loạn An Sử cũng có một số nghệ sĩ thể hiện một vẻ thuần khiết khác, đó chính là sự kiên định không hối cải, phản kháng mãnh liệt, tựa như khánh ngọc vỡ tan, lụa là rách tơi, khiến cho trời đất phải chấn động một phen. Nhạc công Lôi Hải Thanh mà tôi nhắc đến trước đó, cũng như đại thư pháp gia Nhan Chân Khanh - người đứng đầu lãnh binh chống lại phản quân đến mức cả nhà phải hy sinh khủng khiếp, chính là những đại diện xuất sắc trong số đó. Họ không chỉ đặt đấu tranh chính trị lên hàng đầu, mà còn lập tức áp dụng những hành động vang dội nhất, một cước đá bay các nhân vật chính trị, nhân vật quân sự triều đình, đá bay các đại hiệp giang hồ, những nam nhân đầy khí phách trong dân gian, và đương nhiên, cũng đá bay cả Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy. Điểm này, ngay cả Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy cũng thành khẩn thừa nhận, bằng không Vương Duy đã chẳng nhanh chóng viết ra bài thơ "Nghe tin nghịch tặc làm nhạc ở đìa Ngưng Bích" đó.
Đối với phần lớn các nhà thơ, bất kỳ hành động anh hùng tráng lệ nào cũng có thể kích động họ, nhưng bản thân họ lại không phải là anh hùng. Trong lòng họ có khí phách anh hùng, nhưng để biến khí phách anh hùng thành hành động anh hùng, họ còn thiếu một chút điều kiện, thừa một chút chướng ngại. Sự đặc sắc của họ nằm ở những lĩnh vực khác.
Trong những lĩnh vực ấy, mặc dù không thể trực tiếp kháng cự lại những tai họa cụ thể như loạn An Sử, nhưng lại có thể tôi luyện nên ánh hào quang vạn cổ của văn minh Trung Hoa, khiến cho những con người thuộc về nó mãi mãi không muốn rời đi, giống như những gì tôi đã nói ở phần đầu bài viết này.
Mười bảy năm sau khi loạn An Sử bùng nổ, một vị thi nhân của tương lai ra đời, đó chính là Bạch Cư Dị. Khói lửa chiến tranh đã tan, sóng đục đã lặng, đứa trẻ chưa từng trải qua tai họa kia, sẽ dùng ánh mắt của chính mình để viết về tai họa này, hơn nữa viết hay hơn bất kỳ ai, đó chính là "Trường hận ca".
Tai họa năm xưa ấy từng "bắt sống" không sót một ai mấy vị đại thi nhân tiền bối, thế nhưng Bạch Cư Dị lại dùng thơ ca để "bắt sống" tai họa ấy, qua bao phen điều tiết, bằng một thứ logic tình cảm mang tính cá thể hóa, nhân tính hóa, khiến cho nó cũng bước trọn vẹn vào lĩnh vực thẩm mỹ.
Lưu Vũ Tích - người cùng tuổi với Bạch Cư Dị, cũng trở thành bậc thầy vịnh sử. Các tác phẩm "Ô y ngõ", "Thạch đầu thành", "Tây tái sơn hoài cổ", "Thục tiên chủ miếu" của ông, đã mở ra cho tất cả văn nhân Trung Quốc đời sau một bầu trời cảm hoạn tình cảm lịch sử. Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy thực sự phải ghen tị với họ, ghen tị vì họ có thể tiêu sái ngắm nhìn lịch sử đến thế, giống như họ từng ngắm nhìn non nước sơn thủy năm xưa vậy.
Thêm ba mươi năm nữa, lại một vị thi nhân của tương lai ra đời. Hắn không chỉ không mặn mà lắm với việc ngắm nhìn non nước, đến cả lịch sử cũng chẳng thèm ngắm nhìn nữa, mà chỉ muốn ngắm nhìn nội tâm của chính mình. Hắn, chính là nhà thơ thời vãn Đường - Lý Thương Ấn.
Triều Đường, cứ thế cô đọng mà khái quát hóa xu thế tất yếu của thơ ca. Không một bước trì trệ, không một bước lặp lại, một đường rực rỡ hoa tươi, một đường mây lành lấp lánh.
Một nhóm nam nhân, một đường nhọc nhằn, đã trở thành cột mốc trên con đường bước tới cõi trời cái đẹp của một dân tộc. Họ, đều là những chủ tể cao quý của mạch nguồn văn hóa Trung Hoa.