Mùa thu đã đến, trên cánh đồng hoang vác của Tây Vực, cảnh tượng dần trở nên tiêu điều. Thế nhưng, thương nhân và lữ khách vì thế mà lại càng đông hơn.
Mỗi ngày, đều có từng đoàn thương đội lớn, dọc theo con đường cổ xưa, xuyên qua ốc đảo và các thành bang, tiến về vùng đất giàu có ở phương Đông.
Từ khi Hung Nô di chuyển về phía Tây, vùng Tây Vực rộng lớn bỗng chốc trở nên trống trải.
Có những lúc, thương đội có thể liên tục mấy ngày liền không nhìn thấy bóng người.
Đành phải màn trời chiếu đất ở những ngôi làng hoang phế hoặc trong các khe núi trên bãi mạc.
Mà việc thương nhân lữ khách gia tăng, cũng dẫn đến sự bùng nổ của bọn mã phỉ.
Trên đồng hoang khô cằn, những con kền kền ngửi thấy mùi thịt ấy, không lúc nào là không quan sát và dò xét những thương đội không có nhiều hộ vệ hoặc đã rơi vào trạng thái mệt mỏi.
Chỉ cần có cơ hội, bọn chúng sẽ ra tay dứt khoát, giết người cướp của.
Vì thế, các thương đội đành phải tập kết thành một đội ngũ tương đối lớn, vừa chiếu ứng lẫn nhau vừa lên đường.
Lúc này, dưới chân núi Thiên Sơn, một đội thương khách gồm bảy tám thương đội đang ngoằn ngoèo bươn chải giữa chốn sơn xuyên hiểm trở.
Suốt dọc đường đi, họ đã vừa khát vừa mệt.
Nhưng không một ai dám nghỉ ngơi.
Bởi vì cách đó không lâu, trên đoạn đường này đã xuất hiện một toán mã phỉ có quy mô khá lớn.
Chúng đã tập kích mấy thương đội, chỉ có một số ít người may mắn trốn thoát được.
Những người còn lại đều bị đám mã phỉ tàn độc sát hại, thủ cấp bị cắm trên cọc gỗ.
Đó là phương thức trả thù tiêu chuẩn của người Hung Nô.
Chỉ là, nay người Hung Nô ở Tây Vực đã sớm dời về phương Tây, từ chốn xa xôi truyền đến tin tức bọn chúng đang hoành hành ngang ngược ở Khang Cư.
Tương truyền rằng Khang Cư đã bị tàn sát tiêu diệt, mấy chục vạn bách tính Khang Cư đều rơi vào cảnh làm nô lệ cho chúng.
Cho nên……
Người Hung Nô dưới chân núi Thiên Sơn này từ đâu chui ra vậy?
Các thương gia trong lòng đều hiểu rõ như gương, chỉ là không ai dám vạch trần.
Họ đành giả ngơ giả ngác, đồng thời thầm cầu nguyện trong lòng rằng bản thân có thể may mắn vượt qua chuyến hành trình ma quỷ này.
"Còn một trăm dặm nữa là có thể bước vào phạm vi Tầm Long Tải của nhà Hán..." Một người đàn ông có đôi mắt nâu, đang dắt theo một con lạc đà, củng cố sĩ khí cho các thương khách: "Mọi người hãy cắn răng kiên trì thêm hai ngày nữa, sẽ không còn cực nhổ thế này nữa!"
"Đến Luân Đài, ta mời mọi người đi hoa phố Luân Đài, các cô nương ở hoa phố, mọi người muốn bao nhiêu có bấy nhiêu!"
Thế là, mọi người trong thương đội liền lớn tiếng hô vang hưởng ứng, rất nhiều người vì thế mà tinh thần phấn chấn hẳn lên.
Đến mức trên khuôn mặt của mỗi người đều hiện lên nụ cười.
Tựa hồ như thành Luân Đài đã ở ngay trước mắt, trong thành thị phồn hoa ấy, vô số cửa hàng và những cô nương xinh đẹp chốn hoa phố đang vẫy tay gọi mời họ.
Đáng tiếc, niềm vui của bọn họ không kéo dài được bao lâu.
Khi đoàn người gian nan vượt qua chốn sơn xuyên để bước vào một con đường đất hẹp.
Từ khắp tứ phương tám hướng, tiếng móng ngựa rung chuyển truyền đến.
Đúng là có tới mấy trăm kỵ binh mặc áo da cừu truyền thống của người Hung Nô, đội mũ nỉ, tay cầm đủ loại binh khí xuất hiện trong tầm mắt mọi người.
"Mã phỉ!" Thương đội lập tức hoảng loạn.
Trong lúc vội vã, họ quây tất cả xe cộ lại để tạo thành một cỗ xe trận lỏng lẻo.
Hòng dựa vào cỗ xe trận thế này để ngăn cản đợt công sát của kẻ địch đáng sợ.
Nhưng họ đã quên mất một điều: bây giờ đã là buổi chiều.
Chẳng mấy chốc nữa là trời sẽ tối.
Nhiệt độ ngoài trời vào ban đêm ở vùng bãi mạc mùa thu sẽ giảm trực tiếp xuống mức âm, thậm chí có thể có tuyết rơi.
Những người không có lửa trại, lại chẳng thể nhóm lửa, sẽ bị cái lạnh buốt giá cướp đi sinh mạng.
Mà đám mã phỉ hiển nhiên rất rõ điều này.
Cho nên, chúng chỉ nhìn thấy hành động của thương đội rồi lập tức tung người xuống ngựa, sau đó đứng từ xa nhìn ngắm, giám sát.
Đối với bọn chúng, nếu có thể không tốn sức lực, không tổn hại thương vong mà vẫn giải quyết được kẻ địch để đoạt lấy tài bảo, thì tại sao phải mạo hiểm chứ?
Các thành viên của thương đội bị vây hãm ban đầu còn chưa hiểu rõ.
Nhưng theo thời gian trôi qua, đặc biệt là khi mặt trời dần ngả về Tây, nhiệt độ bắt đầu hạ xuống, họ cuối cùng cũng bừng tỉnh.
"Phải làm sao đây? Phải làm sao bây giờ?!" Tất cả mọi người hoảng loạn thành một cục.
Họ biết rằng nếu ở ngoài trời mà không có lửa trại và lều bạt, kết cục của họ sẽ thảm hại đến mức nào?
Họ cũng từng tận mắt chứng kiến thảm trạng của những kẻ đáng thương bị đông cứng đến chết bên đường.
Những kẻ đó sẽ tự lột sạch quần áo của mình, sau đó đau đớn giãy giụa trên mặt đất, vặn vẹo cấu xé cơ thể chính mình.
Cuối cùng, bị cái lạnh tột cùng chôn vùi sinh mệnh bên vệ đường, thi thể đầy rẫy vết thương, mà vẻ sợ hãi trên mặt thì vẫn còn nguyên vẹn.
"A ma... A ma..." Có kẻ nhát gan bật khóc trong tuyệt vọng.
"Liều mạng với chúng đi!" Có những người gan dạ hơn lớn tiếng hô hào.
Mà chủ nhân của các thương đội thì lại nảy sinh tâm tư khác.
"Phái người đi hỏi xem bọn chúng muốn bao nhiêu tiền tài vật chất mới chịu tha cho chúng ta?" Có kẻ đề nghị.
Nếu có thể dùng tiền mua mạng sống, họ không hề ngại ngần.
Thế là, đề nghị này nhanh chóng được thông qua.
Thương đội lập tức phái sứ giả, cởi trần, tay không tấc sắt, cẩn thận tiến lại gần đám mã phỉ.
Thế nhưng, khi sứ giả bước đến cách đám mã phỉ chừng ba mươi bước chân, đang chuẩn bị cất tiếng hô hào.
Đám mã phỉ đối diện lại giương cung lắp tên, nhắm thẳng vào hắn.
Sứ giả nhìn thấy tình thế vậy liền sợ hãi quay người cuống cuồng bỏ chạy.
Nhưng tiếc thay, đôi chân làm sao có thể chạy nhanh hơn mũi tên.
Phụp phụp phụp!
Kẻ đáng thương này ngay lập tức bị hơn chục mũi tên bén nhọn bắn thủng cơ thể, ngã nhào xuống đất.
Một tên mã phỉ liền quất ngựa phi ra, đi đến trước thi thể của sứ giả, ngay trước mặt tất cả thương khách, thản nhiên cắt lấy cái đầu của hắn, rồi lấy từ trên lưng ngựa xuống một chiếc cọc gỗ đóng sâu vào lòng đất hoang vu, tiếp theo hắn giơ cao thủ cấp đẫm máu ấy, tự tay cắm nó lên cọc gỗ.
Máu tươi bắn tung tóe đầy mặt hắn.
"Ha ha ha ha!" Nụ cười điên cuồng và đáng sợ của tên mã phỉ vang vọng khắp cả vùng hoang dã.
Tất cả mọi người trong thương đội lắng nghe tiếng cười ấy mà toàn thân run rẩy.
Mỗi một người đều rơi vào sự tuyệt vọng và sợ hãi sâu sắc nhất.
Ánh chiều tà dần ngả về Tây, chẳng mấy chốc mặt trời sắp lặn.
Những hạt cát trên mặt đất đã bắt đầu nguội lạnh, không khí trên đồng hoang dần trở nên lạnh lẽo thấu xương.
Gió bắc thổi thốc từ ngọn núi xuống, tất cả mọi người đều nhận ra uy hiếp của tử thần.
Mà ở không xa, đám mã phỉ đã gọi củi lửa, đốt lên những đống lửa trại, thậm chí còn đun nước nóng, nấu nướng thức ăn.
"Phải làm sao đây..."
"Chẳng lẽ chúng ta đều phải chết ở nơi này sao?"
The thần linh ơi, nếu các ngài có linh thiêng, xin hãy cứu lấy chúng con..." Các thương nhân Hồ tộc tuyệt vọng cầu nguyện.
Đúng vào lúc mặt trời sắp lặn, đám mã phỉ bỗng nhiên xao động.
Sau đó, dưới ánh mắt chú ý của các thương nhân Hồ tộc, bọn chúng lần lượt quay người lên ngựa, trong nháy mắt đã biến mất tăm giữa chốn đồng hoang.
Chỉ để lại những đống lửa trại vẫn đang cháy rực cùng dụng cụ nấu nướng trên ngọn lửa ấy.
"Thần linh hiển linh rồi sao?" Các thương nhân Hồ tộc đưa mắt nhìn nhau.
Nhưng ngay giây phút tiếp theo, họ đã hiểu ra rằng thần linh của họ không hề hiển linh.
Mà là vị thần hộ mệnh của họ đã đến.
Trên cánh đồng hoang ở phía xa, một đội ngũ đang dắt theo ngựa đang tiến đến từ phương Nam.
Chiến bào màu đỏ rực rỡ dưới ánh chiều tà, một lá cờ rồng đen tung bay phần phật trong gió.
Đó là đội tuần tra của quân Hán, là quân trú phòng đến từ Tầm Long Tải cách đây hơn một trăm dặm.
Mặc dù chỉ có một trăm kỵ binh, nhưng sức mạnh bấy nhiêu thôi đã đủ khiến bất kỳ tên mã phỉ nào nghe danh cũng phải khiếp đảm hồn phi phách tán.
"Vương sư! Là vương sư kìa!" Tất cả người Hồ nước mắt đầm đìa, bọn họ chưa bao giờ giống như lúc này, lại sản sinh ra một thứ tình cảm quyến luyến sâu sắc đến thế đối với đế quốc xa xôi kia.