Những Đứa Trẻ Ở Wilton Chase

Lượt đọc: 34 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Ngày Hội Dã Ngoại.

❊ ❊ ❊

Sáng sớm hôm sau, Marjorie cựa mình trên chiếc giường trắng, đoạn mở mắt, ngẩng đầu khỏi chiếc gối êm ái và đưa mắt nhìn quanh phòng.

Ermie đang ngủ say sưa. Ánh nắng tràn ngập căn phòng; chiếc đồng hồ trên lò sưởi chỉ sáu giờ.

Nhẹ nhàng, rất nhẹ nhàng, Marjorie thò những ngón chân hồng hồng ra khỏi chăn. Tiếp đó, cả bàn chân cô bé hiện ra, rồi cô đứng thẳng dậy trên sàn nhà. Sáng nay sẽ không có ai giúp cô sửa soạn trang phục cả; cô sẽ tự thay đồ và ra vườn. Các cậu con trai đều ở nhà; hôm nay trời sẽ đẹp tuyệt trần. Trái tim mãn nguyện của Marjorie như nhảy múa trong lồng ngực. Cô rửa mặt và thay quần áo nhanh chóng. Chẳng cần phải giữ ý tứ làm gì, vì chẳng bao giờ có thứ gì làm gián đoạn giấc ngủ của Ermengarde cả.

Sau khi đã mặc quần áo và tự tay tết mái tóc dày của mình hết mức có thể, cô quỳ xuống bên mép giường, đắp hai bàn tay lên khuôn mặt bầu bĩnh và đọc kinh cầu nguyện. Từ lâu lắm rồi, bà Wilton từng dạy lũ trẻ, trong đó có Marjorie, một bài kinh mẫu ngắn để đọc. Một trong những câu ở đó là: "Xin hãy biến con thành một tôi tớ trung thành của Chúa Giê-su Ki-tô."

Marjorie nhớ rất rõ lần đầu tiên cô đọc lời cầu nguyện này. Cô nhớ lại biểu cảm trên khuôn mặt mẹ mình, và nếu có ai hỏi, cô thừa sức thuật lại cách mẹ giải thích về từ "tôi tớ".

Mấy đứa trẻ khác đã quên mất bài kinh mẫu ấy, nhưng Marjorie thì luôn luôn sử dụng nó. Sáng nào cô cũng xin Chúa biến mình thành một người tôi tớ trung thành.

Việc thành tâm cầu nguyện không hề khó khăn chút nào đối với cô bé nhỏ nhắn, khiêm nhường này. Chẳng ai trong nhà đoán được về lời cầu nguyện của Marjorie, hay bận tâm suy nghĩ về những cách cư xử an ủi, dễ chịu và vị tha của cô. Cô ở đó, một đứa trẻ có ngoại hình bình thường, đủ hữu ích và đủ niềm nở, nhưng chẳng ai thèm cảm ơn cô, hay tự hỏi liệu họ có cảm thấy trống vắng nếu cô không có mặt trong nhà.

Sáng nay, cô đang định rời khỏi phòng thì Ermengarde cựa mình và mở mắt.

"Có phải cậu đấy không, Maggie? Ồ, cậu mặc xong đồ rồi cơ à. Đừng đi vội nhé, tớ muốn nói chuyện với cậu."

Marjorie khép lại cánh cửa đang hé mở, rồi bước tới đứng bên giường Ermengarde.

"Gì thế?" cô hỏi.

"Tớ buồn ngủ quá; trời sớm khủng khiếp. Nếu nói chuyện với cậu, tớ sẽ tỉnh như sáo mất. Cậu không thể ở lại trong phòng một lát sao?"

"Tớ định ra vườn đây, rồi tớ sẽ quay lại sau, Ermie nhé. Có lẽ Eric đã dậy rồi, và anh ấy hứa sẽ cho tớ xem con Shark. Tớ không tin là nó có đến sáu hàng răng đâu."

"Cậu cứ luyên thuyên mãi thôi, Maggie! Giờ thì tớ tỉnh hẳn rồi. Chiếu nay thể nào tớ cũng bị đau đầu cho xem. Tớ hay bị thế lắm nếu giấc ngủ đầu bị làm phiền."

"Cậu đã có một giấc ngủ đầu rất dài rồi còn gì," Marjorie nói. "Bảy giờ kém rưỡi rồi đấy."

"Thế à? Mấy giờ với tớ cũng vậy thôi; tớ tỉnh rồi, và đó là lỗi tại cậu đấy. Cậu nên chu đáo hơn chút chứ, Maggie; cậu là đứa vô tư nhất trên đời đấy. Giá mà cậu cứ ngồi im lặng bên giường tớ thì bây giờ tớ đã chẳng tỉnh táo thế này."

"Thế bây giờ tớ có thể làm gì cho cậu nào, khi mà cậu đã thức rồi, Ermie?" Marjorie hỏi. "Làm ơn nói nhanh lên nhé, vì tớ không thể bắt Eric phải đợi lâu được đâu."

"Ờ, từ giờ trở đi thì trong đầu cậu chỉ có mỗi Eric thôi. Lẽ ra tớ phải đoán được từ trước chứ."

"Không, chẳng phải thế đâu. Sẽ là mọi người cơ. Nào, tớ phải làm gì cho cậu đây?"

Ermengarde bật cười.

"Maggie, đừng có làm cái vẻ mặt nghiêm nghị ấy chứ. Dĩ nhiên cậu là một cô bé ngoan rồi. Giờ thì nghe này. Tối qua Basil và tớ đã vạch ra một kế hoạch."

"Ôi Ermie! Cậu thật may mắn vì cô Nelson không phát hiện ra chuyện hư hỏng ngày hôm qua của cậu đấy chứ?"

"Hư hỏng của tớ á?"

Ermengarde đỏ bừng mặt.

"Cậu không nhớ sao, Ermie? Cứ trèo lên xe ngựa trong khi cô Nelson đã cấm tuyệt. Dĩ nhiên là cậu đã làm điều cực kỳ hư đốn, nhưng tớ mừng vì cậu không bị phát hiện. Nào, kế hoạch đó là gì thế?"

"Cậu thô lỗ và thẳng thừng quá đấy, Maggie. Đó là một thói xấu khủng khiếp của cậu. Tớ đã quên sạch chuyện đi xe đó rồi. Thế mà giờ cậu lại nhắc lại để làm tớtụt hứng. Cậu đúng là một sinh vật vô duyên!"

"Thôi đừng bận tâm đến tớ nữa. Kế hoạch là gì cơ chứ?"

"Thế này nhé. Cưng ơi, tớ hy vọng trời đẹp!"

"Đúng thế, Ermie, một ngày tuyệt đẹp."

"À, Basil nghĩ rằng — cậu có chắc là trời không có mây không, Mag?"

"Không, hoàn hảo, chẳng có lấy một gợn mây nào cả; nói tiếp đi, Ermie."

"Tuyệt cú mèo! Basil nghĩ hôm nay chúng ta nên được nghỉ cả ngày — ý tớ là tụi con gái chúng mình ấy. Anh ấy bảo chúng mình có thể đi dã ngoại, chèo thuyền ngược hồ, rồi lên bờ ăn trưa trên đảo Pearl."

"Thích thế!" Marjorie nói, hai tay đan vào nhau. "Chỉ có điều là cô Nelson đã dặn—"

"Lại thế nữa, lúc nào cậu cũng nghĩ đến cô Nelson trước tiên."

"Ermie, chính cậu vừa bảo là tớ nghĩ đến Eric trước tiên cơ mà."

"Đó lại là một thói xấu nữa của cậu, cứ hay nhai lại lời người khác."

Marjorie đan hai tay trước ngực và mím chặt môi. Khuôn mặt tròn trịa của cô trông đầy vẻ bướng bỉnh.

"Tớ chắc chắn là Eric đang ở ngoài vườn rồi," cô nói.

"Tớ cho cậu đi ngay đây, cái con bé thiếu kiên nhẫn này. Dĩ nhiên là cô Nelson muốn chúng mình phải học hành, nhưng người mà chúng mình thực sự phải vâng lời chính là bố. Tớ biết hôm nay bố sẽ đi London, và bố sẽ đi bằng chuyến tàu sớm. Và việc tớ muốn cậu làm thế này, Maggie; hãy chờ bố ở quanh đây, bắt gặp bố và xin phép cho chúng mình nghỉ học một ngày. Nếu bố đã đồng ý thì dĩ nhiên cô Nelson cũng buộc phải chịu thua thôi."

"Được rồi," Marjorie đáp. "Tớ chẳng ngại chút nào đâu. Eric và tớ có thể canh chừng xe ngựa, và biết đâu Macnab sẽ cho chúng mình lái xe quanh nhà. Rồi chúng mình sẽ cố hết sức để xin bố đồng ý."

Cô không chờ để nói thêm câu nào với chị mình nữa mà lao vút ra khỏi phòng.

Đúng tám giờ, nhóm học sinh tề tựu bên bàn ăn sáng. Cô Nelson đã quyết định chưa nói gì với Ermengarde cho đến khi bữa ăn kết thúc. Lời chào của cô dành cho cô bé hầu như chẳng lạnh lùng hơn ngày thường là mấy, và Ermie ngồi vào bàn ăn mà không hề mảy may hay biết rằng trò quậy phá ngày hôm qua của mình đã bị bại lộ.

Marjorie là người đến muộn trong bữa này. Cô bé xăm xăm lao vào phòng với mái tóc chưa tết và đôi má ửng hồng.

"Được nghỉ học! Được nghỉ học rồi!" cô kêu lên. "Bố vừa nhờ cô cho chúng em nghỉ học ạ, thưa cô Nelson, để chúc mừng đám con trai. Một ngày nghỉ trọn vẹn tuyệt vời! Bố đã đi London rồi, nhưng bố có viết nguệch ngoạc mấy lời nhắn cho cô trên tấm thiệp này. Nó đây ạ! Cô đồng ý nhé, thưa cô Nelson? Hơn nữa ngoài trời thời tiết đẹp tuyệt thế cơ mà!"

"Tết tóc lại cho gọn gàng đi đã, Marjorie, rồi ra bàn ngồi xuống ăn sáng," cô giáo dạy kèm điềm nhiên bảo. Cô nhận tấm thiệp của ông Wilton mà không bình luận gì thêm.

Tuy nhiên, Ermengarde và Basil lại trao nhau những cái nhìn đầy phấn khích, và Basil, nghiêng người về phía trước với vẻ lịch thiệp vốn luôn chiếm được cảm tình của cô giáo, lên tiếng: "Cô sẽ cho tất cả chúng em được nghỉ cùng nhau chứ ạ, vì bố em cũng muốn vậy mà?"

"Em có thể đi, dĩ nhiên rồi, Basil," cô Nelson đáp.

Cô nhấn mạnh vào từ "em", nhưng cả Basil lẫn Ermengarde đều chẳng mảy may để ý. Họ bắt đầu rôm rả trò chuyện về những niềm vui trong ngày đang chờ đón phía trước. Không khí ngày nghỉ nhanh chóng lan sang cả lũ trẻ nhỏ, và chẳng mấy chốc, một bầu không khí náo nhiệt cùng sự phấn khích tột độ dâng lên, đến cả côNelson cũng không tài nào dập tắt nổi.

Giữa tiếng ồn ào chung ấy, cô khẽ chạm vào vai Ermengarde.

"Cô muốn nói chuyện với em một lát, trò cưng. Đi theo cô."

Với chút ít ngạc nhiên, Ermengarde đứng dậy làm theo. Cô giáo dẫn con bé vào căn phòng nhỏ của riêng mình.

"Đóng cửa lại đi," cô bảo.

Cô tự mình ngồi xuống, còn Ermengarde đứng trước mặt cô. Khuôn mặt cô tái đi, giọng nói run run.

"Ermengarde, bây giờ em hãy đọc lại bài thơ bị phạt thuộc lòng đi."

"Casabianca," Ermengarde đọc. Nãy giờ cô đã cảm thấy một mối lo âu mơ hồ qua thái độ của cô Nelson. Lúc này trán cô giãn ra. Cô ngâm nga toàn bộ bài thơ suôn sẻ chẳng vấp một lỗi nào, lại còn thể hiện chút ít cảm xúc trong đó.

"Em đọc rất tốt," cô giáo nói. "Nó kể về chiến công phi thường của một đứa trẻ có trái tim cao cả. Cô rất tiếc khi phải nói rằng trên đời này có rất ít những đứa trẻ như thế. Cô có thể hỏi em học bài thơ này khi nào không, Ermengarde?"

"Hôm qua—" Ermengarde bắt đầu đáp.

"Thôi, đừng nói nữa. Cô sẽ cứu em, cô phải cứu em khỏi chính mình thôi, tội nghiệp con bé ạ. Em lại định nói dối nữa đấy. Em lại định lừa dối lần nữa phải không. Ermie, cô đã từng yêu thương em. Cô—cô—đã phải đau khổ vì em."

"Em chẳng hiểu cô đang nói gì cả," Ermengarde nói với giọng run lên vì giận dữ. "Em sắp bị—sắp phải nghe những điều khủng khiếp về mình nữa sao? Sao cô cứ buộc tội em nói dối? Tại sao chứ?"

"Không nói nữa, trò cưng của cô ạ. Bởi vì, dẫu cho thái độ cứng đầu và nổi loạn của em, em vẫn là trò cưng của cô."

"Cô không phải là người thầy đáng mến của em đâu, thế nhé!"

"Im nào, cô không cho phép thói xấc láo đâu! Ermengarde, cô đã không ngờ em lại dám công khai chống lệnh và bất tuỳ một cách trực diện như thế. Em đầy rẫy khuyết điểm, nhưng cô không nghĩ sự dối trá lại là một trong số đó. Cô đã phát hiện ra chuyện em đi xe ngựa ngày hôm qua rồi."

"Ồ!" Ermie thốt lên. Khuôn mặt cô bé tái ngắt đi. "Có phải—có phải Marjorie đã mách cô không? Nếu em mà nghĩ rằng—"

Ai mách cô không quan trọng. Đừng có mà trách em gái em. Con bé đáng giá gấp hai mươi lần em đấy. Hãy tự suy ngẫm về tội lỗi của chính mình đi. Ermengarde, em đã làm tổn thương cô sâu sắc."

"Em mặc kệ," Ermengarde nói. "Em bảo em đi là em đi. Em chẳng quan tâm."

"Tội nghiệp con bé! Cô chỉ có thể vô cùng thương hại em thôi. Cô chỉ biết cầu xin Chúa đưa em đến một tâm trạng khác. Em tưởng có thể giấu giếm tội lỗi của mình khỏi cô ư. Chúa đã nhìn thấy tất cả từ đầu đến cuối rồi."

Ermengarde nhích chân từ bên này sang bên kia. Trên khuôn mặt hay thái độ của cô chẳng có lấy một chút dấu hiệu nào của sự hối cải.

"Đã có lúc cô nghĩ mình phải kể hết mọi chuyện cho bố em nghe."

Ermengarde giật nảy mình khi nghe vậy.

"Nhưng cô đã quyết định không làm thế."

Khuôn mặt cô bé nhẹ nhõm hẳn đi.

"Nhưng, Ermengarde," cô giáo tiếp lời, "đó lànhiệm vụ của cô, nhiệm vụ thiêng liêng của cô là phải trừng phạt em thật nghiêm khắc. Mức độ trừng phạt cụ thể ra sao thì cô vẫn chưa quyết định, nhưng ngày hôm nay em sẽ phải ở lại trong căn phòng này, và các bữa ăn sẽ được mang đến tận nơi cho em."

"Ôi, không, không; đừng thế chứ ạ; không phải hôm nay, đừng vào ngày đi dã ngoại chứ! Xin cô hãy cho hình phạt của em bắt đầu từ ngày mai đi, thưa cô Nelson. Xin cô hãy nói đồng ý đi ạ. Sẽ thật khủng khiếp nếu không được đi dã ngoại cùng Basil, lại còn để Basil biết nguyên nhân nữa chứ. Xin cô hãy nhượng bộ điểm này đi ạ, thưa cô Nelson, xin cô đấy, và sau này em sẽ cố gắng trở thành một đứa con ngoan hơn, em hứa thật đấy."

"Không, Ermengarde; hình phạt này, vì đáng đời và nghiêm khắc, nên phải bắt đầu ngay vào ngày em cảm thấy nó thấm thía nhất. Cô rất tiếc cho em, nhưng cô không thể, cô không dám nhượng bộ đâu. Nguyện xin Chúa giúp em, tội nghiệp con bé ạ, tìm thấy sự ăn năn dẫn đến hối cải."

Cô giáo bước ra khỏi phòng, khóa chặt cửa lại phía sau.

Ermengarde đứng sững người lại một lúc, cứ như thể cô vừa bị đánh cho choáng váng. Rồi cô lao bổ tới cửa và tìm cách giật mở nó.

Cô Nelson quay trở lại phòng học.

"Các em có thể đi dã ngoại rồi đấy," cô nói. "Ermengarde không thể đi cùng được, và cô cũng không tiện giải thích lý do vắng mặt của con bé. Không, Basil; em không được gặng hỏi cô đâu. Em phải vui vẻ tận hưởng ngày hôm nay mà không có chị gái bên cạnh, và hãy tin rằng những gì đúng đắn nhất đang được làm cho chị em. Nào, về vụ dã ngoại nhé. Maggie, lại đây con yêu. Con hãy mang lời nhắn này xuống cho bác đầu bếp."

"Cô cũng đi cùng chứ ạ, thưa cô Nelson?" Marjorie hỏi.

"Cô phải đi chứ, con yêu. Cô không thể để lũ trẻ hoang dã tụi em dấn thân vào một chuyến phiêu lưu như thế mà không có cô đi kèm được."

"Thế còn mấy đứa nhỏ, chúng nó có được đi hết không ạ, thưa cô Nelson?"

"Được chứ, nếu vú nuôi đi cùng chăm sóc chúng."

"Thật đáng tiếc cho con bé Ermie tội nghiệp quá."

Đừng nhắc đến nó nữa, Marjorie. Con phải tin tưởng cô giáo của mình sẽ làm những điều đúng đắn chứ.

Khuôn mặt tròn trịa của Marjorie tràn ngập vẻ lo lắng. Cô có thói quen đưa ngón tay lên môi mỗi khi bị làm phiền hay lo lắng về điều gì đó. Mẹo nhỏ này khiến trông cô chẳng khác nào một đứa trẻ con quá tuổi nhưng vẫn ngây ngô.

Hãy xuống gặp ngay đầu bếp đi con, cô giáo giục.

Marjorie quay người rời khỏi phòng. Ở hành lang, cô chạm trán Basil.

Chuyện con Ermie thế nào rồi em, anh ta hỏi ngay.

Em nghĩ là em biết, Marjorie đáp. Em đoán được phần nào.

Cậu kể cho tớ nghe đi, Maggie?

Em nghĩ là em không thể đâu, Basil. Con bé Ermie hơi... hơi... cứng đầu, và cô Nelson, đôi khi cô Nelson cũng rất nghiêm khắc với Ermie.

Tớ sẽ chẳng thích cô ấy nổi nếu cô ấy cứ thế, Basil bảo. Tớ chẳng tha thiết gì buổi dã ngoại nếu không có Ermengarde, và tớ thực sự thấy cô Nelson thật bực mình khi giữ Ermie ở nhà đúng vào ngày nghỉ lễ đầu tiên của tớ.

Ồ, nhưng anh biết là cô phải duy trì kỷ luật chứ, Marjorie nói, lại đưa ngón tay lên môi.

Basil bật cười lớn.

Đừng dùng những từ ngữ nghiêm trọng thế chứ, Mag, anh nói. Em chỉ là một đứa nhóc thôi; những lời lẽ uyên bác ấy chẳng hợp với em tẹo nào đâu.

Em mười một tuổi rồi nhé, Marjorie đáp với giọng điệu tổn thương.

Cô bé chạy biến xuống nhà bếp và truyền đạt lại lời nhắn. Bác đầu bếp, người rất quý mến cô bé Marjorie tính tình vui vẻ, liền hỏi ý kiến cô về các món ăn. Cô bé đáp lại một cách nghiêm trang và cố ra vẻ hào hứng, nhưng sự hứng thú trong giọng nói đã bay đi đâu mất tiêu. Ngay khoảnh khắc rảnh rỗi đầu tiên, cô lao vội về bàn học của mình và hí hoáy viết một mẩu giấy.

Ermie yêu quý, cô viết, tớ buồn lắm vì chuyện hư hỏng đó đã bị bại lộ rồi. Nhưng đừng sợ hãi chút nào nhé, vì Basil sẽ chẳng mảy may đoán được gì đâu. Người em thân thiết của cậu, Marjorie Wilton.

Mẩu giấy này được Marjorie cất vào một trong những chiếc phong bì yêu thích của cô, có in hình vòng hoa lưu ly màu xanh ở nắp, và trước khi nhóm học sinh xuất phát đi dã ngoại, cô đã nhét nó qua khe cửa phòng khách của cô Nelson.

Ermengarde đã trút hết cơn giận dữ ban đầu, và cô rất vui mừng khi nhặt được mẩu giấy của Marjorie lên để đọc. Thoạt đầu, nội dung trong thư mang lại cho cô một chút cảm giác thỏa mãn, và một luồng ấm áp biết ơn tràn ngập đối với cô em gái nhỏ. Nhưng rồi cô chợt nhớ đến những lời của cô Nelson, và niềm xác tín lại một lần nữa dội lên trong tâm trí rằng chắc chắn Marjorie phải là kẻ đã đi mách lẻo.

Đúng là một con bé giả tạo đạo đức giả, Ermengarde tức giận thốt lên. Hư hỏng của tớ cơ chứ! Còn ai vào đây nữa mà lại đi gọi một chuyến đi xe dạo vô hại là hư hỏng chứ? Ồ, phải rồi; nó đã tâu lại toàn bộ câu chuyện với cô Nelson rồi, và bây giờ nó lại còn muốn lấy lòng tớ bằng bức thư này, đúng cái kiểu mách lẻo tởm lợm của nó. Con khỉ gió! Lại còn cái bộ dạng xấu xí gớm ghiếc nữa chứ. Đồ con chim mách lẻo, lưỡi mày rồi sẽ bị cắt cho xem. Không, không; cô Marjorie ạ; đừng có mà tưởng bức thư này có thể che mắt được tớ! Tớ biết thừa cậu đã làm gì với tớ rồi, và tớ sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho cậu đâu — không bao giờ, chừng nào tớ còn sống trên đời này!

Ermengarde liền xé nát bức thư nhỏ tội nghiệp ra, rồi mở toang cửa sổ tung những mảnh giấy vụn li ti bay theo gió. Một lần nữa, cơn giận dữ của cô gần như vượt ngoài tầm kiểm soát. Mọi người đều đã đi vắng, cả đám đông vui vẻ ấy, còn cô thì bị nhốt trong một căn phòng u ám, buộc phải chịu đựng cảnh giam cầm đơn độc suốt cả ngày tháng Tám rực rỡ này. Thật là không tài nào chịu nổi, thật là phát điên lên được, và tất cả đều là lỗi tại Marjorie!

Thật đáng kinh ngạc là khi tức giận, tâm trí con người ta có thể nhanh chóng hình thành một ý nghĩ cố chấp đến nhường nào. Cô Nelson có thực sự nói điều gì để hướng sự nghi ngờ về phía Marjorie đâu, thế mà Ermengarde lúc bấy giờ lại đinh ninh chắc chắn rằng chính con bé nhỏ tuổi ấy đã là kẻ đi tố cáo hành vi sai trái của mình. Cô chẳng thèm bận tâm đi tìm kiếm bằng chứng. Tất cả những cách cư xử tử tế và hào hiệp của Marjorie lúc đó đối với Ermengarde đều trở thành con số không tròn trĩnh. Chắc chắn nó đã mách, và chừng nào còn sống thì Ermie sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho nó.

Đúng lúc ấy, khi cơn giận đang lên đến đỉnh điểm, cô nghe thấy một tiếng huýt gió khẽ dưới khung cửa sổ đang mở toang. Cô lao vội tới đó và thò đầu ra ngoài. Basil đang đứng ngay bên dưới.

Đừng thế, Basil, Ermengarde nói; làm ơn đi chỗ khác đi. Tớ ghét việc cậu bắt gặp tớ đang ở đây làm tù binh lắm.

Ôi dào, vớ vẩn, Ermie, đừng có bi thảm hóa thế chứ. Cùng lắm thì chỉ một ngày là cùng, mà một ngày thì thấm tháp vào đâu?

Thấm tháp vào đâu á? Một trong những ngày nghỉ của cậu đấy — ngày nghỉ đầu tiên của cậu cơ mà!

Thì, còn khối ngày nghỉ khác ở phía sau cơ mà. Cứ thoải mái mà đón nhận đi. Nhanh hết ấy mà.

Basil, tớ tưởng cậu đã đi cùng với mọi người rồi chứ.

Tớ chưa chuẩn bị xong, và Maggie đã hứa sẽ sai người mang thuyền quay lại đón tớ.

Maggie á? Cứ như thể nó có quyền ra lệnh ấy nhỉ.

Nhưng nó biết cách nhắc nhở người khác mà. Tớ dám cá là Maggie chẳng bao giờ quên mất thứ mà một người bạn đang cần.

Ồ phải rồi, lúc nào nó chả là cưng của mọi người. Hôm nay là một ngày nóng nực ngột ngạt và khó chịu thật đấy.

Ermie tội nghiệp, cậu đang cáu kỉnh nên nhìn cái gì cũng thấy méo mó hết cả. Cậu thừa biết mình là cưng của ai cơ mà — và ngày hôm nay thời tiết hoàn hảo, tuyệt vời lắm đấy.

Tớ thực sự là cưng của cậu chứ, Basil?

Cái con mèo kiêu kỳ này, cậu thừa biết là thế còn gì. Maggie cũng vậy thôi. Nó là một con bé cưng.

Phần sau trong câu nói của Basil lại kéo mây đen quay trở lại trên khuôn mặt Ermengarde.

Ồ, dĩ nhiên Maggie là cưng của thiên hạ rồi, cô nói.

Cậu ta ngắt lời cô. Đừng có bắt đầu lại mấy cái trò vớ vẩn đó nữa, Ermie; trẻ con lắm rồi đấy. Cậu đang phải chịu phạt, tớ không biết vì lý do gì. Dĩ nhiên là tớ cực kỳ bực mình rồi. Nhưng sao cứ phải trút giận lên con bé Maggie tội nghiệp làm gì? Mà này, cậu có thích ăn táo không?

Táo á? Tạm được.

Ý cậu là thích cực kỳ chứ gì. Tớ mang cho cậu mấy quả ngon tuyệt cú mèo đây này.

Làm sao mà tớ lấy được chứ? Tớ đang bị giam cầm ở đây cơ mà.

Ôi dào, cái thói làm trò con bò về chuyện bị giam cầm của cậu ấy. Nào, thưa quý cô xinh đẹp, để xem hiệp sĩ của nàng có đến giải cứu được không nhé. Nào, bắt lấy này!

Cậu ta tung lên một đoạn dây thừng nhỏ được buộc nặng ở đầu bằng chì. Ermengarde tóm lấy nó.

Kéo đi, kéo mạnh vào! Chẳng mấy chốc mà nàng sẽ sở hữu được chiến lợi phẩm đâu.

Ermengarde kéo dây, và ngay sau đó, một chiếc giỏ xinh xắn — mà cô nhận ra ngay là chiếc hộp đựng đồ khâu vá quý giá nhất của Marjorie — đã nằm gọn trong bàn tay háo hức của cô.

Giờ thì tạm biệt nhé, Ermie. Tớ đi đây. Thuyền chắc quay lại đón rồi đấy. Dĩ nhiên là tớ sẽ chẳng đi hái lượm thực vật mà không có cậu hôm nay đâu, cứ yên tâm đi. Bye-bye; cứ ăn táo đi, và ngẫm nghĩ xem một ngày ngắn ngủi đến nhường nào nhé.

Basil tung tăng nhảy qua bãi cỏ, vượt qua con hào cạn ở phía cuối và biến mất khỏi tầm mắt.

Cuộc gặp gỡ với Ermengarde vừa có tác dụng xoa dịu vừa mang tính kích thích tinh thần đối với cô bé. Cô cảm thấy gần như phấn chấn khi ngồi bên cửa sổ mở toang và nhấm nháp những quả táo. Chiếc giỏ đó không chỉ có táo. Có một quả đào lớn, và hai miếng bánh mận ngọt lịm được giấu kín dưới lớp trái cây. Rồi, có lẽ là món đồ quý giá nhất trong số đó, chính là cuốn "Alice ở xứ sở thần tiên" phiên bản đặc biệt của riêng Marjorie nằm ở đáy giỏ.

Sau khi thưởng thức một bữa no nê với trái cây và bánh ngọt, Ermengarde kéo chiếc ghế bành của chính cô Nelson ra sát cửa sổ, cầm lấy cuốn sách của Marjorie lên và bắt đầu đọc. Giờ thì cô cảm thấy dễ chịu hơn nhiều rồi; hình phạt xem ra không quá nỗi cay đắng khi có một người anh trai đầy cảm thông và một cô em gái sẵn lòng chia sẻ những món đồ quý giá nhất của nó. Bản sao quý giá của cuốn "Alice" đã bị dính một vết ố do nước đào chảy ra, và Ermengarde đã thử lau nó đi, trong lòng cảm thấy áy náy với chủ nhân của cuốn sách.

Suy cho cùng thì Marjorie vẫn là người tốt bụng, và nếu quả thực nó đã đê tiện đi mách lẻo, thì ít ra nó cũng có chút lòng trắc ẩn để cảm thấy hối hận sau đó. Ermengarde nghĩ rằng cô sẽ hỏi Marjorie xem nó đã mách vào lúc nào, mách ra sao và ở đâu. Cô cảm thấy mình buộc phải tin tưởng cô em gái nhỏ, bởi vì chưa từng có ai nghe thấy dù chỉ là một lời dối trá từ đôi môi thành thật của Marjorie.

Ermengarde cứ thế ngồi đọc và cố chìm đắm trong những cuộc phiêu lưu của Alice. Cô chẳng hề hối hận về hành vi bất tuân của mình ngày hôm qua chút nào, nhưng cô không còn ở trong trạng thái tuyệt vọng nữa, vì hình phạt này rồi cũng có hồi kết, và nếu không vì nghĩ đến niềm vui hoang dã của những người khác, thì tình cảnh hiện tại của cô cũng chẳng phải là không thể chịu đựng nổi.

Đúng lúc đó, khi ngước mắt lên, cô nhìn thấy một cô bé đang đi dọc theo một trong những lối đi nhỏ dẫn vòng ra khu nhà bếp. Đó là một đứa bé cao chưa bằng cô, được ăn mặc gọn gàng trong bộ váy cotton màu hồng và chiếc mũ chống nắng rộng Vành màu trắng. Chân cô bé đi đôi tất đen đẹp đẽ, và bàn chân nhỏ nhắn, xinh xắn diện đôi giày sáng bóng có đính khóa. Ermengarde lập tức thả cuốn sách xuống, nhoài người ra nửa khung cửa sổ và cất giọng gọi lớn: "Susy — Susy — Susan Collins! Lại đây mau!"

Cô bé Susan ngẩng khuôn mặt vô cùng xinh xắn lên, đỏ bừng mặt, bật cười và vui vẻ chạy đến.

Có phải chị đấy không, thưa cô Ermengarde? Con tưởng cô đi vắng cùng mọi người rồi chứ. Bố con vừa giúp đưa họ lên đảo Pearl từ hơn hai tiếng trước rồi cơ ạ.

Họ trông có vẻ vui không, Susy? Kể cho chị nghe về họ xem nào. Em có chứng kiến lúc họ đi không?

Vâng thưa cô, con đứng nấp sau hàng rào hoa hồng ạ. Cô Maggie cười lớn thích thú lắm ạ, còn cậu chủ Eric thì vừa lao bổ tới để gửi con chồn sương nhờ tụi con chăm sóc hộ đấy ạ.

Thế còn Basil có đi cùng không, Susy?

Không thưa cô, họ đi mà không có cậu ấy. Con nghe bố nói là bố sẽ chèo thuyền quay lại đón cậu chủ Basil, và con cứ đinh ninh là cô cũng sẽ đi cùng cậu ấy chứ ạ. Con hy vọng cô Ermengarde không bị ốm.

Chị không bị ốm thân thể đâu, Susan ạ. Nhưng chị đã bị đối xử một cách đê tiện nhất. Chị đã bị phản bội.

Ôi trời đất ơi! Susan Collins thốt lên. Con bé đẩy lùi chiếc mũ chống nắng ra sau, để lộ toàn bộ mái tóc xoăn màu vàng óng ả vô cùng cuốn hút. Nó là một cô bé rất đẹp, và Ermengarde từ lâu đã lén lút kết thân với nó như một người bạn tri kỷ.

Chị đã bị phản bội, Susy à, Ermie tiếp lời. Nhưng chị không thể nói cho em biết là bởi ai được. Chỉ là có kẻ đã đi nói xấu sau lưng chị, thế là chị bị phạt và bị nhốt trong căn phòng này. Bây giờ chị vẫn đang bị nhốt đây này; chị không tài nào ra ngoài được. Chị là một tù nhân rồi!

Ermengarde càng kể lại cảm thấy nỗi bất hạnh của mình thêm sâu sắc. Đôi mắt xanh của Susy ánh lên vẻ thương cảm.

Có quá đáng lắm không cơ chứ? Con bé nói. Con thấy thật đê tiện khi đi trừng phạt một tiểu thư như cô Ermengarde, lại thêm cô là một trong những người tốt đẹp nhất trên đời này nữa chứ.

Là do cô Nelson đấy, Ermengarde nói. Cô ấy mang nặng thành kiến kinh khủng; chị thấy gần như không tài nào chịu đựng nổi cô ta nữa rồi.

Con chưa bao giờ coi trọng cái cô giáo đó tí nào, Susan nói một cách quả quyết. Con không tiện nói ra, chứ trông cô ta chẳng xứng đáng làm bạn với những người như cô Ermengarde tẹo nào. Nếu mà là con, con sẽ cho cô ta một bài học để đời luôn cho bõ tức.

Ồ, chị còn nhiều người khác phải tính sổ nữa cơ, Ermengarde nói. Chị đã bị đối xử rất tệ bạc.

Chắc chắn là vậy rồi ạ, thưa cô.

Sự đồng cảm của Susy rất ngọt ngào đối với Ermengarde. Cô nhoài người ra xa hơn và nhìn xuống cô bé xinh xắn.

Chị rất mừng vì em đi ngang qua đấy, Susy.

Con sẽ ở lại một lát nếu cô thích. Con chẳng vội đâu.

Chị ước gì em có thể vào đây ngồi với chị, Susy ạ; cứ phải gào thét với em từ cửa sổ thế này mệt lắm. Người đi đường nghe thấy mất.

Họ nghe thấy thật đấy chứ ạ, thưa cô. Chẳng có câu nào chuẩn xác hơn câu "tai vách mạch rừng" cả.

Ermengarde lo lắng nhìn quanh. Cô đã bị cấm tuyệt giao du với Susan Collins không biết bao nhiêu lần, bởi vì bố của con bé tuy vẫn giữ chức quản trò, nhưng lại bị ông Wilton coi là một nhân vật có phần mờ ám. Ermengarde tưởng rằng cô thích Susy vì vẻ đẹp nổi bật của cô bé, nhưng lý do thực sự khiến cô bị mê hoặc chính là vì Susy là một kẻ nịnh hót vô cùng khéo léo.

Khi Susy nhắc đến chuyện tai vách mạch rừng, Ermengarde liền liếc sang phải rồi sang trái.

Có lẽ em nên đi thì hơn, cô bảo. Chị đã dính vào một rắc rối rồi. Chị không muốn vướng vào rắc rối thứ hai đâu.

Xung quanh chưa có ai đâu ạ, thưa cô. Mấy người đàn ông đều đang đi ăn trưa cả rồi.

Ừ, nhưng còn mấy người hầu trong nhà thì sao.

Chẳng có ai bén mảng ở đây đâu, thưa cô Ermengarde. Cô nghĩ con lại đi chuốc họa vào thân vì chuyện của con đấy à? Ồ không, con ước gì được trèo lên ngồi với cô một lát.

Chị cũng ước thế, Susy ạ.

Thế thì dễ ợt thôi ạ, thưa cô, miễn là cô chịu gật đầu.

Ý em là sao? Cửa bị khóa rồi. Con Hudson phải mang cơm lên cho chị, và chẳng có ai trên đời này có thể hối lộ được nó mở cửa đâu.

Con đâu cần nó phải mở, thưa cô. Ôi, cô Ermengarde, cô bị đối xử tệ bạc quá cơ.

Đúng vậy, Susy, chị bị đối xử rất khắc nghiệt. Thôi, vì em không thể vào đây bầu bạn với chị được, tốt hơn hết là em đi đi.

Nhưng con có thể vào với cô mà, thưa cô. Một cánh cửa khóa chẳng thể ngăn được con đâu. Con sẽ giấu giỏ trứng của mình sau bụi nguyệt quế kia, rồi con sẽ có mặt bên cạnh cô ngay lập tức.

Em thực sự vào được á? Vui thế nhỉ! Em giỏi thật đấy, Susy.

Cứ chờ mà xem, thưa cô.

Susan Collins ba chân bốn cẳng chạy đi, nhanh nhẹn giấu chiếc giỏ rồi quay lại, trèo lên một cây du mọc cách cửa sổ vài bước chân với sự nhẹ nhàng và linh hoạt chẳng khác nào một chú mèo. Khi leo đến một cành cây nhất định, cô bé nằm rạp lên đó và dịch chuyển thân mình rất khẽ về hướng khung cửa sổ.

Giờ thì cô chìa cả hai tay ra đi ạ.

Ermengarde làm theo, và chỉ trong chốc lát, Susy đã đứng sừng sững bên cạnh cô trong căn phòng nhỏ xinh xắn của cô Nelson.

Chúa ơi! Con bé thốt lên. Con chưa từng thấy nhiều món đồ sang trọng thế này bao giờ. Kể cho con nghe với nào, cô Ermengarde, tất cả những cuốn sách đẹp đẽ và bức tranh này đều là của cô giáo hết ạ?

Ồ phải chứ; đó là ảnh chụp những người bạn của cô Nelson đấy.

Trời đất, sao trông cô tiểu thư này kỳ cục thế cơ chứ, cái cô mặc váy trắng, chân dài dằng dặc và để kiểu tóc lỗi mốt thế kia kìa.

Cái đó á? Ermengarde nói. Cô bước lại đứng cạnh lò sưởi và nhìn vào một bức tiểu họa lớn, hơi phai màu nhưng lại được đặt ở vị trí trang trọng giữa một nhóm rất nhiều tranh ảnh khác.

Trông con bé có dị không cơ chứ? Susy nói. Ơ, trông nó có nét giống cô Nelson thế nhỉ. Cô có biết nó là ai không, thưa cô Ermengarde?

Không, Ermengarde đáp. Nhưng chị nghĩ có một câu chuyện đằng sau bức ảnh đó đấy. Marjorie biết đấy. Marjorie có thói quen chọc ngoáy và tò mò mọi thứ. Con bé tò mò khủng khiếp. Chị thì chẳng bao giờ thèm quan tâm đến những chuyện không dính dáng gì đến mình. Nào, ra ghế bên cửa sổ ngồi đi, Susy. Em phải ngồi lùi vào trong để không ai nhìn thấy chúng ta từ ngoài sân; và khi nào con Hudson mang cơm đến, em phải chui tót vào cái tủ ở ngay phía sau chúng ta nhé.

Vâng thưa cô. Con Hudson đừng hòng bắt quả tang con lai vãng ở khu vực cấm địa này.

Susy rất thích dùng những thuật ngữ vốn thuộc về nghề nghiệp của bố cô bé. Con bé là một đứa trẻ rất giàu trí tưởng tượng; và một bí quyết tạo nên sức hút của nó đối với Ermengarde chính là khả năng kể những câu chuyện dài kỳ đầy kỳ diệu. Hầu hết những câu chuyện đó đều vô cùng rùng rợn — những chiến tích về lâm tặc mà cô nghe lõm bõm từ bố và một phần tựa bịa ra. Ermengarde thường phải nín thở mỗi khi lắng nghe. Đan xen giữa những câu chuyện hồi hộp ấy, Susan lại khéo léo nịnh hót. Cô bé không cần phải làm cho những lời ca tụng trở nên quá tinh tế. Nó có thể lặp lại nguyên văn một câu khen ngợi trong mọi lần gặp gỡ. Nó có thể khẳng định với Ermengarde rằng kể từ khi thế giới này được tạo ra, chẳng thể tìm đâu ra một cô bé nào vừa xinh đẹp, thông minh lại cao quý như Ermengarde Wilton. Ermie chẳng bao giờ thấy chán khi được nghe những lời tán dương đó.

Lúc này cô cũng rất hào hứng lắng nghe chúng. Chỉ nửa giờ sau khi Susan Collins ở trong phòng, Ermie lại một lần nữa chắc mẩm rằng Marjorie chính là kẻ đã phản bội mình, rằng cô Nelson là kẻ độc tài nhất trên đời và rằng bản thân cô là một cô bé đáng thương bị đối xử bất công nhất.

Hết nửa giờ, Hudson mở khóa cửa và mang cơm trưa vào cho Ermie. Khi nghe tiếng chìa khóa xoay trong ổ, Susan liền chui tót vào một chiếc tủ sâu được che đậy bởi tấm bình phong.

Hudson đặt khay cơm của Ermengarde xuống, bảo cô bé ăn cho thật nhiều rồi lui ra. Khi rời khỏi phòng, cô dặn rằng nửa tiếng nữa sẽ quay lại lấy khay. Cô chẳng thốt ra nổi một lời biểu lộ sự đồng cảm nào với Ermengarde. Hudson lúc nào cũng đứng về phe kỷ luật; cô nghĩ rằng lũ trẻ thời nay cực kỳ cần phải chấn chỉnh; và mỗi khi một đứa trẻ nhà Wilton bị phạt, cô thường tỏ ra vô cùng phấn khích. Tuy nhiên, điều đó không hề ngăn cản việc cô chuẩn bị cho phạm nhân một bữa ăn tuyệt ngon, và Ermengarde lúc này đang háo hức dở nắp đậy ra để chiêm ngưỡng một con vịt béo múp míp quay chín tới hoàn hảo, một ít đậu Hà Lan xanh và những củ khoai tây luộc mới bở tơi ngon lành. Một chiếc bánh tart mận xanh kèm theo một hũ kem nhỏ cũng đang chờ đợi sự thưởng thức của tiểu thư.

Cô cất giọng vui mừng gọi Susy chui ra khỏi tủ.

Lại đây Susan, cô bảo, có rất nhiều đồ cho cả hai chúng ta đấy. Vì chỉ có một bộ đĩa, dao và dĩa thôi, nên dĩ nhiên là chị sẽ ăn trước, còn em có thể rửa mấy thứ đó rồi ăn sau chị nhé. Nhưng chúng ta phải nhanh tay lên đấy, vì nửa tiếng nữa Hudson sẽ quay lại đấy.

Vâng thưa cô, tụi mình sẽ nhanh ạ. Con đói lắm rồi đấy cô Ermengarde, bữa trưa ngon lành của cô trông hấp dẫn quá cơ.

Đúng hẹn, Hudson quay trở lại. Cô mang vào thêm một cặp đào và một chùm nho cho Ermengarde.

Cô Ermengarde! Cô bé thốt lên đầy kinh ngạc, ý cô không phải là cô đã chén sạch cả con vịt rồi đấy chứ! Cả cái bánh tart nữa! Chà, tôi phải gọi thế là tham ăn đấy nhé. Nỗi buồn dẫn đến sự hối cải đâu mất tiêu rồi khi mà cái bụng lại hoành tráng thế này cơ chứ? Cô sẽ ốm đòn đấy thưa cô, chẳng có gì lạ đâu.

Nhưng thật sự là em không ăn hết cả con vịt mà Hudson — em không hề ăn hết thật mà!

Trời ạ, thế còn lại cái gì nào? Chỉ còn mỗi một mẩu ở phần lưng thôi á? Chà, con chim béo tốt này lẽ ra phải đủ cho ba người ăn đấy. Cô Ermengarde chắc chắn sẽ bị đau bụng cho mà xem, và cô hoàn toàn xứng đáng chịu điều đó. Không, tôi sẽ không để lại mấy quả đào và nho này đâu — tôi sợ lắm. Chào buổi chiều thưa cô, lát nữa đến giờ trà tôi sẽ ghé qua. Nhưng đừng có mong đợi món gì ngoài bánh mì nướng khô giòn lúc đó nhé.

Hudson mang khay xuống nhà bếp, ở đó cô không quên bàn tán về sức ăn khủng khiếp của Ermie.

Cả một con vịt! cô ta nói. Tôi không ngờ một tiểu thư lại có thể ăn khỏe đến thế. Thế mà hầu như lúc nào cô Ermie cũng chỉ ăn uống nhỏ giọt.

Còn ở trên lầu, trong phòng khách nhỏ xinh xắn của cô Nelson, Ermengarde đang mắng nhiếc Susy vì tội ăn quá nhiều thịt vịt. Susy cãi lại với vẻ hơi bực bội rằng nó không ăn quá phần của mình, và vì cuộc cãi vã này mà hai người bạn suýt chút nữa thì trở mặt thành thù.

Tuy nhiên, Susy chẳng dại gì mà lại đánh mất thiện cảm từ cô Ermengarde, và sau khi cơn giận thoáng qua hạ xuống, nó liền khéo léo chuyển chủ đề. Một lần nữa, nó lại tuôn ra những lời nịnh hót trơ trẽn và khắc sâu vào đầu Ermengarde sự thật rằng cô chính là một vị thánh tử đạo chịu đựng đủ điều cay đắng và bất công.

Con mà là cô thì con chẳng thèm nhịn đâu, Susy nói. Vâng, đời nào con chịu thế. Con không phải là tiểu thư cao sang gì như cô Ermie đâu, nhưng những gì cô phải chịu đựng thì con thèm vào.

Thế em sẽ làm gì, Susy? Em tính tự cứu mình thế nào nào?

Con sẽ làm gì á? Ờ, con sẽ về mét bố con, rồi con với bố sẽ nói chuyện ra ngô ra khoai. Cho lão già mụ giáo viên quái ác ấy biết tay chứ — vâng lệnh mụ ta làm gì cơ chứ?

Em không được phép ăn nói về cô ấy kiểu đó đâu, thực đấy Susy ạ.

Thưa cô, con là người thẳng thắn; nghĩ sao nói vậy thôi ạ. Con thấy một người tốt tội nghiệp bị hành hạ, đối xử tệ bạc hơn cả em bé, lại còn bị trừng phạt cứ như thể chúng ta đang sống thời phong kiến ấy, thì con cứ nói thẳng kẻ gây ra chuyện đó đúng là một mụ ác ma. Cô cũng nghĩ thế mà, cô Ermie, chỉ là cô kiêu kỳ quá nên không thèm nói ra thôi.

Tụi chị không diễn đạt theo cái kiểu đó ở tầng lớp của mình đâu, Ermengarde từ tốn đáp với một nụ cười kiêu kỳ mang dáng vẻ đặc trưng khiến Susy đôi khi phải chột dạ. Vâng, cô Nelson rất phù hợp để dạy dỗ bọn trẻ nhỏ, nhưng chị nghĩ là mình đã vượt quá tầm của cô ấy rồi. Chị lớn trước tuổi, và chẳng ai có thể gọi tuổi mười bốn là còn nhỏ cả.

Đó là một độ tuổi cao quý đấy thưa cô, Susy nói với giọng điệu say sưa. Con mới có mười hai thôi, nhưng lúc nào con cũng khao khát được lên mười bốn.

Ôi dào, em á, Ermengarde bảo. Em khác chứ; con gái ở tầng lớp của em không có bước ra xã hội đâu. Em không được ra mắt giới thượng lưu, em chẳng có tương lai gì cả. Chị thì hoàn toàn khác. Chị sẽ bước chân vào giới thượng lưu chậm nhất là trong vài năm nữa thôi. Điều mà chị muốn bố làm là—

Gửi cô vào một trường nội trú danh tiếng phải không ạ — con biết mà!

Em chẳng biết gì sất, Susan ạ. Trường nội trú danh tiếng á! Nghe cái từ đó thôi đã thấy bình dân thô tục rồi. Không; chị muốn bố cho phép chị tự theo đuổi con đường học vấn của mình dưới sự hướng dẫn của những giáo viên chuyên sâu từng bộ môn cơ.

Thưa cô, cô nói nghe uyên bác quá cơ.

Susan nén một cái ngáp dài, quay người đi ra hướng cửa sổ và nhìn ra ngoài.

Con biết con sẽ làm gì nếu là con đấy, cô bé nói. Con sẽ cho mụ gia sư quý tộc đài các của cô một vố đau điếng. Phải ăn miếng trả miếng chứ ạ. Chẳng lẽ cô không làm được cái gì đó khiến mụ ta phát điên lên được à, cô Ermie?

Chị chẳng biết phải làm thế nào nữa, Ermengarde nói. Cô Nelson không dễ bị làm cho phát điên đâu.

Thế thì con sẽ tìm cách. Chắc chắn con phải làm cái gì đó chứ; cứ chờ mà xem con có làm không nhé.

Im nào! Ermengarde nói. Lắng nghe xem nào! Gì thế nhỉ? Cô thò đầu ra ngoài cửa sổ. Susy toan làm theo nhưng Ermie liền đẩy con bé lùi lại.

Chị nghe thấy tiếng của Basil. Họ đang quay về rồi — phải, tất cả đều đang quay lại đấy. Susy, tốt nhất là em nên chui vào tủ đi. Trốn thật nhanh vào. Cô Nelson thể nào cũng lên đây đầu tiên cho mà xem. Ôi Susy, mau chui vào tủ ngay đi! Chị tiêu đời nếu bị phát hiện trốn trên này đấy.

Giọng Ermengarde chuyển sang vẻ nài nỉ thảm thiết. Susy, dù có chút miễn cưỡng — vì nó không tin rằng trò vui của mình lại kết thúc nhanh đến thế — cũng bị kéo và gần như đẩy tuột vào trong tủ. Khi đã nhốt được kẻ bị bắt, Ermengarde cẩn thận khóa cửa tủ lại và đút chìa khóa vào túi.

Ôi cô ơi, đừng bỏ đi rồi để con bị nhốt trong này chứ, cô con tin tội nghiệp gọi vọng qua lỗ khóa. Đừng có mà quên con nhé cô Ermie, kẻo không con lại biến thành một bộ xương khô mốc meo trong này mất thưa cô.

Giọng Susan đầy nước mắt, và những lời nài nỉ thảm thiết bảo con bé im lặng của Ermie hầu như chẳng có tác dụng gì. Tiếng bước chân đang dồn dập tiến đến hành lang.

Cô ấy đến rồi! Chị tiêu đời mất. Im đi nào Susy! Ermengarde thì thầm trong sự hoảng loạn tột độ.

Đúng lúc đó, cửa phòng được mở khóa và côNelson bước vào.

Cô cứ tưởng mình nghe thấy em đang nói chuyện với ai cơ đấy, con yêu, cô nói.

Em chỉ đang đọc thuộc lòng thơ thôi ạ, Ermengarde nói, hơi nhướn đôi mày thanh tú lên.

Cô bé thấy căm ghét chính bản thân vì đã nói dối câu này. Cô vẫn phải học thêm bài học rằng một hành động dối trá thế nào rồi cũng dẫn đến dối trá tiếp theo.

Cô rất vui vì em biết trau dồi tâm hồn đấy, Ermie, cô giáo nói.

Cô tiến lại gần cô bé, cầm lấy một bàn tay lạnh ngắt của cô và hôn lên đó.

Nào con yêu, tất cả chúng ta đều đã quay về rồi, và tất cả là vì em đấy. Basil đã nài nỉ xin cho em rất nhiều. Thằng bé đúng là một đứa trẻ đáng yêu; cô không ngạc nhiên khi em yêu quý nó đâu, con yêu ạ. Nó đã xin cho em đấy, Ermengarde, và cô — con yêu ạ, cô đã nhượng bộ lời thỉnh cầu của nó. Cô quay lại đây để báo rằng cô tha thứ cho em rồi đấy, Ermie. Em hãy cố gắng vâng lời cô trong tương lai nhé, con yêu, và hình phạt này, nhờ có sự can thiệp của Basil, có thể xem như chấm dứt. Tất cả chúng ta chuẩn bị đi uống trà ở cánh đồng cỏ khô, và em sẽ tham gia cùng mọi người ở đó. Lên phòng thay ngay cái váy vải thô màu nâu đi con yêu. Cô sẽ đợi em ở đây. Hôn cô một cái trước khi đi nào, Ermie.

Ermengarde bước tới chỗ cô giáo. Cô đi rất chậm, bởi vì cô phải kìm nén hết sức khó khăn mới không để những giọt nước mắt trào ra. Nếu không vì sự hiện diện của Susy trong tủ thì sự tha thứ và giải thoát đột ngột này hẳn đã khiến cô nhảy cẳng lên vì sung sướng rồi. Ngược lại lúc này, trái tim cô nặng trĩu như đá tảng và cô căm ghét sự đê tiện của chính mình.

Hôn cô đi, Ermie, cô Nelson giục. Nào, con yêu của cô. Con yêu, em không cần phải mang khuôn mặt rầu rĩ đó nữa đâu. Cô buộc phải phạt em, nhưng cô không nghĩ là em sẽ lại cố tình và bất tuân một cách ngang bướng nữa đâu. Vui vẻ lên nào Ermengarde; chuyện qua rồi cho qua đi. Em hãy cầu xin Chúa ban cho em sức mạnh để làm tốt hơn trong tương lai nhé con yêu. Và — một điều nữa — cô muốn em hãy tin tưởng vào tình yêu của cô dành cho em, Ermie; cô không hay thể hiện nó ra ngoài lắm. Một trong những nỗi niềm khó khăn của cô là không thể bày tỏ hết những gì mình cảm nhận, nhưng — đứa con của người mẹ quá cố trong lòng cô luôn được yêu thương, Ermengarde ạ.

Ôi, xin cô đừng nhắc đến mẹ nữa, Ermengarde nói với một tiếng nấc nghẹn ngào. Cô bé lao vút ra khỏi phòng. Khi cô quay lại, cô giáo đang đứng bên cửa sổ.

Cô không sao hiểu nổi mình đã để chìa khóa tủ ở đâu mất rồi, cô lẩm bẩm. Cô cứ nghĩ là mình cắm nó ở cửa cơ đấy.

Biết đâu cô đang để trong túi áo thì sao ạ, Ermengarde gợi ý.

Không, cô đã sờ trong túi rồi. Thôi, chúng ta không thể đợi được nữa. Lũ trẻ đang đói lả cả ra vì thèm trà rồi kìa. Cô hứa cho Basil xem mấy tấm ảnh cất trong tủ, nhưng đành để dịp khác vậy. Đi thôi, Ermengarde.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.