Syme hạ chiếc ống nhòm xuống với một sự nhẹ nhõm đến rợn người.
– Dù thế nào đi nữa, Chủ tịch không có ở cùng bọn chúng, – anh nói và lau trán.
– Nhưng chắc chắn là họ đang ở tít ngoài chân trời kia mà, – viên Đại tá ngơ ngác nói, chớp mắt và mới chỉ hồi phục một nửa sau lời giải thích dẫu có lịch sự nhưng quá đỗi vội vàng của Bull. – Anh có chắc là mình nhận ra vị Chủ tịch của các anh giữa chừng ấy người không?
– Tôi có nhận ra một con bạch tượng giữa chừng ấy người không cơ chứ! – Syme đáp, có phần bực bội. – Như anh vừa nói rất đúng đấy, họ đang ở tận chân trời; nhưng nếu hắn ta mà đang đi cùng bọn họ... có Chúa chứng giám! Tôi tin là mặt đất này sẽ rung chuyển đấy.
Sau một thoáng ngập ngừng, thành viên mới tên là Ratcliffe cất giọng với vẻ quả quyết đầy ảm đạm:
– Dĩ nhiên là Chủ tịch không ở cùng bọn chúng rồi. Tôi thề có thần Gemini là tôi ước gì hắn có ở đó. Khả năng cao hơn là Chủ tịch đang cưỡi ngựa khải hoàn đi qua Paris, hoặc đang ngồi trên đống đổ nát của Nhà thờ St. Paul.
– Thật là vô lý! – Syme nói. – Có thể đã có chuyện gì đó xảy ra khi chúng ta vắng mặt; nhưng hắn không thể nào càn quét cả thế giới nhanh đến thế được. Đúng là, – anh nói thêm, cau mày đầy hoài nghi nhìn về phía những cánh đồng xa xôi trải về hướng nhà ga nhỏ, – đúng là có vẻ như có một đám đông đang kéo về hướng này; nhưng bọn chúng không phải toàn bộ lực lượng quân sự như anh tưởng tượng đâu.
– Ồ, bọn chúng ấy à, – viên thám tử mới nói với giọng đầy khinh bỉ; – không, bọn chúng chẳng phải một lực lượng gì ghê gớm đâu. Nhưng tôi nói thật cho các anh hay, chúng vừa khít với giá trị của chúng ta – tụi mình chẳng là cái thá gì trong cái vũ trụ của lão Chủ nhật đâu, bạn trẻ ạ. Hắn đã nắm trong tay toàn bộ hệ thống cáp quang và điện thoại. Còn việc tiêu khử Hội đồng Tối cao đối với hắn chỉ là chuyệnn nhỏ như con thỏ, nhẹ tựa chiếc bưu thiếp; cứ mặc quách cho thư ký riêng của hắn lo là xong, – rồi anh ta nhổ bọt xuống thảm cỏ.
Sau đó, anh ta quay sang những người khác và nói với giọng có phần nghiêm nghị:
– Chết chóc thì có rất nhiều điều để bàn; nhưng nếu ai đó có thiện cảm hơn với lựa chọn còn lại, tôi thành thật khuyên người đó hãy đi theo sau tôi.
Nói đoạn, anh ta quay cái lưng rộng bản lại và sải bước với nguồn năng lượng lặng lẽ hướng về phía khu rừng. Những người khác liếc qua vai một cái, và thấy rằng đám mây người đen kịch ấy đã tách ra khỏi nhà ga và đang di chuyển với một kỷ luật đầy bí ẩn băng qua đồng bằng. Ngay cả bằng mắt thường, họ cũng đã nhìn thấy những đốm đen trên những khuôn mặt đi đầu, đó chính là những chiếc mặt nạ họ đang đeo. Họ quay người lại và đi theo vị thủ lĩnh, người đã tiến vào trong rừng và biến mất giữa những tán cây lấp lánh ánh sáng.
Nắng trên thảm cỏ khô ráo và oi ả. Thế nên khi lao vào khu rừng, họ cảm nhận được một luồng bóng râm mát lạnh đến sảng khoái, tựa như những thợ lặn ngụp xuống một vũng nước mờ ảo. Bên trong rừng tràn ngập những tia nắng vỡ vụn và những bóng râm chao đảo. Chúng tạo thành một thứ màn che chập chờn, gợi nhớ đến cảm giác chóng mặt khi xem phim chiếu chậm. Thậm chí Syme hầu như chẳng thể nhìn rõ những dáng người vững chãi đang đi cùng mình qua những mảng sáng tối nhảy múa trên người họ. Lúc thì đầu của một người bỗng bừng sáng như trong một bức họa của Rembrandt, khiến mọi thứ xung quanh chìm vào quên lãng; lúc khác, người đó lại hiện lên với đôi bàn tay trắng bệch nổi bật cùng khuôn mặt của một người da đen. Cựu Hầu tước đã sụp chiếc mũ rơm cũ xuống tận mắt, và bóng tối từ vành mũ cắt ngang khuôn mặt anh sắc cạnh đến mức trông anh chẳng khác nào đang đeo một trong những chiếc mặt nạ bán phần màu đen của kẻ bùng nhùng đang đuổi theo họ. Trí tưởng tượng ấy càng làm dâng trào cảm giác kinh ngạc tột độ trong lòng Syme. Anh ta có đang đeo mặt nạ không? Có ai đang đeo mặt nạ không? Có thứ gì thực sự tồn tại không? Khu rừng kỳ quái này – nơi mặt nạ của con người cứ chuyển đổi qua lại giữa đen và trắng, nơi vóc dáng của họ lúc thì phình to trong ánh nắng rồi lại chìm nghỉm vào màn đêm vô định hình, cái sự hỗn độn thuần túy về ánh sáng và bóng tối này (khác hẳn với ánh ban ngày rực rỡ ngoài kia) – đối với Syme chính là một biểu tượng hoàn hảo cho thế giới mà anh đã lăn lộn trong suốt ba ngày qua, cái thế giới mà ở đó người ta tháo râu, tháo kính, tháo mũi rồi biến thành kẻ khác. Sự tự tin bi tráng mà anh từng cảm thấy khi tin rằng vị Hầu tước là một tên ác quỷ giờ đây đã biến mất một cách kỳ lạ, khi anh biết rằng vị Hầu tước thực ra là một người bạn. Sau tất cả những bối rối ấy, anh cảm thấy gần như muốn hỏi xem rốt cuộc thế nào là bạn và thế nào là thù. Liệu có thứ gì khác biệt với vẻ bề ngoài của nó không? Vị Hầu tước đã tháo chiếc mũi giả của mình ra và hóa ra lại là một thám tử. Vậy thì hà cớ gì ông ấy lại không thể tháo cả cái đầu ra để biến thành một con yêu tinh nhỉ? Suy cho cùng, chẳng phải mọi thứ đều giống như khu rừng bối rối này, như vũ điệu của ánh sáng và bóng tối hay sao? Mọi thứ chỉ là một thoáng nhìn qua, một cái nhìn thoáng qua luôn bất ngờ và rồi cũng luôn bị lãng quên. Bởi vì Gabriel Syme đã tìm thấy ở tận sâu thẳm khu rừng ngập tràn ánh nắng ấy thứ mà nhiều họa sĩ hiện đại từng tìm thấy. Anh đã tìm thấy thứ mà người hiện đại gọi là Chủ nghĩa Ấn tượng, vốn cũng là một tên gọi khác cho chủ nghĩa hoài nghi tận cùng – thứ không thể tìm thấy bất kỳ điểm tựa nào cho vũ trụ.
Giống như một kẻ đang mắc cơn ác mộng tồi tệ phải gồng mình lên để thét gạt và thức giấc, Syme nỗ lực dồn hết sức lực để rũ bỏ ảo ảnh cuối cùng và tồi tệ nhất này. Chỉ với hai bước chân đầy sốt ruột, anh đã đuổi kịp người đàn ông đội chiếc mũ rơm của Hầu tước – người mà anh vừa gọi theo thói quen là Ratcliffe. Với một giọng điệu vui vẻ và lớn tiếng một cách quá đà, anh phá vỡ sự im lặng không đáy và bắt chuyện.
– Cho tôi hỏi, – anh nói, – rốt cuộc tất cả chúng ta đang đi đâu thế này?
Những hoài nghi trong tâm hồn anh vốn vô cùng chân thực, nên anh cảm thấy vô cùng dễ chịu khi nghe người bạn đồng hành cất tiếng bằng một giọng nói rất đỗi bình thường của con người.
– Chúng ta phải đi xuống thị trấn Lancy để ra biển, – anh ta nói. – Tôi nghĩ vùng đó ít có khả năng đứng về phía bọn chúng nhất.
– Ý anh là gì khi nói tất cả những chuyện này? – Syme kêu lên. – Bọn chúng không thể nào điều khiển cả thế giới thực theo kiểu đó được. Chắc chắn là không có nhiều người lao động lại là những kẻ vô chính phủ, và chắc chắn nếu có đi nữa, những đám đông ô hợp cũng không thể đánh bại các đội quân và cảnh sát hiện đại được.
– Đám đông ô hợp á! – người bạn mới của anh lặp lại với một tiếng khịt mũi khinh bỉ. – Anh cứ mở miệng ra là nói về đám đông và giai cấp công nhân như thể họ là vấn đề mấu chốt vậy. Anh vẫn mãi vướng vào cái ý tưởng ngớ ngẩn muôn thuở rằng nếu chủ nghĩa vô chính phủ xuất hiện thì nó sẽ khởi nguồn từ người nghèo. Tại sao lại thế được chứ? Người nghèo từng là những kẻ nổi loạn, nhưng họ chưa bao giờ là những kẻ vô chính phủ; họ có nhiều lợi ích hơn bất kỳ ai khác trong việc duy trì một chính quyền tử tế nào đó. Người nghèo thực sự có quyền lợi gắn liền với đất nước. Còn người giàu thì không; họ có thể xách du thuyền chuồn thẳng đến New Guinea. Người nghèo đôi khi phản đối việc bị cai trị tồi; còn người giới thượng lưu thì luôn phản đối mọi hình thức cai trị. Giới quý tộc từ xưa đến nay vẫn luôn là những kẻ vô chính phủ, như anh có thể thấy qua các cuộc chiến tranh của các nam tước.
– Nghe như một bài giảng lịch sử nước Anh cho trẻ mẫu giáo vậy, – Syme nói, – nghe thì rất hay đấy; nhưng tôi vẫn chưa hiểu nó áp dụng vào hoàn cảnh này như thế nào.
– Ứng dụng của nó là, – người cung cấp thông tin cho anh nói, – phần lớn những thân tín đắc lực của lão Chủ nhật đều là các triệu phú người Nam Phi và Mỹ. Đó là lý do tại sao hắn nắm trong tay mọi đường dây thông tin liên lạc; và đó cũng là lý do tại sao bốn vị dũng tướng cuối cùng của lực lượng cảnh sát chống vô chính phủ đang phải chạyn thục mạng qua rừng như những con thỏ.
– Triệu phú thì tôi có thể hiểu được, – Syme đăm chiêu nói, – hầu hết bọn họ đều điên cả rồi. Nhưng việc tóm được một vài gã già đồi bại có dăm ba sở thích quái dị lại là chuyện khác; còn việc thâu tóm cả những quốc gia Cơ đốc giáo vĩ đại lại là chuyện hoàn toàn khác. Tôi dám cá mất cả cái mũi trên mặt này (xin lỗi vì đã ví von như vậy) rằng lão Chủ nhật sẽ hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ thuần hóa bất kỳ một người bình thường khỏe mạnh nào ở bất cứ đâu.
– Chà, – người kia đáp, – điều đó còn tùy thuộc vào việc anh đang nói đến loại người nào.
– Chẳng hạn như, – Syme nói, – hắn sẽ không bao giờ thuần hóa được con người kia đâu, – và anh chỉ tay thẳng về phía trước.
Họ đã đi đến một khoảng trống ngập tràn ánh nắng, dường như tượng trưng cho sự trở lại đầy đủ của lý trí bình thường nơi Syme; và ở giữa khoảng rừng quang đãng ấy là một bóng người hiện lên sừng sững như hiện thân của thứ lẽ phải bình dị trong một thực tại gần như đáng sợ. Bị cái nắng thiêu đốt, mồ hôi nhễ nhại, với vẻ mặt nghiêm nghị mang nỗi u hoài khôn cùng của những công việc lao động lặt vặt nhưng thiết yếu, một bác nông dân lực lưỡng người Pháp đang dùng rìu chặt củi. Chiếc xe bò của bác đỗ cách đó vài thước, đã chất gần đầy những khúc gỗ; và con ngựa đang thong thả gặm cỏ cũng giống như người chủ của nó, kiên cường nhưng không tuyệt vọng; cũng giống như chủ, nó trông có vẻ sung túc nhưng lại phảng phất một nỗi buồn gần như khó tả. Người đàn ông mang dòng máu xứ Normandy, cao hơn mức trung bình của người Pháp và rất gầy gò; vóc dáng ngăm đen của bác nổi bật trên nền khoảng sân ngập nắng vuông vức, trông tựa như một bức bích họa vẽ phác hình tượng lao động ngụ ngôn trên nền vàng.
– Anh Syme đang bảo rằng, – Ratcliffe gọi lớn với viên Đại tá người Pháp, – ít nhất thì con người này cũng sẽ không bao giờ trở thành một kẻ vô chính phủ đâu.
– Anh Syme nói hoàn toàn đúng đấy chứ, – Đại tá Ducroix cười lớn đáp lời, – chỉ riêng vì lý do bác ta có quá nhiều tài sản để mà bảo vệ. Nhưng tôi quên mất rằng ở đất nước các anh, mọi người không quen với việc nông dân lại giàu có.
– Trông bác ta có vẻ nghèo mà, – Tiến sĩ Bull hoài nghi lên tiếng.
– Đúng vậy đấy, – Viên Đại tá đáp; – đó là lý do tại sao bác ta giàu.
– Tôi có một ý này, – Tiến sĩ Bull đột ngột hô lên; – bác ta sẽ lấy bao nhiêu để cho chúng ta ké một chuyến xe? Bọn chó má kia toàn đi bộ, chúng ta sẽ sớm bỏ xa tụi nó cho mà xem.
– Ồ, trả bao nhiêu cũng được! – Syme sốt sắng nói. – Tôi mang theo cả đống tiền đây này.
– Thế thì hỏng bét, – Viên Đại tá nói; – bác ta sẽ chẳng đời nào tôn trọng các anh trừ khi các anh chịu mặc cả đâu.
– Ôi dào, nếu mà còn phải cò kè mặc cả! – Bull bắt đầu tỏ vẻ sốt ruột.
– Bác ta mặc cả vì bác ta là một con người tự do, – người kia đáp. – Các anh không hiểu đâu; bác ta sẽ chẳng tài nào hiểu nổi sự hào phóng là gì đâu. Bác ta không phải là kẻ nhận tiền boa.
Và ngay cả khi họ tưởng chừng như đã nghe thấy những bước chân nặng nề của những kẻ bám đuổi kỳ quái ngay sau lưng, họ vẫn phải đứng chôn chân và giậm giật mình trong lúc viên Đại tá người Pháp trao đổi với bác tiều phu người Pháp bằng tất cả cái giọng điệu nhẩn nha trêu chọc và cãi vã đậm chất phiên chợ quê. Tuy nhiên, sau bốn phút trôi qua, họ thấy rằng viên Đại tá đã hoàn toàn đúng, bởi vì bác tiều phu đã đồng ý tham gia vào kế hoạch của họ, không phải với thái độ khép nép mơ hồ của một kẻ dắt mối được trả quá hứa, mà với sự nghiêm túc của một vị luật sư đã nhận đủ thù lao xứng đáng. Bác ta bảo họ rằng việc tốt nhất họ có thể làm là tìm đường đi xuống quán trọ nhỏ nằm trên những ngọn đồi phía trên Lancy, nơi chủ quán – một cựu binh đã trở thành tín đồ sùng đạo trong những năm tháng cuối đời – chắc chắn sẽ đồng cảm với họ, thậm chí còn dám mạo hiểm để che chở cho họ. Thế là toàn bộ nhóm người liền trèo lên chất đống trên những khúc gỗ, và tròng trành lắc lư trên chiếc xe thô sơ lao xuống sườn bên kia dốc đứng của khu rừng. Dù chiếc xe có nặng nề và cọc cạch đến đâu, nó vẫn lao đi khá nhanh, và chẳng mấy chốc họ đã có được cảm giác phấn khích tột độ khi hoàn toàn bỏ lại phía sau những kẻ – bất kể chúng là ai – đang săn đuổi họ. Bởi vì xét cho cùng, điều bí ẩn về việc làm thế nào mà đám đông vô chính phủ lại kiếm đâu ra ngần ấy kẻ đi theo vẫn chưa có lời giải đáp. Sự xuất hiện của một người duy nhất đã là quá đủ đối với họ; họ đã hoảng hốt tháo chạy ngay từ cái nhìn đầu tiên đối với nụ cười méo mó đến dị dạng của gã Thư ký. Thỉnh thoảng, Syme lại quay đầu nhìn lại về phía đoàn quân đang bám sát gót họ.
Khi khu rừng ngày càng thưa dần rồi thu nhỏ lại theo khoảng cách, anh có thể nhìn thấy những sườn đồi ngập nắng ở phía bên kia và phía trên nó; và băng qua những sườn đồi ấy, đám đông khối vuông đen kịch vẫn đang di chuyển giống như một con bọ hung khổng lồ. Dưới ánh nắng chói chang cùng đôi mắt tinh tường có tầm nhìn gần như ống nhòm của mình, Syme có thể nhìn thấy rõ mồn một khối người đó. Anh có thể thấy họ là những con người riêng biệt; nhưng anh ngày càng ngạc nhiên trước cách họ di chuyển đồng đều như một cơ thể duy nhất. Họ có vẻ mặc những bộ đồ tối màu và những chiếc mũ phớt giản dị, giống như bất kỳ đám đông bình thường nào ngoài phố; nhưng họ không tản mát, không lếch thếch rải rác theo nhiều ngả để tấn công như bản tính của một đám đông thông thường. Họ di chuyển với một vẻ cứng nhắc đầy ghê rợn và tàn nhẫn, hệt như một đội quân người máy vô cảm.
Syme chỉ điều đó cho Ratcliffe xem.
– Đúng vậy, – viên cảnh sát đáp, – đó chính là kỷ luật. Đó là lão Chủ nhật. Hắn có lẽ đang cách đây năm trăm dặm, nhưng nỗi sợ hãi về hắn đang bao trùm lên tất cả bọn chúng, tựa như ngón tay của Chúa vậy. Phải, chúng đang bước đi rất đều nhịp; và anh cứ cược cả đôi giày của mình đi, chắc chắn là chúng đang nói chuyện rất đều nhịp, phải, và cả suy nghĩ cũng đều nhịp nữa. Nhưng điều quan trọng nhất đối với chúng ta lúc này là chúng đang biến khuất dần một cách rất đều nhịp.
Syme gật đầu. Quả thực là mảng màu đen của đám người đang truy đuổi cứ nhỏ dần và nhỏ dần theo nhịp quất roi thúc ngựa của bác nông dân.
Địa hình cảnh quan ngập nắng tuy thoạt nhìn thì bằng phẳng, nhưng lại sụt xuống ở sườn bên kia của khu rừng thành những dải sườn dốc trập trùng trải dài hướng ra biển, trông khá giống với những sườn dốc phía dưới của dãy Sussex downs. Điểm khác biệt duy nhất là nếu ở Sussex thì con đường sẽ khúc khuỷu và gập ghềnh như một con suối nhỏ, nhưng ở đây con đường trắng của nước Pháp lại cắm phăng phắp thẳng đứng trước mặt họ như một ngọn thác. Chiếc xe lộc cộc lao xuống con dốc đứng trực diện ấy với một độ nghiêng đáng kể, và chỉ vài phút sau, khi con đường ngày càng dốc hơn nữa, họ đã nhìn thấy bên dưới mình hải cảng nhỏ bé của Lancy cùng một vành cung biển xanh ngắt. Đám mây người đang di chuyển gồm những kẻ thù của họ đã hoàn toàn biến mất khỏi chân trời.
Con ngựa kéo xe rẽ gấp qua một lùm cây du, và chóp mũi con ngựa suýt nữa thì đâm sầm vào mặt một ông cụ đang ngồi trên băng ghế bên ngoài quán cà phê nhỏ “Le Soleil d’Or”. Bác nông dân cục cằn cất tiếng xin lỗi, rồi trèo xuống ghế ngồi. Những người khác cũng lần lượt tụt xuống và cất lời chào ông cụ bằng những câu khách sáo ngắt quãng, bởi vì nhìn thái độ cởi mở của ông, ai nấy đều thấy rõ ràng ông chính là chủ nhân của quán trọ nhỏ này.
Ông là một cụ ông tóc trắng, má đỏ hây hây với đôi mắt lim dim và bộ ria mép màu xám; mập mạp, ưa ngồi một chỗ và rất hiền lành, thuộc tuýp người mà ta thường có thể bắt gặp ở Pháp, nhưng còn phổ biến hơn nữa ở vùng nước Đức theo đạo Thiên Chúa. Mọi thứ xung quanh ông, từ cái tẩu thuốc, vại bia, những khóm hoa cho đến tổ ong, đều gợi lên một bầuσ không khí yên bình từ thuở hồng hoang; chỉ đến khi những vị khách ngước nhìn lên lúc bước vào phòng trong của quán trọ, họ mới nhìn thấy thanh gươm treo trên vách tường.
Viên Đại tá, người đã chào đón chủ quán như một người bạn cũ, nhanh chóng bước vào phòng khách trong quán và ngồi xuống gọi chút đồ giải khát theo lệ thường. Quyết định mang tính quân sự trong hành động của ông đã thu hút sự chú ý của Syme, người ngồi ngay cạnh ông, và anh liền chớp lấy cơ hội khi ông chủ quán đã bước ra ngoài để thỏa mãn cơn tò mò của mình.
– Thưa Đại tá, tôi có thể hỏi tại sao chúng ta lại đến đây không? – anh nhỏ giọng hỏi.
Đại tá Ducroix mỉm cười sau bộ ria mép trắng tua tủa.
– Vì hai lý do, thưa anh, – ông nói; – và tôi sẽ nêu trước tiên, không phải là lý do quan trọng nhất, mà là lý do mang tính thực dụng nhất. Chúng ta đến đây bởi vì đây là nơi duy nhất trong bán kính hai mươi dặm mà chúng ta có thể kiếm được ngựa.
– Ngựa ư! – Syme lặp lại, ngước nhìn lên một cách nhanh chóng.
– Phải, – người kia đáp; – nếu các anh thực sự muốn bỏ xa kẻ thù của mình thì chỉ có cách dùng ngựa hoặc không gì cả, trừ phi các anh có sẵn xe đạp và ô tô giấu trong túi.
– Và anh khuyên chúng ta nên hướng về đâu? – Syme hoài nghi hỏi.
– Không còn nghi ngờ gì nữa, – Đại tá đáp, – tốt hơn hết là các anh nên mau chóng đến đồn hiến binh ở phía bên kia thị trấn. Người bạn của tôi, kẻ mà tôi từng làm phụ tá trong những hoàn cảnh có phần đánh lừa thị giác, dường như đang phóng đại quá mức khả năng xảy ra một cuộc nổi dậy toàn dân; nhưng ngay cả hắn ta có lẽ cũng khó mà cho rằng các anh không được an toàn khi ở cạnh lực lượng hiến binh.
Syme trầm ngâm gật đầu; đoạn anh nói cộc lốc:
– Thế còn lý do thứ hai khiến anh đến đây?
– Lý do thứ hai khiến tôi đến đây, – Ducroix điềm đạm nói, – là vì thỉnh thoảng cũng nên ghé thăm một vài con người tử tế khi ta có khả năng sắp phải đối mặt với cái chết.
Syme ngước nhìn lên bức tường, và bắt gặp một bức tranh tôn giáo được vẽ một cách thô sơ nhưng đầy bi cảm. Rồi anh nói:
– Anh nói đúng, – và gần như ngay lập tức sau đó, anh hỏi tiếp: – Có ai lo liệu về chuyện ngựa ngói chưa?
– Rồi, – Ducroix đáp, – anh có thể hoàn toàn yên tâm rằng tôi đã ra lệnh ngay khi vừa bước chân vào đây. Lũ kẻ thù của các anh trông có vẻ không vội vã gì, nhưng thực ra chúng đang di chuyển cực kỳ nhanh nhẹn, hệt như một đội quân được huấn luyện bài bản vậy. Tôi không hề nghĩ rằng lực lượng vô chính phủ lại có kỷ luật thép đến thế. Các anh không còn một phút nào để lãng phí đâu.
Gần như ngay lúc ông vừa dứt lời, cụ chủ quán già với đôi mắt xanh và mái tóc trắng đã bước vào phòng với vẻ thong thả, thông báo rằng sáu con ngựa đã được đóng yên sẵn ở bên ngoài.
Theo lời khuyên của Ducroix, năm người còn lại tự trang bị cho mình một ít đồ ăn và rượu mang theo người, rồi giữ lại những thanh kiếm đấu du làm vũ khí khả dụng duy nhất, họ lộc cộc phi ngựa lao xuống con đường trắng dốc đứng. Hai người hầu từng mang hành lý cho Hầu tước thời ông còn là hầu tước được bỏ lại phía sau để uống rượu tại quán cà phê theo sự đồng thuận chung, và hoàn toàn không trái với ý muốn của họ.
Lúc này, ánh nắng buổi chiều đang ngả về phía tây, và qua những tia nắng ấy, Syme có thể nhìn thấy vóc dáng vạm vỡ của cụ chủ quán già ngày một nhỏ dần, nhưng vẫn đứng đó dõi theo họ một cách lặng thèm, ánh nắng chiếu rọi vào mái tóc bạc phơ của ông. Syme bị ám ảnh bởi một ảo tưởng có tính chất mê tín dị đoan, vương lại trong tâm trí anh từ câu nói ngẫu nhiên của viên Đại tá, rằng đây quả thực có lẽ là người xa lạ trung thực cuối cùng mà anh còn được nhìn thấy trên cõi đời này.
Anh vẫn đang nhìn theo bóng người đang thu nhỏ dần ấy, đứng trơ trọi như một đốm xám mờ ảo được chạm điểm một ngọn lửa trắng tựa nền tường xanh vĩ đại của sườn dốc đứng phía sau ông. Và khi anh đảo mắt nhìn qua phần đỉnh của sườn dốc phía sau quán chủ quán, một đội quân những kẻ mặc đồ đen đang di chuyển hành quân xuất hiện. Chúng dường như lơ lửng bên trên người đàn ông tốt bụng và ngôi nhà của ông ta hệt như một đám mây châu chấu đen kịt. Lũ ngựa đã được đóng yên đúng là không một phút nào sớm hơn được nữa.