Nhà vua Haroun-al-Raschid ngồi trong cung điện, tự hỏi liệu trên thế gian này có còn thứ gì có thể mang lại cho mình dăm ba tiếng phút giải khuây chăng, thì Giafar, vị đại tể tướng đồng thời là người bạn tri kỷ lâu năm, đột nhiên xuất hiện trước mặt ngài. Cúi gập người thật sâu, ông cung kính đợi chờ cho đến khi bề trên cất lời; nhưng Haroun-al-Raschid chỉ quay đầu nhìn ông rồi lại chìm đắm vào tư thế mệt mỏi ban đầu.
Bấy giờ, Giafar có điều quan trọng muốn tâu lên nhà vua và chẳng hề có ý định bỏ cuộc chỉ vì một sự im lặng, thế là sau một cái cúi đầu thật thấp nữa trước ngai vàng, ông bắt đầu lên tiếng.
— Tâu Đạo vương kính mến, — ông thưa, — thần mạo muội nhắc nhở Điện hạ rằng ngài từng tự mình cam kết sẽ vi hành để tận mắt quan sát cách người ta thực thi công lý và duy trì trật tự khắp chốn kinh thành. Hôm nay chính là ngày ngài đã định sẵn cho việc này, và biết đâu qua việc tròn bổn phận ấy, ngài sẽ tìm thấy đôi chút khuây khỏa khỏi nỗi u sầu mà thần vô cùng đau lòng khi thấy ngài đang phải gặm nhấm.
— Ngươi nói phải, — vị Caliph đáp, — ta đã quên bẵng đi mất. Hãy đi thay áo choàng đi, ta cũng sẽ thay áo của mình.
Chỉ ít phút sau, cả hai cùng bước trở lại sảnh đường trong bộ dạng cải trang thành những thương nhân ngoại quốc, rồi qua một cánh cửa bí mật bước ra vùng đất bên ngoài. Tại đây, họ rẽ về phía sông Euphrates, vượt sông trên một chiếc thuyền nhỏ, rồi đi rảo qua khu phố nằm dọc theo bờ bên kia mà chẳng thấy có gì cần đến sự can thiệp của mình. Vô cùng hài lòng trước cảnh tượng yên bình và trật tự tốt đẹp trong thành, nhà vua cùng vị đại tể tướng tiến về phía một cây cầu dẫn thẳng về cung điện, và đã bước lên cầu thì bị một lão mù chặn lại để xin bố thí.
Nhà vua bố thí cho lão một đồng tiền rồi toan bước tiếp, nhưng lão mù chộp lấy tay ngài và giữ chặt lấy.
— Hỡi người có lòng bác ái, — lão nói, — bất kể ngài là ai, xin hãy ban ơn cho tôi thêm một điều nữa. Xin ngài hãy giáng cho tôi một cú đánh. Tôi hoàn toàn xứng đáng phải chịu đòn, thậm chí là một hình phạt nặng nề hơn thế.
Vô cùng kinh ngạc trước thỉnh cầu này, nhà vua ôn tồn đáp: "Hỡi bác thiện lương, điều bác xin là không thể được. Sự bố thí của ta sẽ có ích gì nếu ta lại đối xử tệ bạc với bác như vậy?" Nói đoạn, ngài cố gỡ bàn tay của gã hành mù đang bấu chặt lấy mình.
— Tâu ngài, — lão đáp, — xin hãy lượng thứ cho sự táo tợn và lì lợm của tôi. Hoặc xin ngài hãy nhận lại tiền, hoặc hãy giáng cho tôi cú đánh mà tôi khẩn khoản cầu xin. Tôi đã thề một lời thề độc rằng sẽ không nhận bất cứ thứ gì nếu không chịu roi đòn, và nếu ngài thấu hiểu mọi sự, ngài sẽ thấy hình phạt này còn chưa bằng một phần mười những gì tôi đáng phải chịu."
Xúc động trước những lời ấy, và có lẽ còn vì bận tâm đến những việc khác đang chờ giải quyết, nhà vua đành nhượng bộ và giáng một cú nhẹ lên vai lão. Đoạn, ngài tiếp bước lên đường, để lại sau lưng lời cầu phúc của người mù. Khi đi ra đến khoảng không gian khuất tầm tai, ngài bảo tể tướng: "Ắt phải có điều gì kỳ lạ lắm mới khiến kẻ đó hành xử như vậy—ta rất muốn tìm hiểu nguyên do. Hãy quay lại gặp hắn, cho hắn biết ta là ai, và ra lệnh cho hắn ngày mai, sau giờ cầu nguyện buổi chiều, nhất định phải có mặt ở cung điện."
Thế là vị đại tể tướng quay lại cây cầu; trao cho gã hành khất mù trước là một đồng tiền, sau là một cú đánh, truyền đạt lại thông điệp của nhà vua, rồi trở lại đi sát bên chủ nhân.
Họ tiếp tục hướng về cung điện, nhưng khi đi qua một quảng trường, họ bắt gặp một đám đông đang vây quanh một người đàn ông trẻ tuổi diện đồ lịch sự. Y đang thúc một con ngựa chạy hết tốc lực vòng quanh khoảng trống, vừa dùng curoa vừa quật roi tàn nhẫn đến mức con vật đã bê bết mồ hôi và máu. Lấy làm lạ trước cảnh tượng này, nhà vua bèn hỏi một kẻ qua đường xem sự thể là thế nào, nhưng chẳng ai đáp lại được gì ngoài việc ngày nào vào giờ này sự việc cũng diễn ra y như vậy.
Vẫn mang nỗi ngạc nhiên, ngài bước tiếp, và trước mắt đành tự bằng lòng với việc ra lệnh cho tể tướng buộc kẻ cưỡi ngựa kia cũng phải trình diện trước mặt ngài cùng lúc với người mù.
Ngày hôm sau, sau lễ cầu nguyện buổi chiều, nhà vua bước vào sảnh đường, theo sau là vị tể tướng dẫn theo hai người mà chúng ta vừa nhắc tới, cùng một người thứ ba chẳng liên quan gì đến câu chuyện của chúng ta. Tất cả đều cúi gập người sát đất trước ngai vàng rồi được nhà vua ra lệnh đứng dậy, và ngài bảo hãy hỏi tên người mù.
— Tâu Điện hạ, thần là Baba-Abdalla, — lão đáp.
— Baba-Abdalla, — nhà vua tiếp lời, — cách xin bố thí của ngươi ngày hôm qua đối với ta quả thực lạ lùng đến mức suýt chút nữa ta đã ra lệnh bắt ngươi ngừng ngay việc gây ra điều tiếng công khai ấy tại chỗ. Nhưng ta cho gọi ngươi đến đây là để gặng hỏi động cơ nào khiến ngươi đưa ra một lời thề kỳ quặc nhường ấy. Khi biết rõ nguyên do, ta mới có thể phán đoán xem ngươi có được phép tiếp tục hành động đó nữa hay không, bởi ta không khỏi nghĩ rằng nó đang tạo ra một tiền lệ vô cùng xấu cho người khác. Vì vậy, hãy khai hết sự thật cho ta và không được giấu giếm điều gì.
Những lời ấy khiến lòng Baba-Abdalla chấn động, gã sụp xuống phủ phục dưới chân nhà vua. Đoạn, đứng dậy, gã thưa: "Tâu Đạo vương kính mến, thần xin cúi đầu tạ tội vì sự lì lợm của thần khi cứ nài nỉ Điện hạ làm một việc thoạt nhìn có vẻ hoàn toàn vô nghĩa. Chắc chắn rằng trong mắt người đời, nó chẳng có nghĩa lý gì; nhưng thần coi đó như một chút chuộc tội cho một tội lỗi tày trời mà thần từng phạm phải, và nếu Điện hạ rủ lòng chiếu cố lắng nghe câu chuyện của thần, ngài sẽ thấy chẳng có hình phạt nào có thể đền nổi tội ác ấy."