Nghìn Lẻ Một Đêm

Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chuyện Về Ba Vị Hoàng Tử Kalandar Và Năm Người Phụ Nữ Ở Baghdad

❊ ❊ ❊

Dưới triều đại của vị Caliph Haroun-al-Raschid, tại Baghdad có một người khiêng vác dù xuất thân khiêm nhường nhưng lại là một người thông minh và thức thời. Một buổi sáng nọ, anh đang ngồi ở góc quen thuộc với chiếc giỏ trước mặt để chờ thuê mướn, thì một tiểu thư cao ráo, trùm chiếc khăn voan bằng vải muslin dài, bước đến và bảo: "Hãy xách giỏ lên và đi theo ta." Người khiêng vác vô cùng ấn tượng trước dáng vẻ và giọng nói của nàng, liền đứng phắt dậy, vác giỏ lên đầu và lẽo đập bước theo nàng, miệng lẩm bẩm: "Ồ, ngày hạnh phúc! Ồ, cuộc gặp gỡ may mắn!"

Chẳng mấy chốc, nàng dừng lại trước một cánh cửa đóng kín rồi gõ cửa. Cánh cửa được mở ra bởi một cụ già râu tóc bạc phơ, và người tiểu thư liền đưa tiền cho ông mà không nói một lời. Cụ già dường như hiểu rõ nàng muốn gì, liền bước vào trong nhà và trở ra với một vại rượu lớn; người khiêng vác bèn đặt vại rượu vào giỏ của mình. Sau đó, người tiểu thư ra hiệu cho anh đi theo, và họ tiếp tục lên đường.

Điểm dừng chân tiếp theo của nàng là một cửa hàng trái cây và hoa tươi; tại đây, nàng mua rất nhiều táo, mơ, đào cùng các loại quả khác, bên cạnh hoa huệ, hoa nhài và đủ loại cây cỏ thơm ngát. Từ cửa hàng này, nàng lần lượt ghé qua tiệm thịt, tiệm tạp hóa và tiệm gia cầm, cho đến khi người khiêng vác tuyệt vọng thốt lên: "Thưa tiểu thư hiền lành, nếu ngài nói trước là định mua lượng thực phẩm đủ nuôi sống cả một thị trấn, thì tôi đã đem theo ngựa, hay đúng hơn là lạc đà rồi." Nàng tiểu thư bật cười, bảo rằng vẫn chưa mua xong đâu, và sau khi chọn đủ các loại hương liệu cùng gia vị tại một tiệm thuốc, nàng dừng lại trước một cung điện tráng lệ, nhẹ nhàng gõ cửa. Người nữ bộc ra mở cửa sở hữu nhan sắc lộng lẫy đến mức khiến mắt anh chàng chói lóa, và anh càng kinh ngạc hơn khi nhận ra rõ ràng nàng không phải là nô lệ. Người tiểu thư dẫn đường đứng nhìn anh với vẻ thích thú, cho đến khi nữ bộc thốt lên: "Sao cậu không vào đi, em gái? Người tội nghiệp này mang nặng sắp khuỵu chân xuống rồi kìa."

Khi cả hai đã bước vào, cửa được cài then cất kỹ, và cả ba cùng tiến vào một khoảng sân rộng được bao quanh bởi hành lang trổ thủng. Ở một đầu sân có một bệ cao, trên đó đặt chiếc ngai bằng hổ phách do bốn cột gỗ mun chống đỡ, được chạm trổ ngọc trai và kim cương. Giữa sân là một hồ nước bằng cẩm thạch phun nước từ miệng một con sư tử bằng vàng.

Người khiêng vác đưa mắt quan sát xung quanh, ngắm nghía và trầm trồ trước mọi thứ; nhưng sự chú ý của anh bị thu hút đặc biệt bởi một vị tiểu thư thứ ba đang ngồi trên ngai vàng, người thậm chí còn đẹp lộng lẫy hơn cả hai người kia. Dựa vào thái độ kính cẩn mà hai người kia dành cho nàng, anh đoán chắc nàng là người lớn tuổi nhất, và anh đã đoán không sai. Vị tiểu thư này tên là Zobeida, nữ bộc mở cửa tên là Sadie, còn người quản gia là Amina. Theo một tiếng ra hiệu của Zobeida, Sadie và Amina liền nhấc chiếc giỏ xuống khỏi người khiêng vác – anh vô cùng nhẹ nhõm khi trút được gánh nặng ấy – và sau khi lấy hết đồ ra, họ thưởng công anh rất hậu. Thế nhưng, thay vì vác giỏ ra về, anh chàng vẫn nấn ná ở lại, cho đến khi Zobeida cất tiếng hỏi anh đang chờ gì hay vẫn mong nhận thêm tiền. "Ồ, thưa phu nhân," anh đáp, "ngài đã cho tôi quá nhiều rồi, và tôi sợ mình bất lịch sự vì không chịu cáo lui ngay lập tức. Nhưng nếu ngài lượng thứ cho phép, tôi cứ ngẩn ngơ kinh ngạc khi thấy những vị tiểu thư xinh đẹp như thế này lại chỉ sống một mình. Một nhóm phụ nữ mà không có đàn ông thì cũng buồn chán chẳng khác nào một nhóm đàn ông mà không có phụ nữ." Và sau khi kể vài câu chuyện để chứng minh cho quan điểm của mình, anh kết lại bằng cách nài nỉ họ cho phép mình ở lại làm người thứ tư dự bữa tối.

Bọn họ cảm thấy khá buồn cười trước sự táo bạo của anh chàng, và sau một hồi bàn bạc, họ đồng ý cho anh ở lại vì sự góp mặt của anh có thể mang lại niềm vui. "Nhưng hãy nghe đây, bạn hiền," Zobeida nói, "nếu chúng tôi chấp thuận yêu cầu của ngươi, thì chỉ với điều kiện ngươi phải cư xử thật mực thước, và phải giữ kín bí mật về lối sống của chúng tôi mà sự tình cờ đã phơi bày cho ngươi biết." Thế rồi tất cả cùng ngồi vào bàn ăn, nơi Amina đã bày biện những món ăn mà nàng vừa mua.

Sau vài miếng đầu tiên, Amina rót rượu vào một chiếc cốc vàng. Theo phong tục của người Ả Rập, nàng uống trước, rồi sau đó rót đầy cốc cho các chị em của mình. Đến lượt người khiêng vác, anh liền kính cẩn hôn tay Amina và cất tiếng hát một khúc ca do chính anh vừa ứng tác để ca ngợi thứ rượu ngon. Ba vị tiểu thư rất hứng thú với bài hát và cũng tự mình cất giọng ca vang, nhờ vậy bữa tiệc trở nên vô cùng rôm rả và kéo dài hơn dự định rất nhiều.

Cuối cùng, thấy trời sắp lặn, Sadie bảo người khiêng vác: "Hãy đứng dậy và đi đi; đã đến lúc chúng ta phải giải tán rồi."

"Ồ, thưa phu nhân," anh đáp, "sao ngài lại nỡ đuổi tôi đi trong tình trạng thế này? Giữa hơi men ngây ngất và niềm vui sướng khi được ngắm nhìn các ngài, tôi đời nào tìm được đường về nhà. Xin hãy cho tôi ở lại đây đến sáng, và khi nào tỉnh táo lại, tôi sẽ rời đi theo ý các ngài."

"Cứ để anh ta ở lại đi," Amina nói – người lúc trước đã tỏ ra bênh vực anh. "Điều đó hoàn lắm chứ, vì anh ta đã mang lại cho chúng ta bấy nhiêu tiếng cười mà."

"Tùy em thôi, em gái," Zobeida đáp; "nhưng nếu anh ta ở lại, ta phải đặt ra một điều kiện mới. Này anh thợ khiêng vác," nàng quay sang anh và tiếp lời, "nếu ngươi ở lại, ngươi phải hứa là không được gặng hỏi bất cứ điều gì ngươi nhìn thấy. Nếu vi phạm, ngươi có thể sẽ phải nghe những điều không mấy dễ chịu đâu đấy."

Mọi chuyện đã định đoạt xong, Amina bèn dọn bữa tối lên và thắp sáng căn sảnh bằng hàng loạt ngọn nến thơm ngát. Họ lại ngồi vào bàn, với cảm giác thèm ăn trọn vẹn, bắt đầu ăn uống, ca hát và ngâm thơ. Quả thực, tất cả đang vô cùng vui vẻ thì chợt nghe tiếng gõ cửa ngoài ngõ, Sadie liền đứng dậy đi mở. Chẳng mấy chốc nàng quay lại và cho biết có ba vị Kalandar, cả ba đều bị mù mắt phải, đầu mày râu và lông mày đều được cạo sạch trơn, đang khẩn khoản xin vào trú ngụ vì họ vừa mới đến Baghdad mà trời đã sập tối. Nàng nói thêm: "Họ có vẻ là những người lịch thiệp, nhưng các chị không tưởng tượng nổi trông họ buồn cười thế nào đâu. Em chắc chắn chúng ta sẽ thấy sự góp mặt của họ rất thú vị."

Zobeida và Amina tỏ ra ngần ngại khi tiếp đón những vị khách lạ, và Sadie thừa hiểu lý do vì sao họ chần chừ. Thế nhưng nàng nài nỉ quyết liệt đến mức cuối cùng Zobeida đành phải nhượng bộ. "Vậy thì hãy cho họ vào," nàng nói, "nhưng bắt họ phải hiểu rõ rằng không được phép bàn tán về những chuyện không liên quan đến mình, và nhớ bắt họ đọc dòng khắc trên cửa." Bởi vì trên cánh cửa có khắc những dòng chữ bằng vàng rằng: "Kẻ nào nhúng tay vào chuyện không phải của mình, sẽ phải nghe những lời sự thật chẳng mấy lọt tai."

Ba vị Kalandar cúi đầu thật thấp khi bước vào và gửi lời cảm ơn các tiểu thư vì lòng tốt cùng sự hiếu khách. Các nàng đáp lại bằng những lời chào mừng nồng nhiệt, và tất cả mọi người đang chuẩn bị ngồi xuống chỗ của mình thì ánh mắt của mấy vị Kalandar vô tình chạm phải người khiêng vác – trang phục của anh trông cũng chẳng khác họ là bao, dù anh vẫn giữ nguyên mái tóc mà tạo hóa đã ban tặng. Một người trong số họ liền lên tiếng: "Đây hẳn là một người anh em đồng đạo người Ả Rập của chúng ta, kẻ đã dám nổi loạn chống lại giáo chủ."

Mặc dù đang ngái ngủ vì hơi men, người khiêng vác vẫn nghe rõ mồn một những lời ấy, bèn chẳng thèm nhúc nhích mà tức giận quát lên với vị Kalandar: "Ngồi xuống và lo chuyện của ông đi! Bộ ông không đọc dòng chữ khắc trên cửa hay sao? Đâu phải ai cũng bắt buộc phải sống cùng một kiểu."

"Xin chớ giận dữ thế, bạn hiền," vị Kalandar đáp; "chúng tôi rất lấy làm tiếc nếu đã làm phiền lòng ngài;" thế là cơn mâu thuẫn nhanh chóng được xoa dịu, và bữa tối chính thức bắt đầu. Khi đã ăn uống no nê, mấy vị Kalandar ngỏ ý muốn đàn cho các nữ chủ nhân nghe nếu trong nhà có sẵn nhạc cụ. Các vị tiểu thư vô cùng hào hứng trước ý tưởng này, Sadie liền đi tìm xem có thứ gì, rồi chốc sau đã trở lại mang theo hai loại sáo khác nhau cùng một chiếc trống lắc. Mỗi vị Kalandar chọn lấy thứ mình thích và bắt đầu tấu lên một giai điệu quen thuộc, trong khi các tiểu thư cất tiếng hát theo lời ca. Đó là những lời ca tươi vui và rộn ràng nhất có thể, khiến thỉnh thoảng các nữ ca sĩ phải ngừng lại để tận hưởng những tràng cười gần như nghẹt thở. Giữa lúc không khí đang huyên náo tột độ ấy, tiếng gõ cửa lại vang lên.

Lúc bấy giờ, vào đầu buổi tối hôm ấy, vị Caliph đã cải trang thành thương gia, bí mật rời cung điện cùng vị đại tể tướng Giafar và Mesrour – tổng quản thái giám. Đi dạo qua các con phố, vị Caliph bị thu hút bởi tiếng nhạc cụ cùng những tiếng cười rôm rả, bèn ra lệnh cho tể tướng đến gõ cửa ngôi nhà nọ vì ngài muốn bước vào bên trong. Tể tướng tâu rằng những người phụ nữ sống ở đó có vẻ đang tiếp đón bạn bè, và ngài nghĩ vị chủ thượng không nên đến làm phiền họ; thế nhưng Caliph đã nổi máu tò mò muốn tự mình mục sở thị và kiên quyết đòi thuộc hạ phải tuân lệnh.

Sadie cầm ngọn nến trên tay ra mở cửa, và vị đại tể tướng vô cùng kinh ngạc trước nhan sắc của nàng, cúi đầu thật thấp rồi kính cẩn tâu rằng: "Thưa phu nhân, chúng tôi là ba thương gia vừa mới đến từ Moussoul, nhưng do một tai nạn bất ngờ xảy ra ngay trong đêm nay, khi chúng tôi tìm về đến quán trọ thì cửa đã đóng then cài đến tận sáng mai. Không biết phải đi đâu về đâu, chúng tôi lang thang trên phố cho đến khi đi ngang qua nhà ngài, thấy ánh đèn rực rỡ và nghe tiếng người nói cười, nên chúng tôi quyết định mạo muội xin ngài cho tá túc đến tận bình minh. Nếu ngài rủ lòng thương ban ơn phước ấy, được sự cho phép của ngài, chúng tôi sẽ hết sức mình giúp các ngài trải qua khoảng thời gian này thật vui vẻ."

Sadie đáp lời vị thương gia rằng nàng phải tham khảo ý kiến của các chị em trước đã; và sau khi bànạc xong xuôi, nàng quay lại thông báo rằng ngài cùng hai người bạn được chào đón nồng nhiệt để gia nhập nhóm của họ. Họ bước vào, lịch sự cúi chào các tiểu thư cùng những vị khách hiện diện. Khi ấy, với tư cách là người chủ nhà, Zobeida bước lên trước và nghiêm nghị nói: "Các vị được chào đón ở đây, nhưng tôi hy vọng các vị cho phép tôi đưa ra một yêu cầu duy nhất: các vị muốn mở rộng tầm mắt thế nào cũng được, tuyệt đối chớ mở miệng; và đừng tâu hỏi bất cứ điều gì về những gì các vị nhìn thấy, dù nó có vẻ lạ lùng đến đâu đi nữa."

"Thưa phu nhân," tể tướng đáp, "ngài cứ yên tâm. Chúng tôi đã có đủ thứ để thưởng thức và giải trí rồi, hà cớ gì phải bận tâm đến những chuyện chẳng can gì đến mình." Thế rồi tất cả cùng ngồi xuống, nâng ly chúc sức khỏe những vị khách mới.

Trong lúc vị đại tể tướng Giafar đang trò chuyện với các tiểu thư, Caliph mải bận tâm suy đoán không biết họ là ai, và vì sao cả ba vị Kalandar đều bị mù mắt phải. Ngài đang bứt rứt muốn cất lời gặng hỏi nguyên do của mọi chuyện, nhưng đành ngậm tăm trước yêu cầu của Zobeida, vì thế ngài ráng lấy lại tinh thần để tham gia vào câu chuyện vốn đang diễn ra vô cùng sôi nổi, với chủ đề xoay quanh muôn vàn loại hình giải trí khác nhau trên đời. Chốc sau, mấy vị Kalandar đứng dậy biểu diễn vài điệu múa kỳ lạ khiến tất cả mọi người còn lại trầm trồ thích thú.

Khi họ vừa dứt điệu múa, Zobeida đứng dậy, cầm tay Amina và bảo: "Em gái, các vị khách quý sẽ lượng thứ nếu chúng ta có lỡ quên mất sự hiện diện của họ để hoàn thành nhiệm vụ hằng đêm." Amina hiểu ý chị, liền thu dọn chén dĩa, ly tách cùng các nhạc cụ rồi mang đi, trong khi Sadie quét dọn căn sảnh và sắp xếp mọi thứ ngăn nắp. Xong xuôi, nàng mời mấy vị Kalandar ngồi lên chiếc ghế bành ở một bên phòng, còn Caliph cùng các bạn ngồi ở phía đối diện. Riêng người khiêng vác, nàng nhờ anh đến phụ giúp mình và cô em gái.

Chẳng mấy chốc Amina bước vào, tay khiêng một chiếc ghế đẩu đặt xuống chính giữa khoảng trống. Tiếp đó, nàng tiến đến cánh cửa tủ và ra hiệu cho người khiêng vác theo mình. Anh làm theo, và chẳng mấy chốc quay trở ra, dắt theo hai con chó màu đen bị xiềng xích, đưa chúng ra giữa phòng. Zobeida lúc này đứng dậy khỏi chỗ ngồi giữa nhóm Kalandar và Caliph, chậm rãi bước về phía người khiêng vác đang đứng cùng hai con chó. "Đến lúc phải làm tròn bổn phận rồi," nàng thở dài thườn thượt, xắn tay áo lên, cầm lấy chiếc roi da từ tay Sadie rồi bảo người thợ: "Hãy dắt một con chó đến chỗ em gái Amina, và đưa con kia cho ta."

Người khiêng vác làm theo lời dặn, nhưng khi anh vừa dắt con chó đến gần Zobeida, nó liền cất lên những tiếng tru thảm thiết và ngước nhìn nàng bằng ánh mắt khẩn khoản. Thế nhưng Zobeida phớt lờ tất cả, quất roi liên hồi vào con chó cho đến khi thở không ra hơi. Sau đó, nàng nhận sợi xích từ tay người khiêng vác, nhấc bổng con chó đứng bằng hai chân sau; cả hai nhìn sâu vào mắt nhau đầy đau đớn cho đến khi những giọt nước mắt lăn dài trên khóe mi cả hai. Lúc bấy giờ, Zobeida lấy chiếc khăn tay dịu dàng lau mắt cho con chó, rồi hôn nó, đoạn nhét sợi xích vào tay người khiêng vác và bảo: "Dắt nó về chuồng rồi mang con kia ra đây cho ta."

Nghi thức tương tự được lặp lại với con chó thứ hai, trong khi toàn bộ những người có mặt đều trố mắt kinh ngạc. Riêng Caliph hầu như không thể kìm chế nổi bản thân, cứ liên tục ra hiệu cho tể tướng hỏi xem tất cả những chuyện này có ý nghĩa gì. Thế nhưng vị tể tướng vờ như không thấy và quay mặt đi chỗ khác.

Zobeida đứng lặng ở giữa phòng một lúc lâu, cho đến khi Sadie bước lại nài nỉ nàng ngồi xuống, vì bản thân Sadie cũng còn một phần việc phải làm. Nghe thế, Amina liền đi lấy một cây đàn luýt trong chiếc hộp bằng lụa vàng rồi trao cho Sadie; nàng ôm đàn cất tiếng hát vang qua những khúc ca phụ họa. Khi đã mỏi mệt, nàng quay sang bảo Amina: "Em gái ơi, chị hết sức rồi; xin em hãy đến thay chị đi."

Amina khảy vài hợp âm rồi cất cao giọng hát, nàng hát nồng nhiệt đến độ kiệt sức, ngả người thở dốc xuống đống nệm lót và xé toạc ngực áo để lấy chút không khí. Trước sự bàng hoàng tột độ của tất cả mọi người có mặt, cổ của nàng – thay vì phải láng mịn và trắng ngần như khuôn mặt – lại chằng chịt những vết sẹo kinh hoàng.

Mấy vị Kalandar và Caliph nhìn nhau, thì thầm to nhỏ ngoài tầm nghe của Zobeida và Sadie – những người đang bận chăm sóc người em gái ngất xỉu.

"Tất cả chuyện này nghĩa là sao chứ?" Caliph hỏi.

"Chúng tôi cũng mù tịt chẳng khác gì ngài," vị Kalandar mà ngài vừa bắt chuyện đáp lời.

"Sao cơ! Các ông không phải người trong nhà này à?"

"Thưa bệ hạ," toàn bộ các vị Kalandar đồng thanh đáp, "chúng tôi chỉ mới đặt chân đến đây trước ngài đúng một tiếng đồng hồ."

Họ quay sang người khiêng vác để xem liệu anh có giải mã được bí ẩn này không, nhưng anh chàng cũng ngớ ngẩn chẳng biết gì hơn họ. Cuối cùng, Caliph không thể kìm nén sự tò mò được nữa, tuyên bố sẽ bắt ép các tiểu thư phải khai ra ý nghĩa của hành vi kỳ quái vừa rồi. Đoán trước được hậu quả, vị đại tể tướng bèn khẩn khoản nhắc ngài nhớ đến điều kiện mà các nữ chủ nhân đã đặt ra, đồng thời thì thầm rằng nếu điện hạ chịu chờ đến sáng mai, với quyền lực của một Caliph, ngài hoàn toàn có thể triệu tập những người phụ nữ ấy ra hầu tòa. Thế nhưng Caliph vốn không quen bị trái ý, gạt phăng lời khuyên đó đi, và sau một hồi bàn tán thêm, họ đi đến thống nhất là sẽ để người khiêng vác đứng ra đặt câu hỏi. Đột nhiên Zobeida quay phắt lại, bắt gặp cảnh tượng họ đang xôn xao, bết bát bèn cất tiếng hỏi: "Có chuyện gì thế – các người đang bàn tán điều gì mà nghiêm túc vậy?"

"Thưa phu nhân," người khiêng vác đáp lời, "các vị nam nhân đây khẩn khoản xin ngài giải thích cho họ rõ vì sao ngài lại đánh những con chó rồi sau đó lại ôm chúng khóc lóc, và vì sao vị tiểu thư vừa ngất xỉu kia trên người lại chằng chịt những vết sẹo. Thưa phu nhân, họ đã cử tôi làm phát ngôn viên cho họ."

"Có thật vậy không, hỡi các vị khách," Zobeida ngẩng cao đầu hỏi, "rằng các người đã xúi giục gã này thay mặt mình đặt câu hỏi đó với ta?"

"Quả thực là vậy," tất cả đều đồng thanh đáp, ngoại trừ Giafar vẫn im lặng.

"Có phải thế này không," Zobeida tiếp lời, cơn giận dữ dâng trào theo từng giây, "đây là cách các người đáp lại lòng hiếu khách mà ta dành cho các người sao? Các người đã quên mất điều kiện duy nhất để được bước chân vào ngôi nhà này rồi à? Mau lên nào," nàng vỗ tay ba tiếng, và dứt lời thì bảy tên nô lệ da đen, mỗi kẻ lăm lăm thanh mã tấu trên tay, từ ngoài xông thẳng vào vây kín bảy người đàn ông, quật ngã họ xuống đất và chuẩn bị sẵn sàng hạ lệnh từ chủ nhân để chém đầu tất cả.

Cả bảy kẻ tội đồ đều nghĩ rằng giờ chết của mình đã điểm, và Caliph vô cùng hối hận vì đã không nghe theo lời khuyên của tể tướng. Thế nhưng họ đều dồn can đảm để chuẩn bị đối mặt với cái chết, ngoại trừ người khiêng vác – anh ta lớn tiếng truy hỏi Zobeida vì sao bản thân lại phải vạ lây vì lỗi lầm của người khác, đồng thời lớn tiếng phân trần rằng những ruổi ro này sẽ chẳng bao giờ xảy ra nếu không có mấy gã Kalandar lúc nào cũng mang theo vận hạn đen đủi. Anh kết luận bằng cách khẩn nài Zobeida đừng vơ đũa cả nắm giữa kẻ có tội và người vô tội, hãy tha mạng cho mình.

Bất chấp cơn thịnh nộ, những lời than vãn thảm thiết của gã khiêng vác có gì đó quá đỗi buồn cười khiến Zobeida không sao nhịn được cười. Tuy nhiên, gạt anh ta sang một bên, nàng quay sang chất vấn nhóm người còn lại lần nữa: "Trả lời ta mau; các người là ai? Trừ khi khai thật, các người không còn lấy một khoảnh khắc nào để sống nữa đâu. Ta dám cá các người chẳng phải nhân vật có địa vị gì, dù đến từ bất cứ đất nước nào chăng nữa. Nếu có, các người đã biết giữ ý tứ hơn với chúng tôi rồi."

Vốn bản tính thiếu kiên nhẫn, Caliph chịu đựng sự dằn vặt lớn hơn bất cứ ai khi nhận ra sinh mạng của mình đang nằm trong tay một vị tiểu thư đang phẫn nộ chính đáng; thế nhưng khi nghe câu hỏi đó, ngài bắt đầu thấy dễ thở hơn đôi chút, bởi ngài đinh ninh rằng chỉ cần nàng biết rõ danh tính và tước vị của mình thì mọi hiểm họa sẽ tiêu tan. Ngay lập tức, ngài thì thầm giục vị tể tướng đang đứng cạnh mau chóng tiết lộ thân phận. Thế nhưng vị tể tướng khôn ngoan hơn chủ nhân, muốn che giấu trước công chúng nỗi nhục nhã mà họ vừa gánh chịu, nên chỉ điềm tĩnh tâu rằng: "Xét cho cùng, chúng ta tự chuốc lấy hậu quả xứng đáng mà thôi."

Trong lúc ấy, Zobeida đã quay sang ba vị Kalandar và hỏi xem liệu họ có phải anh em ruột thịt vì cùng chung một cảnh ngộ mù lòa hay không.

"Thưa phu nhân, không phải đâu ạ," một người đáp, "chúng tôi chẳng có chút quan hệ huyết thống nào hết, chỉ là anh em kết nghĩa qua lối sống mà thôi."

"Còn anh," nàng hỏi khi hướng về một người khác, "anh bẩm sinh đã mù một mắt à?"

"Thưa phu nhân, không phải vậy," hắn đáp, "tôi bị mù do một tai nạn kỳ lạ vô cùng, chắc chẳng đời nào xảy ra với ai khác trên đời. Sau cơ sự đó, tôi đã cạo sạch đầu lẫn lông mày và mặc bộ trang phục mà ngài đang thấy trên người tôi đây."

Zobeida tiếp tục đặt câu hỏi tương tự với hai vị Kalandar còn lại và nhận được câu trả lời y hệt.

"Tuy nhiên," vị thứ ba bổ sung, "có lẽ ngài sẽ thấy hứng thú khi biết điều này, thưa phu nhân: chúng tôi không phải phường hạ tiện, mà cả ba đều là con trai của các vị vua – những vị vua được người đời vô cùng kính trọng."

Nghe đến đây, cơn giận của Zobeida hạ nhiệt, nàng quay sang đám nô lệ ra lệnh: "Các ngươi có thể nới lỏng trói buộc cho họ một chút, nhưng tuyệt đối không được rời khỏi sảnh đường. Kẻ nào chịu kể lại thân thế cùng lý do vì sao đến đây, sẽ được phép rời đi bình an vô sự; còn kẻ nào từ chối..." Nàng ngập ngừng giây lát, lập tức gã khiêng vác – kẻ hiểu rằng chỉ cần thuật lại câu chuyện của mình là tống khứ được thứ hiểm họa tày trời này – liền cướp lời:

"Thưa phu nhân, ngài thừa biết tôi đặt chân đến đây bằng cách nào rồi, và những gì tôi cần tâu sẽ kết thúc nhanh thôi. Nữ gia nhân của ngài tìm thấy tôi vào buổi sáng nay tại góc quen thuộc nơi tôi chuyên đứng chờ thuê mướn. Nàng bảo tôi theo chân đi qua bao nhiêu cửa hàng, và khi giỏ đã chất đầy thì chúng tôi quay lại ngôi nhà này – nơi ngài đã rộng lượng buông lòng cho phép tôi ở lại, ơn nghĩa ấy tôi nguyện ghi khắc suốt đời. Câu chuyện của tôi có bấy nhiêu thôi."

Anh lo lắng nhìn Zobeida; nàng khẽ gật đầu và bảo: "Ngươi có thể đi được rồi; và hãy cẩn thận đừng để chúng ta gặp lại nhau lần nữa."

"Ồ, thưa phu nhân," gã khiêng vác nài nỉ, "xin cho phép tôi ở lại thêm chút nữa chứ. Chẳng công bằng chút nào khi người ta đã nghe câu chuyện của tôi mà tôi lại không được nghe câu chuyện của họ," và chẳng màng chờ sự đồng ý, hắn tự tiện ngồi phịch xuống một đầu chiếc ghế dài do các tiểu thư đang chiếm giữ, trong khi những kẻ khác thì rạp mình trên thảm, còn lũ nô lệ vẫn đứng nghiêm trang áp sát vách tường.

Lúc bấy giờ, một trong số các vị Kalandar hướng về phía Zobeida với tư cách là người chủ gia đình, cất lời kể câu chuyện của đời mình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.