Với những lời ấy, người tốt bụng liền rời khỏi phòng trước khi tôi kịp bày tỏ sự kinh ngạc khi nghe những lời lẽ kỳ quặc như vậy phát ra từ cửa miệng của một người có vẻ là thành viên đáng kính trong xã hội. "Biển thủ một số tiền lớn trong những hoàn cảnh vô cùng đáng thương!" – tôi tự thầm kêu lên – "và lại mời tôi đến ở cùng nhà với ông ta ư? Tôi sẽ không đời nào làm thế đâu – tự chuốc lấy điều tiếng ngay từ bước đầu tiên trước mắt mọi người lương thiện, và giáng một đòn chí mạng vào cơ hội cải đạo cho họ nếu họ là những chi tộc lưu vong của Israel, hoặc kiếm chác từ họ nếu không phải! Không. Tôi thà làm bất cứ điều gì còn hơn thế." Và lần tiếp theo gặp người thầy, tôi đã nói thẳng rằng tôi hoàn toàn không thích thú gì với đề xuất vừa rồi dành cho mình, và tôi sẽ không dính líu gì đến nó cả. Bởi vì qua nền giáo dục, qua gương sáng của cha mẹ, và tôi tin rằng cũng một phần nhờ bản năng bẩm sinh, tôi có một sự ghét bỏ chân thành đối với mọi hành vi bất chính trong chuyện tiền bạc, dù rằng không ai có lòng quý trọng tiền bạc hơn tôi, miễn là nó kiếm được một cách lương thiện.
Người phiên dịch tỏ ra vô cùng ngạc nhiên trước câu trả lời của tôi, và bảo rằng tôi thật dại dột nếu cứ khăng khăng từ chối.
Ông Nosnibor – anh ta tiếp tục – "là một người có công suất ít nhất là năm trăm nghìn mã lực" (vì cách họ tính toán và phân loại con người là dựa trên số lượng mã lực nâng được quy đổi từ số tiền họ sở hữu, hay nói cách khác là theo công suất mã lực của họ), "hơn nữa ông ấy còn duy trì một bàn ăn thị soạn; chưa kể hai cô con gái của ông ấy là những người phụ nữ đẹp nhất ở Erewhon."
Khi nghe tất cả những điều này, thú thật là tôi đã vô cùng dao động và bèn dò hỏi xem ông ta có được giới thượng lưu nhìn nhận thiện cảm hay không.
"Chắc chắn rồi" – câu trả lời là như vậy – "không có ai trong nước có uy tín cao hơn ông ấy."
Anh ta lại tiếp tục nói rằng qua thái độ của tôi, người ta cứ tưởng vị chủ nhà tương lai của tôi vừa mắc bệnh vàng da hay chứng viêm màng phổi, hoặc gặp phải vận hạn nào đó, và tôi đang sợ bị lây bệnh.
"Tôi không sợ lây bệnh cho lắm" – tôi nói với vẻ sốt ruột – "nhưng tôi còn phải giữ gìn danh dự của mình; và nếu tôi biết một người là kẻ biển thủ tiền của người khác, hãy tin đi, tôi sẽ tránh xa ông ta hết sức có thể. Nếu ông ta ốm đau hay nghèo khó..."
"Ốm đau hay nghèo khó!" – người phiên dịch ngắt lời, với vẻ mặt đầy hoảng hốt. "Hóa ra đó là quan niệm của anh về sự phải quấy đấy ư! Anh có thể giao du với những tên tội phạm đê hèn nhất, thế mà lại coi một tội biển thủ thông thường là rào cản cho sự giao thiệp thân thiện. Tôi thật không thể hiểu nổi anh."
"Nhưng bản thân tôi cũng nghèo mà" – tôi kêu lên.
"Anh đã từng nghèo" – anh ta đáp; "và anh đã phải đối mặt với nguy cơ bị trừng phạt nặng nề vì điều đó – thực ra, tại hội đồng họp bàn về vụ của anh, chi tiết này suýt chút nữa đã đẩy anh đến chỗ mà bản thân tôi cho là một hình phạt hoàn toàn xứng đáng" (vì anh ta bắt đầu nổi giận, và tôi cũng vậy); "nhưng Hoàng hậu quá tò mò và rất muốn gặp anh, nên bà đã thỉnh cầu Nhà vua ban ơn tha tội cho anh, đồng thời cấp cho anh một khoản tiền trợ cấp vì cái nước da đáng khen của anh. Thật may cho anh là nhà vua chưa nghe thấy những gì anh vừa nói nãy giờ, bằng không ngài chắc chắn sẽ thu hồi nó ngay."
Khi nghe những lời đó, lòng tôi chùng xuống. Tôi nhận thức rõ sự khó khăn tột cùng trong hoàn cảnh của mình, và việc chống lại các lề thói đã lập sẽ là một hành động tội lỗi biết bao. Tôi im lặng trong vài phút, rồi đành cất lời rằng tôi rất sẵn lòng nhận lời mời của kẻ biển thủ kia – nghe vậy, khuôn mặt người hướng dẫn liền rạng rỡ hẳn lên và khen tôi là một kẻ biết điều. Thế nhưng lòng tôi cảm thấy vô cùng áy náy. Khi anh ta vừa rời khỏi phòng, tôi ngẫm nghĩ lại cuộc trò chuyện vừa diễn ra, nhưng chẳng thể rút ra kết luận gì khác ngoài việc nó cho thấy một sự lệch lạc trong tư duy còn trầm trọng hơn cả những gì tôi từng tưởng tượng. Điều này khiến tôi vô cùng đau khổ; bởi vì tôi không tài nào chịu được việc phải giao du với những kẻ có suy nghĩ khác biệt với mình. Đủ thứ ý nghĩ lan man cứ chui vào đầu tôi. Tôi nhớ đến túp lều của người thầy, nhớ chỗ ngồi bên sườn núi nơi tôi từng nung nấu ý định điên rồ là đi thám hiểm. Biết bao nhiêu năm tháng tưởng chừng đã trôi qua kể từ khi tôi bắt đầu cuộc hành trình!
Tôi nhớ lại những chuyến phiêu lưu nơi khe núi, trên dọc đường đến đây, và nhớ cả Chowbok. Tôi tự hỏi Chowbok sẽ kể gì về mình khi hắn quay trở về – hắn đã khôn ngoan khi quay về, quả thế. Hắn chẳng đẹp đẽ gì – không, hắn còn gớm ghiếc là đằng khác; và chắc chắn hắn sẽ gặp phải phen khốn đốn. Chập tối buông xuống, và tiếng mưa rả rích gõ vào khung cửa sổ. Chưa bao giờ tôi cảm thấy bất hạnh đến thế, ngoại trừ ba ngày bịnh sóng biển hồi đầu cuộc hải trình rời nước Anh. Tôi ngồi ngẫm nghĩ trong nỗi u sầu nặng trĩu, cho đến khi Yram xuất hiện mang theo ánh đèn và bữa tối. Cô ấy cũng vậy, tội nghiệp, lòng đầy sầu khổ; bởi vì cô nghe tin tôi sắp rời đi. Cô đã đinh ninh rằng tôi sẽ ở lại thị trấn này mãi mãi, ngay cả sau khi thời hạn giam giữ của tôi kết thúc; và tôi đoán cô đã quyết định sẽ kết hôn với tôi dù tôi chưa từng hé lấy một nửa lời về chuyện đó. Thế nên, cộng dồn lại từ cuộc trò chuyện kỳ quặc đến nao lòng với người thầy, hoàn cảnh không một bóng bạn bè của tôi, cho đến nỗi buồn tủi của Yram, tôi cảm thấy bất hạnh hơn bất cứ thứ gì có thể diễn tả bằng lời, và cứ thế chìm đắm cho đến khi chăn gối khép lại đôi mi.
Khi tỉnh dậy vào sáng hôm sau, tôi thấy khỏe hơn nhiều. Mọi việc đã được định đoạt rằng tôi sẽ khởi hành trên một cỗ xe đang đợi sẵn vào khoảng mười một giờ; và sự háo hức trước viễn cảnh đổi thay đã vực dậy tinh thần tôi, khiến ngay cả gương mặt đẫm lệ của Yram cũng khó lòng làm phai mờ hoàn toàn. Tôi ôm hôn cô ấy hết lần này đến lần khác, trấn an rằng chúng ta sẽ còn gặp lại nhau trong tương lai, và trong thời gian đó tôi sẽ luôn khắc ghi lòng tốt của cô. Tôi tặng cô hai chiếc khuy áo của mình cùng một lọn tóc làm kỷ niệm, và nhận lại một lọn tóc xoăn đẹp đẽ từ chính mái đầu của cô; cứ thế, sau khi nói lời tạm biệt đến cả trăm lần, cho đến khi tôi hoàn toàn bị khuất phục bởi sự ngọt ngào và nỗi buồn sâu sắc của cô, tôi mới dứt khoát buông tay để bước xuống cỗ xe ngựa đang chờ sẵn ở tầng dưới. Tôi mới nhẹ nhõm làm sao khi tất cả đã qua đi, khi tôi được chở đi xa và khuất tầm mắt. Giá như tôi có thể cảm thấy rằng hình bóng ấy cũng đã rời khỏi tâm trí mình! Cầu trời bây giờ đúng là như thế, và cô ấy đã kết hôn hạnh phúc giữa đồng bào của mình, để rồi quên hẳn đi tôi!
Và giờ đây, một cuộc hành trình dài đằng đẵng bắt đầu, thứ mà nếu có thể, tôi đã chẳng buồn làm phiền độc giả. Tuy nhiên, bạn hoàn toàn có thể yên tâm, đơn giản vì tôi đã bị bịt mắt trong suốt phần lớn thời gian ấy. Một dải băng được buộc kín mắt tôi vào mỗi buổi sáng, và chỉ được tháo ra vào ban đêm khi chúng tôi đến quán trọ để nghỉ qua đêm. Chúng tôi di chuyển thong thả, mặc dù đường sá rất tốt. Chúng tôi chỉ dùng một con ngựa kéo, đưa chúng tôi đi suốt chặng đường trong ngày từ sáng đến tối, khoảng sáu tiếng đồng hồ, chưa tính hai tiếng nghỉ ngơi vào giữa ngày. Tôi cho rằng trung bình mỗi ngày chúng tôi chỉ đi được chừng ba mươi đến ba mươi lăm dặm. Mỗi ngày chúng tôi lại đổi một con ngựa mới. Như tôi đã nói, tôi chẳng thể nhìn thấy gì về phong cảnh bên ngoài. Tôi chỉ biết rằng địa hình bằng phẳng, và vài lần chúng tôi phải qua những con sông lớn bằng phà. Các quán trọ đều sạch sẽ và tiện nghi. Ở một vài thị trấn lớn hơn, chúng còn vô cùng xa hoa, và thức ăn thì ngon lành, được chế biến khéo léo. Sức khỏe, vẻ duyên dáng và nhan sắc tuyệt vời ấy vẫn hiện diện khắp mọi nơi.
Tôi nhận ra mình là một tâm điểm thu hút sự chú ý lớn; đến mức người đánh xe bảo tôi rằng anh ta phải giữ bí mật về lộ trình, và đôi khi phải đi vòng qua những nơi không nằm trực tiếp trên đường đi, để tránh đám đông lẽ ra sẽ vây lấy chúng tôi. Mỗi buổi tối tôi đều tổ chức tiếp đón, và cảm thấy chán ngấy việc cứ phải lặp đi lặp lại những câu nói y hệt để đáp lại những câu hỏi y hệt, nhưng thật không tài nào nổi giận được với những con người có phong cách đáng yêu đến thế. Họ chưa một lần hỏi thăm sức khỏe của tôi, hay thậm chí xem tôi có mệt mỏi vì hành trình hay không; nhưng câu hỏi đầu tiên của họ hầu như không bao giờ thay đổi là dò hỏi về tâm trạng của tôi, sự ngây thơ đến đáng yêu ấy đã khiến tôi kinh ngạc cho đến khi tôi quen dần với nó. Có một hôm, vì quá mệt mỏi, lạnh lẽo và chán ngán cảnh phải lặp lại mãi một điệp khúc, tôi hơi sượng sùng quay sang người đặt câu hỏi và bảo rằng tôi đang vô cùng quạu quã, và khó lòng mà cảm thấy có tâm trạng tồi tệ hơn đối với bản thân cũng như mọi người như lúc bấy giờ. Trước sự ngạc nhiên của tôi, tôi lại nhận được những lời chia buồn ân cần nhất, và nghe râm ran khắp phòng rằng tôi đang có tâm trạng xấu; thế là mọi người bắt đầu mang đến cho tôi đủ thứ đồ thơm để ngửi và thức ăn để thưởng thức, mà quả thực chúng dường như có khả năng xoa dịu tâm trạng thật, bởi vì chẳng mấy chốc tôi đã cảm thấy vui vẻ trở lại và ngay lập tức được chúc mừng vì đã khỏe hơn. Sáng hôm sau, hai hoặc ba người còn sai gia nhân mang bánh kẹo đến khách sạn kèm theo lời hỏi thăm xem tôi đã hoàn toàn bình phục khỏi cơn bực dọc chưa. Khi nhận được những món quà tốt lành ấy, tôi có ý định thầm nghĩ hay là tối nào mình cũng tỏ ra bực bội cho rồi; nhưng tôi lại không thích những lời chia buồn hay hỏi thăm đó, và thấy rằng giữ nguyên tâm trạng tự nhiên vốn dĩ khá ôn hòa của mình vẫn là điều thoải mái nhất.
Trong số những người đến thăm tôi có một số người từng thụ hưởng nền giáo dục khai phóng tại các Viện Đại học Phi lý, và đã đạt được học vị cao nhất trong ngành lý thuyết suy đoán, lĩnh vực học tập chính của họ. Những quý ông này giờ đây đã ổn định với nhiều công việc khác nhau trong nước, làm những người nắn chỉnh tâm lý, quản lý và thủ quỹ cho các Ngân hàng Âm nhạc, làm giáo sĩ tôn giáo, hay bất cứ nghề gì tương tự, và mang theo nền học vấn ấy để truyền bá thứ men văn hóa ra khắp mọi miền đất nước. Đương nhiên tôi đã đặt câu hỏi với họ về rất nhiều điều từng làm mình bối rối kể từ khi đặt chân đến đây. Tôi hỏi mục đích và ý nghĩa của những bức tượng mà tôi từng nhìn thấy trên cao nguyên của đèo là gì. Tôi được cho biết rằng chúng có từ thời kỳ rất xa xưa, và trong nước vẫn còn vài nhóm tượng tương tự, nhưng không nhóm nào đặc sắc bằng nhóm tôi đã thấy. Chúng có nguồn gốc tôn giáo, được thiết kế để xoa dịu các vị thần của sự dị hình và bệnh tật. Trong thời xưa, người ta có phong tục tổ chức các chuyến thám hiểm băng qua các dãy núi, bắt giữ những người thân xấu xí nhất của Chowbok mà họ có thể tìm thấy, để đem ra tế thần trước các vị thần này, qua đó xua đuổi sự xấu xí và bệnh tật khỏi chính người dân Erewhon. Người ta từng xì xào bàn tán (nhưng người cung cấp thông tin cho tôi đảm bảo rằng đó là điều không có thực) rằng từ nhiều thế kỷ trước, họ thậm chí từng hiến tế cả những người trong bộ tộc của mình bị xấu xí hoặc ốm đau để làm gương; tuy nhiên, những phong tục đáng ghét đó đã bị bãi bỏ từ lâu; và hiện tại cũng chẳng ai còn sùng bái những bức tượng ấy nữa.
Tôi tò mò muốn biết điều gì sẽ xảy ra với bất kỳ ai thuộc bộ tộc của Chowbok nếu họ bước qua lãnh thổ Erewhon. Tôi được bảo rằng không ai biết chắc, bởi vì chuyện đó đã không xảy ra từ muôn đời nay. Họ sẽ quá xấu xí để có thể được phép đi lại tự do, nhưng chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự. Tội lỗi của họ khi đặt chân đến đây sẽ mang tính đạo đức; nhưng họ sẽ vượt quá tầm tay của nghệ thuật nắn chỉnh. Có lẽ họ sẽ bị tống vào Bệnh viện dành cho những kẻ làm phiền vô phương cứu chữa, và bị bắt phải làm việc chịu đựng sự làm phiền trong từng ấy giờ mỗi ngày bởi chính những cư dân Erewhon trong bệnh viện – những người vốn cực kỳ thiếu kiên nhẫn trước sự phiền nhiễu của nhau nhưng sẽ sớm chết ngắc nếu không có ai để làm phiền – nói tóm lại, họ sẽ được giữ lại làm những kẻ chịu trận chuyên nghiệp. Khi nghe điều này, tôi chợt nghĩ rằng có lẽ một vài lời đồn đại về bản chất của nó đã lan truyền trong bộ tộc của Chowbok; bởi vì nỗi thống khổ vì sợ hãi của hắn ta quá lớn, không thể chỉ được truyền cảm hứng bởi nỗi sợ đơn thuần bị đem ra thiêu sống trước các bức tượng.
Tôi cũng gặng hỏi họ về bảo tàng máy móc cổ và nguyên nhân của sự thụt lùi rõ rệt trong mọi ngành nghệ thuật, khoa học và phát minh. Tôi được biết rằng khoảng bốn trăm năm trước, trình độ hiểu biết cơ khí vượt xa chúng ta lúc bấy giờ, và đang tiến bước với tốc độ phi mã, cho đến khi một trong những giáo sư uyên bác nhất về lý thuyết suy đoán viết một cuốn sách kỳ lạ (từ đó tôi dự định sẽ trích dẫn sau), chứng minh rằng máy móc cuối cùng được định sẵn để thay thế loài người, và sẽ mang trong mình một nguồn sinh khí vừa khác biệt vừa vượt trội so với loài vật, giống như sự sống của động vật đối với thực vật. Lập luận của ông ta có sức thuyết phục đến mức – hoặc thiếu thuyết phục đến mức – ông ta đã lôi kéo được cả nước đi theo mình; và họ đã càn quét sạch sành sanh mọi loại máy móc không được sử dụng quá hai trăm bảy mươi mươi mốt năm (khoảng thời gian này đạt được sau một loạt các cuộc thỏa hiệp), đồng thời nghiêm cấm mọi cải tiến và phát minh tiếp theo với hình phạt bị coi trước pháp luật là đang mắc bệnh sốt phát ban, thứ mà họ coi là một trong những tội ác tồi tệ nhất.
Đây là trường hợp duy nhất họ đánh đồng bệnh tâm thần và bệnh thể xác, và ngay cả ở đây họ vẫn làm điều đó như một hư cấu pháp lý được thừa nhận. Tôi đâm ra lo lắng khi nhớ đến chiếc đồng hồ của mình; nhưng họ đã an ủi tôi bằng lời đảm bảo rằng sự vi phạm trong vấn đề này giờ đây đã trở nên quá lạ lẫm đến mức luật pháp có thể du di cho một người hoàn toàn xa lạ, đặc biệt là một người có tướng mạo tốt (ý họ là thể hình) và mái tóc vàng óng đẹp đẽ như vậy. Hơn nữa, chiếc đồng hồ là một hiện vật thực sự kỳ lạ, và sẽ là một sự bổ sung đáng hoan nghênh cho bộ sưu tập ở kinh đô; thế nên họ nghĩ tôi không cần phải bận tâm nghiêm trọng về điều đó.
Tuy nhiên, tôi sẽ viết chi tiết hơn về chủ đề này khi bàn đến các Viện Đại học Phi lý và Cuốn sách về Máy móc.
Khoảng một tháng kể từ lúc khởi hành, tôi được thông báo rằng cuộc hành trình của chúng tôi đã gần kề hồi kết. Dải băng bịt mắt giờ đã được tháo bỏ, vì có vẻ như tôi không tài nào tìm được đường quay về mà không bị bắt giữ. Thế rồi chúng tôi bon bon lăn bánh qua những con đường của một thị trấn xinh đẹp, rẽ vào một con đường dài, rộng và bằng phẳng, hai bên rợp bóng cây dương. Con đường được nâng cao hơn một chút so với vùng đất xung quanh, vốn trước kia từng là một tuyến đường sắt; những cánh đồng hai bên được canh tác ở mức độ tinh xảo nhất có thể tưởng tượng được, nhưng mùa gặt và cả mùa hái nho đã thu hoạch xong từ lâu. Thời tiết trở nên lạnh đi nhanh hơn mức có thể giải thích thỏa đáng bởi tiến trình của các mùa trong năm; thế nên tôi đoán rằng chúng tôi hẳn đã rời xa mặt trời, và ở xa xích đạo hơn vài độ so với lúc xuất phát. Ngay cả ở đây, thảm thực vật vẫn cho thấy khí hậu rất oi bức, tuy nhiên con người chẳng hề thiếu đi sự dẻo dai; trái lại, họ là một giống nòi vô cùng bền bỉ và có khả năng chịu đựng cao độ. Lần thứ một trăm, tôi thầm nghĩ rằng xét trên mọi mặt, tôi chưa từng thấy ai sánh kịp họ về mặt thể chất, và họ trông cởi mở, tốt bụng chẳng kém gì sự vạm vỡ của mình. Hoa cỏ hầu như đã tàn lụi, nhưng sự vắng bóng ấy phần nào được bù đắp bởi vô số loại trái cây ngon lành, rất giống với sung, đào và lê của Ý và Pháp. Tôi không thấy động vật hoang dã nào, nhưng chim chóc thì rất nhiều và khá giống ở châu Âu, chỉ là không dạn dĩ như ở phía bên kia các dãy núi. Chúng bị săn bắn bằng nỏ và cung tên, vì thuốc súng là thứ hoàn toàn xa lạ, hoặc chí ít là không được sử dụng.
Chúng tôi đang tiến đến gần kinh đô và tôi có thể nhìn thấy những tòa tháp cùng công sự lớn, cùng những tòa nhà cao tầng trông như cung điện. Tôi bắt đầu thấy hồi hộp về màn chào đón dành cho mình; nhưng cho đến nay mọi chuyện vẫn suôn sẻ và tôi quyết định tiếp tục áp dụng kế hoạch cũ – nghĩa là cứ hành xử y như đang ở Anh cho đến khi nhận ra mình đang mắc sai lầm, rồi sau đó sẽ im lặng chờ xem tình hình xoay vở ra sao. Chúng tôi càng lúc càng tiến sát hơn. Tin tức về sự xuất hiện của tôi đã lan xa, và một đám đông lớn đã tụ tập ở cả hai bên đường, chào đón tôi bằng những dấu hiệu tò mò đầy kính trọng, khiến tôi cứ phải cúi đầu đáp lễ liên tục từ bên này sang bên khác.
Khi cách đó khoảng một dặm, chúng tôi được Thị trưởng và một số Ủy viên hội đồng ra đón, trong đó có một cụ ông đáng kính, người được Thị trưởng (tôi cho là nên gọi ông ấy như vậy) giới thiệu với tôi là quý ông từng mời tôi đến nhà. Tôi cúi đầu thật sâu và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc cùng sự sẵn lòng đón nhận lòng hiếu khách của ông. Ông ngăn tôi không được nói thêm nữa, và chỉ tay về phía chiếc xe ngựa đang đỗ ngay gần đó, ra hiệu cho tôi bước lên ngồi vào trong. Tôi lại cúi đầu thật cung kính trước Thị trưởng và các Ủy viên hội đồng, rồi lên xe rời đi cùng vị chủ nhà của mình, người có tên là Senoj Nosnibor. Sau chừng nửa dặm, chiếc xe rẽ khỏi con đường chính, chạy vòng dưới những bức tường thành cho đến khi đến một tòa dinh thự nằm trên một gò đất thoai thoải, ngay sát ngoại vi thành phố. Đó chính là nhà của Senoj Nosnibor, và không thể tưởng tượng được nơi nào đẹp hơn thế. Nó nằm gần những tàn tích nguy nga và cổ kính của nhà ga xe lửa cũ, tạo thành một điểm nhấn ấn tượng nhìn từ khu vườn của ngôi nhà. Khuôn viên rộng chừng mười đến mười hai mẫu Anh, được thiết kế thành những khu vườn bậc thang nối tiếp nhau, với những bậc thềm rộng dẫn lên xuống theo độ dốc của khu vườn. Trên các bậc thềm ấy đặt những bức tượng với tay nghề chạm trổ tinh xảo bậc nhất. Bên cạnh các bức tượng là những chiếc bình chứa đầy các loại cây bụi xa lạ đối với tôi; và hai bên lối đi bậc thang là những hàng cây bách cùng tuyết tùng cổ thụ, xen kẽ với những lối mòn phủ cỏ xanh rì. Tiếp đó là những vườn nho chọn lọc và những vườn cây ăn quả đang mùa trĩu quả.
Lối vào chính của ngôi nhà đi qua một khoảng sân trong, bao quanh là một hành lang dẫn mở ra các căn phòng, giống như ở Pompeii. Ở giữa sân có một bồn tắm và một đài phun nước. Qua khỏi sân trong, chúng ta bước vào phần nhà chính cao hai tầng. Các phòng đều rộng rãi và cao ráo; có lẽ thoạt nhìn chúng có vẻ hơi trống trải vì thiếu đồ đạc, nhưng ở vùng khí hậu nóng, người ta thường để phòng ốc thoáng đãng hơn so với những vùng lạnh giá. Tôi cũng không thấy sự xuất hiện của một cây đàn đại dương cầm hay bất kỳ nhạc cụ tương tự nào, vì chẳng có phương tiện nào để tạo ra âm thanh trong bất kỳ căn phòng nào ngoại trừ phòng khách lớn, nơi có nửa tá chiêng đồng cỡ lớn mà các quý cô thỉnh thoảng dùng để gõ bừa bãi. Lắng nghe chúng chẳng lấy gì làm dễ chịu cho lắm, nhưng tôi từng nghe những thứ âm thanh khó chịu không kém cả trước đó lẫn về sau.
Ông Nosnibor dẫn tôi qua vài căn phòng rộng rãi cho đến khi đến một phòng riêng, nơi vợ và các con gái của ông – những người mà tôi từng nghe kể qua lời người phiên dịch – đang chờ sẵn. Bà Nosnibor khoảng bốn mươi tuổi, trông vẫn còn mặn mà nhưng đã phát tướng; các cô con gái đang độ tuổi xuân thì và đẹp tuyệt trần. Gần như ngay lập tức, tôi dành sự ưu ái cho cô em gái có tên là Arowhena; bởi vì người chị cả có vẻ kiêu kỳ, trong khi cô em lại sở hữu phong thái vô cùng cuốn hút. Bà Nosnibor tiếp đón tôi với sự nhã nhặn hoàn hảo, đến mức nếu bản thân không rụt rè và căng thẳng thì chắc chắn tôi đã cảm thấy được chào đón ngay lập tức. Nghi lễ giới thiệu vừa mới hoàn tất thì một người hầu thông báo rằng bữa tối đã dọn xong ở căn phòng bên cạnh. Tôi đang vô cùng đói bụng, và bữa tối thì ngon đến mức không chê vào đâu được. Liệu độc giả có ngạc nhiên khi tôi bắt đầu thấy mình đang ở trong một nơi ở tuyệt vời? "Hắn ta mà lại biển thủ tiền á?" – tôi tự nhủ – "thật không thể tin nổi."
Tuy nhiên, tôi nhận thấy người chủ nhà tỏ ra bồn chồn trong suốt bữa ăn, và ông chẳng ăn gì ngoài một ít bánh mì và sữa; đến gần cuối bữa tối, một người đàn ông cao gầy với bộ râu đen bước vào, người mà ông Nosnibor và cả gia đình hết sức nể trọng: đó chính là vị nắn chỉnh của gia đình. Cùng với quý ông này, ông Nosnibor lui vào một căn phòng khác, từ đó chẳng mấy chốc vang lên tiếng khóc lóc thảm thiết. Tôi suýt không tin vào tai mình, nhưng chỉ vài phút sau, tôi đã biết chắc chắn rằng những âm thanh đó phát ra từ chính ông Nosnibor.
"Tội nghiệp tía" – Arowhena vừa điềm tĩnh rắc thêm ít muối vào đĩa vừa nói – "tía đã phải chịu đựng khổ sở biết nhường nào."
"Đúng vậy" – mẹ cô đáp lời – "nhưng mẹ nghĩ giờ thì ông ấy đã hoàn toàn qua cơn nguy kịch rồi."
Rồi họ tiếp tục giải thích cho tôi những tình tiết của vụ việc, phương pháp điều trị mà vị nắn chỉnh đã kê đơn, và sự thành công của nó – tất cả những điều đó tôi xin phép được để lại cho chương sau, và sẽ trình bày dưới dạng một bản tóm tắt chung về những quan điểm phổ biến đối với các vấn đề này thay vì dùng nguyên văn những chi tiết đã được kể lại cho tôi; tuy nhiên, độc giả được tha thiết đề nghị hãy tin rằng, cả trong chương tiếp theo này lẫn những chương sau đó, tôi đã cố gắng hết sức để bám sát sự chính xác nghiêm ngặt nhất, và chưa từng cố ý bóp méo sự thật, dù đôi khi tôi có thể đã không hiểu hết mọi khía cạnh của một quan điểm hay phong tục nào đó.