Erewhon: Bên Kia Dãy Núi

Lượt đọc: 73 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
Những Ngân Hàng Âm Nhạc

❊ ❊ ❊

Khi trở lại phòng khách, tôi thấy dòng người hâm mộ Mahaina đã lắng xuống. Các quý cô vừa dọn dẹp lại đống đồ thêu thùa và chuẩn bị đi ra ngoài. Tôi hỏi họ định đi đâu. Họ đáp với một vẻ kín đáo rằng họ đang ra ngân hàng để rút tiền.

Lúc bấy giờ, tôi đã láng mang hiểu rằng các vấn đề thương mại của người dân xứ Erewhon được vận hành theo một hệ thống hoàn toàn khác biệt với chúng ta. Tuy nhiên, ngoài việc họ có hai hệ thống thương mại tách biệt, tôi chưa thu thập được gì nhiều. Trong đó, hệ thống thứ nhất khơi gợi trí tưởng tượng mạnh mẽ hơn bất cứ thứ gì chúng ta từng quen thuộc ở Châu Âu, bởi vì các ngân hàng vận hành theo hệ thống này được trang hoàng vô cùng lộng lẫy, và mọi giao dịch thương mại đều có âm nhạc đi kèm, thế nên chúng được gọi là Ngân hàng Âm nhạc, dẫu cho thứ âm nhạc ấy nghe thật kinh khủng đối với tai người Châu Âu.

Còn về bản thân hệ thống đó, tôi chưa bao giờ hiểu được và hiện tại cũng vậy: họ có một bộ quy tắc liên quan đến nó mà tôi không mảy may nghi ngờ là họ hiểu rõ, nhưng không một người ngoại quốc nào có thể hy vọng hiểu thấu. Quy tắc này chồng chéo và mâu thuẫn với quy tắc khác chẳng khác nào một cuốn ngữ pháp cực kỳ phức tạp, hoặc như cách phát âm tiếng Trung Quốc, mà tôi nghe nói rằng chỉ một chút thay đổi nhỏ về trọng âm hay tông giọng cũng đủ làm thay đổi ý nghĩa của cả một câu. Bất cứ điều gì lủng củng trong miêu tả của tôi đều bắt nguồn từ việc tôi chưa bao giờ đạt đến sự thấu hiểu trọn vẹn về chủ đề này.

Tuy nhiên, chừng nào còn có thể nắm bắt được đôi chút điều chắc chắn, tôi hiểu rằng họ có hai loại tiền tệ riêng biệt, mỗi loại chịu sự kiểm soát của hệ thống ngân hàng và luật lệ thương mại của riêng nó. Một trong số đó (loại gắn liền với các Ngân hàng Âm nhạc) được xem là hệ thống chính thống, là nơi phát hành thứ tiền tệ dùng cho mọi giao dịch tiền bạc; và theo những gì tôi quan sát được, tất cả những ai muốn được coi là người đàng hoàng đều duy trì một số dư lớn hay nhỏ tại các ngân hàng này. Mặt khác, nếu có điều gì mà tôi dám chắc hơn bất cứ thứ gì khác, thì đó là việc số tiền được lưu giữ ấy hoàn toàn không có giá trị thương mại trực tiếp đối với thế giới bên ngoài; tôi dám chắc rằng các giám đốc và thủ quỹ của Ngân hàng Âm nhạc không hề được trả lương bằng đồng tiền của chính họ. Ông Nosnibor thỉnh thoảng, nhưng không thường xuyên lắm, vẫn đến các ngân hàng này, hay đúng hơn là đến ngân hàng mẹ vĩ đại của thành phố. Ông là trụ cột của một loại ngân hàng khác, dẫu ông dường như cũng nắm giữ một chức vụ nhỏ nào đó tại các ngân hàng âm nhạc. Các quý cô thường đi một mình; và quả thực, hầu hết các gia đình đều như vậy, ngoại trừ những dịp trọng đại.

Tôi đã từ lâu muốn tìm hiểu thêm về hệ thống kỳ lạ này và khao khát được đi cùng bà chủ nhà và các cô con gái. Tôi đã thấy họ đi ra ngoài hầu như vào mỗi buổi sáng kể từ khi tôi đến và nhận ra rằng họ cầm ví trên tay, không hẳn là để khoe khoang, nhưng vừa vặn để những ai gặp mặt có thể thấy họ đang đi đâu. Thế nhưng, tôi chưa bao giờ được mời đi cùng họ.

Thật không dễ dàng để diễn tả phong thái của một người qua câu chữ, và tôi khó lòng truyền tải được cảm giác kỳ lạ dâng lên trong tôi khi thấy các quý cô chuẩn bị xuất phát ra ngân hàng. Có một chút tiếc nuối, một chút gì đó như thể họ muốn dẫn tôi theo cùng, nhưng lại ngại ngùng không dám ngỏ lời, và đồng thời cũng giống như việc tôi không thể đường đột xin đi theo. Dù vậy, tôi vẫn quyết định làm cho ngô ra khoai với bà chủ nhà về việc tôi muốn đi cùng họ, và sau một hồi trao đổi đôi bên cùng nhiều câu hỏi dò xem tôi có thực sự muốn đi hay không, cuối cùng người ta cũng quyết định rằng tôi có thể đi.

Chúng tôi đi qua vài con phố với những ngôi nhà lớn nhỏ khác nhau, và cuối cùng, sau khi rẽ qua một góc phố, chúng tôi bước vào một quảng trường lớn. Cuối quảng trường là một tòa kiến trúc nguy nga mang phong cách kỳ lạ nhưng cao quý và có niên đại rất lâu đời. Nó không mở cửa trực tiếp ra quảng trường, mà nằm sau một bức bình phong ngăn cách giữa quảng trường và khuôn viên thực sự của ngân hàng, thông qua một lối đi có mái vòm. Vượt qua vòm cổng, chúng tôi bước vào một thảm cỏ xanh mướt, bao quanh bởi một dãy hành lang hoặc hiên có mái che, trong khi trước mặt chúng tôi sừng sững những ngọn tháp uy nghi của ngân hàng cùng mặt tiền cổ kính, được chia thành ba hốc sâu và trang hoàng đủ loại cẩm thạch cùng nhiều tác phẩm điêu khắc. Hai bên là những hàng cổ thụ tươi đẹp, nơi hàng trăm chú chim đang líu lo bận rộn, cùng vô số những ngôi nhà cổ kính nhưng vững chãi mang vẻ yên bình đến lạ lùng; chúng nằm giữa những vườn cây ăn trái và vườn hoa, gợi cho tôi ấn tượng sâu sắc về sự thanh bình và sung túc.

Quả thực, sẽ không ngoa khi nói rằng tòa nhà này là một công trình khơi gợi trí tưởng tượng; nó còn làm được nhiều hơn thế—nó chiếm lĩnh cả trí tưởng tượng lẫn lý trí của tôi theo một cách mãnh liệt. Đó là một bản anh hùng ca được tạc bằng đá và cẩm thạch, và sức ảnh hưởng mà nó tạo ra lên tôi lớn đến mức khi chiêm ngưỡng, tôi cảm thấy say đắm và mềm lòng. Tôi nhận thức rõ hơn về sự tồn tại của một quá khứ xa xăm. Ta vẫn luôn biết điều đó, nhưng sự hiểu biết ấy chưa bao giờ sống động bằng khi đứng trước một nhân chứng thực sự cho đời sống của những thời đại đã qua. Tôi cảm thấy khoảng thời gian của đời người ngắn ngủi làm sao. Tôi càng thấm thía sự nhỏ bé của bản thân, và càng có xu hướng tin rằng những con người có gu thẩm mỹ cao đến mức dựng lên được một công trình thanh thỉnh nhường ấy thì chắc chắn sẽ không thể sai lầm trong những kết luận mà họ đưa ra về bất kỳ vấn đề gì. Cảm giác của tôi lúc bấy giờ chắc chắn là đồng tiền của ngân hàng này phải là đồng tiền chuẩn xác.

Chúng tôi băng qua thảm cỏ và bước vào bên trong tòa nhà. Nếu khung cảnh bên ngoài gây ấn tượng mạnh, thì nội thất bên trong còn làm được điều hơn thế. Không gian rất cao ráo và được chia thành nhiều phần bởi những bức tường tựa trên các cây cột lực lưỡng; các khung cửa sổ lắp kính màu khắc họa những biến cố thương mại chính của ngân hàng qua nhiều thời đại. Ở một góc khuất của tòa nhà, có những người đàn ông và cậu thiếu niên đang cất tiếng hát; đây là yếu tố duy nhất gây khó chịu, bởi vì khi thang âm vẫn còn là một ẩn số, chẳng có thứ âm nhạc nào ở xứ sở này có thể lọt nổi tai một người Châu Âu. Các ca sĩ dường như lấy cảm hứng từ tiếng chim hót và tiếng gió hú, mà sau đó họ cố mô phỏng lại qua những nhịp điệu thê lương đôi khi thoái hóa thành tiếng tru tréo. Theo suy nghĩ của tôi thì thứ âm thanh ấy thật kinh khủng, nhưng nó lại tạo ra ấn tượng sâu sắc với những người đồng hành của tôi, những người tự nhận thấy bản thân vô cùng xúc động. Ngay khi tiếng hát dứt hẳn, các quý cô đề nghị tôi đứng đợi tại chỗ trong lúc họ đi vào khu vực phát ra âm thanh ấy.

Trong lúc họ vắng mặt, một vài suy nghĩ tự động hiện lên trong đầu tôi.

Trước hết, tôi thấy lạ là tòa nhà lại vắng khách đến vậy; tôi gần như đứng một mình, và số ít những người có mặt ngoài tôi ra đều bị dẫn dắt bởi sự tò mò chứ chẳng có ý định giao dịch gì với ngân hàng. Nhưng bên trong có lẽ còn đông hơn. Tôi lén lách về phía tấm màn che và đánh liều hé một góc sang bên. Không, bên trong hầu như chẳng có ai. Tôi thấy rất nhiều thủ quỹ, tất cả đều ngồi tại bàn làm việc sẵn sàng thanh toán séc, cùng một hoặc hai người có vẻ là các đối tác quản lý. Tôi cũng nhìn thấy bà chủ nhà, các cô con gái cùng hai hoặc ba quý cô khác; ngoài ra còn có ba hoặc bốn bà cụ và mấy cậu học viên từ một Học viện Vô lý học gần đó; tuyệt nhiên không còn ai khác. Cảnh tượng này trông không giống như một ngân hàng đang làm ăn phát đạt; thế mà tôi vẫn luôn được bảo rằng mọi người trong thành phố đều giao dịch với cơ sở này.

Tôi không thể kể hết những gì diễn ra trong chốn thâm nghiêm này, bởi vì một kẻ có diện mạo khả ố mặc áo choàng đen đã tiến đến và ra những cử chỉ khó chịu vì tội té tảng dòm ngó của tôi. Tình cờ trong túi tôi có một đồng tiền của Ngân hàng Âm nhạc do bà Nosnibor tặng, thế nên tôi bèn định dùng nó để típ cho hắn; nhưng vừa nhìn thấy đó là thứ gì, hắn liền nổi giận đến mức tôi phải nhét cho hắn một đồng tiền thuộc loại kia mới xoa dịu được. Vừa nhận xong là hắn trở nên lịch sự ngay lập tức. Khi hắn bỏ đi, tôi đánh liều nhìn trộm lần thứ hai và thấy Zulora đang tận tay đưa một mảnh giấy trông giống như tờ séc cho một nhân viên thu ngân. Hắn chẳng thèm kiểm tra, mà chỉ thọc tay vào chiếc tráp cổ kính gần đó, vốc ra một nắm tiền kim loại có vẻ ngẫu nhiên rồi trao lại mà chẳng đếm mảy may; bản thân Zulora cũng không đếm mà cứ thế bỏ vào túi xách, rồi thả vài đồng tiền mệnh giá khác vào cái thùng đựng tiền cứu trợ đặt ngay bên cạnh chỗ thủ quỹ. Bà Nosnibor và Arowhena sau đó cũng làm y hệt, nhưng ít phút sau, họ đem toàn bộ (theo như tôi thấy) số tiền nhận được từ thủ quỹ trao lại cho một viên thị vệ, và tôi chắc chắn rằng hắn lại bỏ chúng về chiếc tráp vừa được lấy ra. Tiếp đó, họ bắt đầu quay người đi về phía tấm màn; thấy vậy, tôi liền thả tay cho tấm màn rủ xuống và lùi ra một khoảng cách hợp lý.

Họ nhanh chóng nhập lại với tôi. Trong vài phút đầu, tất cả chúng ta đều giữ im lặng, nhưng cuối cùng tôi cũng đánh liều nhận xét rằng hôm nay ngân hàng có vẻ không bận rộn như thường lệ. Nghe vậy, bà Nosnibor liền thở dài bảo rằng thật bi kịch làm sao khi thấy người ta lại quá đỗi dửng dưng trước định chế trân quý bậc nhất này. Tôi chẳng biết nói gì để đáp lại, nhưng từ trước đến nay tôi vẫn luôn cho rằng đại đa số nhân loại ít nhiều đều biết rõ nơi nào mang lại điều tốt lành cho họ.

Bà Nosnibor nói tiếp rằng tôi chớ nên nghĩ là có sự thiếu tin tưởng nào dành cho ngân hàng chỉ vì tôi thấy ít người lui tới; trái tim của cả đất nước này hoàn toàn hướng về những cơ sở ấy, và bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy họ gặp nguy hiểm đều sẽ thu hút sự hậu thuẫn từ những góc khuất bất ngờ nhất. Chỉ vì người ta thừa biết chúng vô cùng an toàn, nên trong một vài trường hợp (như bà ngậm ngùi than thở về trường hợp của ông Nosnibor), họ cảm thấy sự ủng hộ của mình là thừa thãi. Hơn thế nữa, những định chế này chưa bao giờ lệch khỏi các nguyên tắc ngân hàng an toàn và chuẩn mực nhất. Chẳng hạn, họ không bao giờ trả lãi suất tiền gửi, một việc giờ đây thường bị làm bởi một số công ty bong bóng, những đơn vị chuyên kinh doanh phi pháp nhằm lôi kéo khách hàng; thậm chí số cổ đông còn ít hơn trước kia nhờ những cuộc đổi mới của đám người vô lương tâm ấy, bởi vì các Ngân hàng Âm nhạc trả rất ít hoặc chẳng trả cổ tức tí nào, mà thay vào đó họ chia lợi nhuận dưới hình thức tiền thưởng trên số cổ phiếu gốc cứ ba mươi nghìn năm một lần; và vì bây giờ mới chỉ trôi qua hai nghìn năm kể từ lần chia thưởng gần nhất, người ta cảm thấy mình chẳng thể hy vọng được hưởng lần tiếp theo trong cõi đời ngắn ngủi này nên đành ưu tiên những khoản đầu tư mang lại lợi ích hữu hình hơn; tất cả những điều đó, bà bảo, nghĩ đến là lại thấy não nề.

Sau khi đưa ra những lời thừa nhận cuối cùng ấy, bà quay trở lại luận điểm ban đầu của mình, rằng mọi người trong nước thực sự đều hậu thuẫn các ngân hàng này. Về sự vắng vẻ của người dân và sự thiếu vắng của những tráng đinh, bà chỉ ra cho tôi thấy với một chút lý lẽ rằng đây chính xác là điều chúng ta nên mong đợi. Những kẻ am hiểu nhất về sự vững bền của các định chế nhân sinh, chẳng hạn như luật sư, nhà khoa học, bác sĩ, chính khách, họa sĩ và những người tương tự, lại chính là những kẻ dễ bị lừa phỉnh bởi những tài năng tưởng tượng của chính họ nhất, và dễ trở nên nghi ngờ một cách bất hợp lý bởi khát khao truy cầu lợi ích trước mắt một cách phóng túng—gốc rễ của chín phần mười sự chống đối; bởi sự kiêu căng thôi thúc họ tỏ ra bề trên trước những định kiến của giới bình dân; và bởi tiếng gào thét từ lương tâm, thứ đang không ngừng chỉ trích họ một cách cay nghiệt vì thể xác vốn dĩ đã bệnh hoạn của họ.

(Bà tiếp tục) Dù trí tuệ của một người có minh mẫn đến đâu đi nữa, trừ khi thể xác hoàn toàn khỏe mạnh, anh ta chẳng thể đưa ra được phán quyết nào đáng giá về những vấn đề thế này. Thể xác là tất cả: nó có lẽ không cần phải là một thể xác quá cường tráng (bà nói điều này vì nhận thấy tôi đang nghĩ đến những cụ già và những kẻ trông ốm yếu tôi vừa thấy trong ngân hàng), nhưng nó phải hoàn toàn tráng kiện; trong trường hợp đó, sức mạnh thể chất càng ít hoạt động thì trí tuệ càng vận hành tự do hơn, và do đó kết luận đưa ra càng chuẩn xác. Do đó, những con người mà tôi nhìn thấy ở ngân hàng thực ra lại chính là những kẻ có quan điểm đáng giá nhất; họ tuyên bố những lợi ích mà nó mang lại là vô lượng, thậm chí còn cả quyết rằng lợi ích nhãn tiền lớn hơn nhiều so với những gì họ đáng được hưởng; cứ thế bà huyên thuyên không dứt, và chỉ chịu dừng lại khi chúng tôi về đến nhà.

Bà có thể nói bất cứ điều gì bà muốn, nhưng thái độ của bà chẳng thể thuyết phục được ai, và về sau tôi còn thấy những dấu hiệu rõ mồn một về sự dửng dưng chung dành cho các ngân hàng này. Những kẻ ủng hộ chúng thường chối bay chối biến, nhưng lời chối từ ấy lại thường được diễn đạt theo cách củng cố thêm bằng chứng cho sự tồn tại của nó. Trong những cơn hoảng loạn thương mại và thời buổi khốn khó chung, đông đảo người dân thậm chí còn chẳng mảy nghĩ đến việc quay đầu tìm kiếm sự cứu rỗi từ các ngân hàng này. Một vài kẻ có thể làm thế, một số vì thói quen và sự giáo dưỡng từ thuở nhỏ, một số vì bản năng xui khiến ta bám lấy bất kỳ cọng rơm nào khi nghĩ rằng mình đang chết đuối, nhưng rất ít người thực sự tin rằng Ngân hàng Âm nhạc có thể cứu họ khỏi cảnh phá sản tài chính, nếu họ không thể thanh toán các khoản nợ bằng loại tiền tệ kia.

Trong một lần trò chuyện với một trong những giám đốc Ngân hàng Âm nhạc, tôi đã đánh liều ám chỉ điều này một cách thẳng thắn nhất có thể trong giới hạn lịch sự. Ông ta bảo rằng điều đó đúng là ít nhiều đúng cho đến tận gần đây; nhưng giờ đây họ đã cho lắp đặt những khung cửa sổ kính màu mới ở tất cả các ngân hàng trên toàn quốc, tu sửa lại các tòa nhà và mở rộng các dàn đại phong cầm; hơn thế nữa, các chủ tịch còn bắt đầu đi xe buýt, nói năng nhỏ nhẹ với mọi người ngoài đường, nhớ rõ tuổi của con cái họ và tặng quà khi chúng hư đốn, nhờ thế mà từ nay mọi chuyện sẽ xuôi chèo mát mái.

“Nhưng các ông không làm gì với chính đồng tiền ấy sao?” tôi ngập ngừng hỏi.

“Không cần thiết,” ông ta đáp gọn lỏn; “hoàn toàn không cần thiết chút nào, tôi đảm bảo đấy.”

Thế mà bất kỳ ai cũng có thể nhận ra rằng tiền phát hành từ các ngân hàng này không phải là thứ người ta dùng để mua bánh mì, thịt thà và quần áo. Thoạt nhìn thì nó có vẻ giống, và được đóng những hoa văn đôi khi rất đẹp mắt; nhưng nó cũng không phải là tiền giả được làm ra với ý định đánh tráo với đồng tiền đang lưu hành thực tế; nó giống tiền đồ chơi hơn, hoặc những quân cờ dùng trong một số trò chơi bài bạc; bởi vì bất chấp sự tinh xảo của các hoa văn, chất liệu đúc nên chúng lại vô giá trị hết mức có thể. Một số được phủ giấy bạc mỏng, nhưng phần lớn là thứ kim loại cơ bản rẻ tiền mà bản chất chính xác của chúng tôi không tài nào xác định nổi. Quả thực, chúng được làm từ rất nhiều loại kim loại, hoặc chính xác hơn là hợp kim, một số thì cứng cáp, trong khi số khác lại dễ uốn cong và nhận bất kỳ hình thù nào mà chủ nhân của chúng mong muốn vào thời điểm đó.

Dĩ nhiên ai cũng biết giá trị thương mại của chúng bằng không, nhưng tất cả những ai muốn được coi là người đàng hoàng đều thấy có bổn phận phải giữ lại vài đồng trong tay, và thỉnh thoảng để chúng lộ diện trong bàn tay hay chiếc ví của mình. Không những thế, họ còn khăng khăng rằng đồng tiền lưu hành hợp pháp của vương quốc chỉ là thứ đồ bỏ đi nếu đem ra so sánh với tiền tệ của Ngân hàng Âm nhạc. Có lẽ, điều kỳ lạ nhất trong số đó là chính những con người này đôi khi lại hay chế giễu toàn bộ hệ thống bằng những chuyện nhỏ nhặt; quả thực, chẳng có lời châm biếm nào chống lại nó mà họ không dung thứ, thậm chí còn vỗ tay tán thưởng trên các tờ báo hằng ngày nếu nó được viết ẩn danh; trong khi nếu điều tương tự được nói thẳng thừng vào mặt họ mà không hề mập mờ—với chủ ngữ, động từ và tân ngữ nằm đúng vị trí, không còn mảy may nghi ngờ—họ sẽ coi đó là sự xúc phạm vô cùng nghiêm trọng và chính đáng, đồng thời buộc tội kẻ nói câu ấy là đang có vấn đề về sức khỏe.

Tôi chưa bao giờ hiểu được (và đến giờ vẫn chưa hoàn toàn hiểu, dẫu tôi bắt đầu nhận thức rõ hơn về ý định của họ) tại sao một thứ tiền tệ duy nhất lại không thể đáp ứng nhu cầu của họ; đối với tôi, điều đó dường như sẽ đơn giản hóa mọi giao dịch của họ biết bao; nhưng tôi chỉ nhận lại cái nhìn đầy kinh hoàng mỗi khi dám ám chỉ điều đó. Ngay cả những kẻ mà tôi biết chắc chỉ giữ lại ở Ngân hàng Âm nhạc số tiền vừa đủ để thề thốt, vẫn gọi những ngân hàng kia (nơi tài sản thực sự của họ được cất giữ) là lạnh lùng, tê liệt, làm mất hết sinh khí và những từ ngữ tương tự.

Hơn thế nữa, tôi còn nhận thấy một điều khác khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Tôi được đưa đến dự lễ khai trương một ngân hàng như thế ở một thị trấn lân cận và tận mắt chứng kiến một hội đồng đông đảo gồm các thủ quỹ và giám đốc. Tôi ngồi đối diện họ và chăm chú săm soi nét mặt từng người. Họ không làm tôi hài lòng; ngoại trừ một vài ngoại lệ, họ thiếu đi sự bộc trực vốn có của người Erewhon; và nếu chọn một số lượng tương đương từ bất kỳ tầng lớp nào khác, ta sẽ thấy những con người ấy hạnh phúc và trông thiện cảm hơn. Khi chạm mặt họ trên đường phố, họ không giống những người bình thường, mà theo quy luật chung, trên khuôn mặt họ hằn lên vẻ cau có, gò bó khiến tôi cảm thấy đau đớn và chán nản.

Những người đến từ vùng quê khá hơn một chút; họ có vẻ ít sống theo kiểu tách biệt thành một tầng lớp riêng, đồng thời tự do và khỏe mạnh hơn; nhưng dẫu tôi không ít lần bắt gặp những ánh nhìn từ ái và cao quý, tôi vẫn không kìm được việc tự hỏi về phần lớn những kẻ mình gặp rằng liệu xứ Erewhon có trở thành một đất nước tốt đẹp hơn không nếu nét mặt của họ được truyền bá cho toàn thể nhân dân. Tôi dứt khoát tự đáp: Không. Biểu cảm trên khuôn mặt của những tín đồ Ydgrun cao quý mới là thứ đáng để lan tỏa chứ không phải của bọn thủ quỹ.

Nét mặt của một người chính là bí tích của kẻ đó; nó là dấu hiệu bên ngoài và hữu hình của ân sủng hoặc sự thiếu vắng ân sủng bên trong tâm hồn; và khi nhìn vào đa số những người đàn ông này, tôi không thể rũ bỏ cảm giác rằng phải có một điều gì đó trong cuộc đời họ đã kìm hãm sự phát triển tự nhiên của bản thân, và họ sẽ có tâm lý lành mạnh hơn nếu làm bất kỳ nghề nghiệp nào khác. Tôi luôn cảm thấy thương hại họ, bởi vì mười người như một, họ đều là những con người có thiện chí; nhìn chung họ được trả lương rất bèo bọt; thể trạng của họ nhìn chung là miễn chê; và có vô số ghi chép về sự hy sinh thân mình cũng như lòng hào hiệp của họ; nhưng họ lại mắc phải bất hạnh khi bị lừa gạt bước vào một vị trí sai lầm vào độ tuổi mà lý trí phần lớn chưa chín muồi, và sau khi đã bị giấu giếm một cách có chủ đích trước những khó khăn thực sự của hệ thống. Dù vậy, điều đó chẳng làm cho vị trí của họ bớt sai lầm đi chút nào, và những tác động tiêu cực của nó lên bản thân họ là điều không thể chối cãi.

Rất ít người dám nói năng cởi mở và tự do trước mặt họ, điều này đập vào mắt tôi như một dấu hiệu vô cùng tồi tệ. Khi họ có mặt trong phòng, tất cả mọi người sẽ nói năng cứ như thể mọi loại tiền tệ ngoại trừ Ngân hàng Âm nhạc nên bị xóa sổ; thế nhưng họ thừa biết rằng ngay cả bản thân đám thủ quỹ cũng hiếm khi dùng tiền Ngân hàng Âm nhạc nhiều hơn những người khác. Người ta kỳ vọng họ phải ra vẻ như thế, nhưng chỉ có vậy thôi. Những kẻ ít suy nghĩ trong số họ có vẻ không quá bất hạnh, nhưng nhiều kẻ rõ ràng đang đau đớn trong tâm can, dẫu có lẽ họ chẳng nhận thức nổi điều đó và sẽ không đời nào thừa nhận mình đang khổ sở. Một số ít là những kẻ phản đối toàn bộ hệ thống; nhưng họ có nguy cơ bị sa thải khỏi công việc bất cứ lúc nào, và điều này khiến họ vô cùng dè dặt, bởi vì một kẻ từng làm thủ quỹ tại Ngân hàng Âm nhạc sẽ mất sạch cơ hội chuyển sang lĩnh vực khác, và thường trở nên vô dụng đối với các ngành nghề khác do quá trình huấn luyện mà người ta vẫn quen gọi là giáo dục. Thực chất, đó là một con đường sự nghiệp mà việc rút lui gần như là bất khả thi, và các thanh niên thường bị dụ dỗ bước chân vào trước khi họ kịp hình thành bất kỳ quan điểm nào cho riêng mình, xét theo quá trình giáo dục của họ. Quả thực, không ít lần họ bị lừa phọc bởi thứ mà ở Anh chúng ta gọi là sự gây ảnh hưởng không đáng có, sự che đậy và gian lận. Thật hiếm hoi làm sao những kẻ có đủ can đảm khăng khăng đòi nhìn nhận cả hai mặt của vấn đề trước khi dấn thân vào thứ thực chất là một cú nhảy vào chốn tối tăm. Người ta cứ ngỡ sự thận trọng trong khía cạnh này phải là một nguyên tắc vỡ lòng—một trong những điều đầu tiên mà một người đàn ông danh dự phải dạy cho con trai mình hiểu; nhưng trong thực tế thì không phải vậy.

Tôi thậm chí từng chứng kiến những trường hợp cha mẹ bỏ tiền mua quyền bổ nhiệm chức vụ thủ quỹ tại một trong những ngân hàng này, với quyết tâm sắt đá rằng một trong những đứa con trai của họ (có khi chỉ là một đứa trẻ vắt mũi chưa sạch) sẽ ngồi vào chiếc ghế đó. Bản thân đứa trẻ ấy—lớn lên với đầy hứa hẹn trở thành một người đàn ông tốt đẹp và đáng kính—lại hoàn toàn không hề được cảnh báo về chiếc giày sắt mà người bảo hộ tự nhiên của nó đang chuẩn bị sẵn cho nó. Ai dám chắc toàn bộ cơ sự ấy sẽ không kết thúc bằng một lời dối trá kéo dài suốt cả cuộc đời và những nỗi dằn vặt vô vọng để tìm đường thoát thân? Tôi phải thú nhận rằng ở Erewhon có rất ít thứ khiến tôi bị sốc nặng hơn điều này.

Thế mà chúng ta cũng làm những chuyện chẳng khác là bao ngay tại nước Anh, và xét về hệ thống thương mại kép, mọi quốc gia đều có, và đã từng có, một bộ luật của đất nước, bên cạnh một bộ luật khác, dẫu được tôn sùng hơn nhưng lại có ít tác động hơn hẳn đến đời sống và hành động hằng ngày của họ. Có vẻ như nhu cầu về một thứ luật lệ vượt lên trên, và đôi khi thậm chí mâu thuẫn với luật pháp quốc gia, hẳn phải bắt nguồn từ thứ gì đó cắm rễ sâu thẳm trong bản tính con người; quả thực, thật khó để tưởng tượng con người có thể tiến hóa thành con người nếu thiếu đi sự hình thành dần dần của nhận thức rằng dẫu thế giới này có vẻ to lớn nhường nào khi chúng ta ở trong đó, nó có thể trở thành một thứ vô cùng nhỏ bé khi chúng ta bước ra khỏi nó.

Khi con người đã phát triển đến nhận thức rằng trong bản chất vĩnh cửu của việc-Là-Và-Không-Phải, thế giới này cùng vạn vật chứa đựng trong nó, bao gồm cả con người, đồng thời vừa hiển hiện vừa ẩn khuất, anh ta cảm thấy nhu cầu về hai quy tắc sống: một cho khía cạnh hiển hiện và bên kia cho khía cạnh ẩn khuất của vạn vật. Đối với các luật lệ chi phối thế giới hiển hiện, anh ta đòi hỏi sự phê chuẩn từ các quyền lực hiển hiện; đối với thế giới ẩn khuất (nơi anh ta chẳng biết gì ngoài việc nó tồn tại và có quyền năng), anh ta cầu khẩn thế lực ẩn khuất (mà anh ta cũng chẳng biết gì ngoài việc nó tồn tại và có quyền năng) và gọi nó bằng cái tên Thượng Đế.

Một số quan điểm của người Erewhon về trí tuệ của bào thai chưa sinh mà ngặt nỗi dung lượng không cho phép tôi trình bày trước độc giả, đã khiến tôi đi đến kết luận rằng các Ngân hàng Âm nhạc xứ Erewhon, và có lẽ cả hệ thống tôn giáo của mọi quốc gia, giờ đây ít nhiều chỉ là một nỗ lực nhằm duy trì sự khôn ngoan bản năng vô thức và khôn lường của hàng triệu thế hệ quá khứ, chống lại những kết luận tương đối nông cạn, do suy luận có ý thức và mang tính phù du được rút ra từ trí tuệ của ba mươi hay bốn mươi năm gần nhất.

Điểm cứu rỗi của hệ thống Ngân hàng Âm nhạc Erewhon (khác với những quan điểm mang tính bán thờ phụng tồn tại song song mà tôi sẽ đề cập sau) nằm ở chỗ trong khi nó làm chứng cho sự tồn tại của một vương quốc không thuộc về thế giới này, nó không hề cố gắng vén bức màn che giấu vương quốc ấy khỏi tầm mắt phàm nhân. Đây chính là điểm mà hầu hết mọi tôn giáo đều lầm đường lạc lối. Các vị linh mục của họ cố gắng làm chúng ta tin rằng họ biết về thế giới khuất tất nhiều hơn những kẻ vẫn đang bị đôi mắt trần gian che mờ có thể biết—quên mất rằng trong khi việc phủ nhận sự tồn tại của một vương quốc ẩn giấu là điều tồi tệ, thì việc giả vờ rằng chúng ta biết nhiều về nó hơn sự tồn tại trần trụi của nó cũng chẳng khá khẩm hơn là bao.

Chương này đã dài hơn dự định của tôi, nhưng tôi vẫn muốn nói rằng bất chấp điểm cứu rỗi mà tôi vừa nhắc đến, tôi không khỏi nghĩ rằng người Erewhon đang đứng trước bờ vực của một sự thay đổi lớn trong quan điểm tôn giáo của họ, hoặc ít nhất là trong phần quan điểm tìm thấy sự biểu đạt thông qua các Ngân hàng Âm nhạc. Theo những gì tôi có thể thấy, toàn bộ chín mươi phần trăm dân số ở thủ đô nhìn nhận những ngân hàng này với thái độ chẳng khác nào sự khinh miệt. Nếu đúng là như vậy, bất kỳ sự kiện chấn động nào chắc chắn sẽ xảy ra sớm muộn cũng có thể đóng vai trò làm hạt nhân cho một trật tự vạn vật mới, hòa hợp hơn với cả trí tuệ lẫn trái tim của nhân dân.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Samuel Butler

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.