Erewhon: Bên Kia Dãy Núi

Lượt đọc: 154 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Vùng Đất Hoang

❊ ❊ ❊

Nếu bạn đọc rộng lượng bỏ qua cho, tôi xin phép không nhắc gì đến thân thế của mình, cũng như những hoàn cảnh đã đưa đẩy tôi rời bỏ quê hương; bởi kể lại những điều ấy vừa gây nhàm ch้าว cho quý vị vừa gợi lại niềm đau đớn cho chính tôi. Chỉ xin nói gọn rằng, khi tôi quyết định ra đi, mục đích của tôi là tìm đến một vùng thuộc địa mới nào đó để tìm kiếm, hoặc thậm chí có thể mua lại, những thửa đất hoang của hoàng gia thích hợp cho việc chăn nuôi cừu hoặc gia súc; nhờ đó, tôi ngỡ mình có thể gầy dựng cơ nghiệp nhanh chóng hơn so với ở nước Anh.

Sự thật chứng minh rằng tôi đã không thành công trong dự tính ấy, và dù cho tôi có được trải nghiệm bao điều mới lạ và kỳ thú đi chăng nữa, tôi vẫn hoàn toàn chẳng thu lại được chút lợi lộc nào về mặt tiền tài.

Thật vậy, tôi tin rằng mình đã có một phát hiện mà nếu tôi có thể là người đầu tiên tận dụng nó, tôi sẽ nhận được một phần thưởng vượt ngoài mọi sự tính toán bằng tiền bạc, đồng thời đảm bảo cho bản thân một vị trí mà từ khi vũ trụ được khai sinh cho đến nay, có lẽ chưa đến mười lăm hay mười sáu người đạt được. Thế nhưng, để đạt được mục đích ấy, tôi buộc phải có trong tay một số vốn khá lớn; mà tôi thì chẳng biết làm cách nào để có được nó, ngoại trừ việc khơi gợi sự quan tâm của công chúng đối với câu chuyện của mình, đồng thời kêu gọi lòng hảo tâm của mọi người đứng ra giúp đỡ. Với niềm hy vọng đó, tôi nay đành phải công bố những cuộc phiêu lưu của bản đời mình; dẫu vậy, tôi làm điều này với nỗi ngần ngại khôn cùng, bởi tôi sợ rằng câu chuyện của mình sẽ bị hoài nghi nếu tôi không kể lại toàn bộ sự thật; thế mà tôi lại chẳng dám làm thế, kẻo những kẻ có tiềm lực tài chính hơn tôi sẽ ra tay trước và cướp mất cơ hội. Tôi đành chấp nhận mạo hiểm bị người đời hoài nghi còn hơn là để cho kẻ khác đi trước một bước, và vì thế, tôi đã giấu kín điểm đến của mình khi rời khỏi nước Anh, cũng như địa điểm mà từ đó tôi bắt đầu chặng hành trình đầy gian khổ và nghiêm túc hơn.

An ủi lớn nhất của tôi nằm ở một thực tế là sự thật luôn mang dấu ấn riêng của nó, và câu chuyện của tôi sẽ tạo được sức thuyết phục nhờ vào những minh chứng nội tại về tính xác thực của nó. Chẳng một ai là người lương thiện lại đi hoài nghi sự chân thật của tôi cả.

Tôi đã đặt chân đến nơi định cư vào những tháng cuối năm 1868, nhưng tôi không dám nhắc đến mùa nào trong năm, kẻo người đọc sẽ đoán ra tôi đang ở bán cầu nào. Vùng thuộc địa ấy là một nơi chưa từng được khai phá, ngay cả đối với những kẻ phiêu lưu gan dạ nhất, trong suốt hơn tám hay chín năm, và trước đó vốn là vùng đất hoang vu chẳng có bóng người ngoài vài bộ lạc thổ dân hay lui tới vùng duyên hải. Phần đất mà người châu Âu biết đến chỉ bao gồm một dải bờ biển dài chừng tám trăm dặm (với ba hoặc bốn hải cảng tốt), cùng với một vùng đất trải sâu vào nội địa chừng hai đến ba trăm dặm, cho đến khi chạm đến phần chân của một dãy núi cao ngút ngàn mà người ta có thể nhìn thấy từ tận ngoài các đồng bằng, quanh năm tuyết phủ trắng xóa. Vờn quanh bờ biển ấy, cả về phía bắc lẫn phía nam của dải đất tôi vừa nhắc đến, là những vùng hoàn toàn quen thuộc, nhưng tuyệt nhiên chẳng có lấy một ngọn hải cảng nào trong suốt năm trăm dặm, và những ngọn núi đâm gần như sát biển đều bị bao phủ bởi những cánh rừng rậm rạp đến mức chẳng ai dám nghĩ đến chuyện đến đó định cư.

Tuy nhiên, với vũng đất này, mọi chuyện lại hoàn toàn khác biệt. Các hải cảng đều rất thuận tiện; đất đai có rừng rậm nhưng không quá rậm rạp; nơi đây vô cùng thích hợp cho việc canh tác; nó còn sở hữu hàng triệu triệu mẫu đất với những đồng cỏ đẹp nhất thế giới, cực kỳ lý tưởng cho mọi loài cừu và gia súc. Khí hậu ôn hòa và rất tốt cho sức khỏe; không có thú dữ, và thổ dân cũng chẳng hề nguy hiểm, số lượng ít lại có bản tính ôn hòa, dễ bảo.

Có thể dễ dàng hiểu được rằng, một khi người châu Âu đã đặt chân lên mảnh đất này, họ chẳng chậm trễ gì trong việc tận dụng những tiềm năng của nó. Cừu và gia súc được đưa vào và sinh sôi với tốc độ cực kỳ nhanh chóng; người ta chiếm lấy những khoảnh đất rộng 50.000 hay 100.000 mẫu, kẻ trước người sau tiến sâu vào nội địa, cho đến khi chỉ sau vài năm, chẳng còn sót lại một mẫu đất nào từ bờ biển cho đến các dãy núi phía trước là chưa có chủ, và các trại chăn nuôi cừu hay gia súc mọc lên rải rác cách nhau chừng hai mươi hoặc ba mươi dặm trên khắp cả vùng. Những ngọn núi phía trước đã kìm hãm làn sóng những kẻ chiếm đất trong một thời gian ngắn; người ta từng cho rằng có quá nhiều tuyết đọng trên đó trong suốt nhiều tháng liền—rằng cừu sẽ đi lạc vì địa hình quá khó khăn cho việc chăn dắt,—rằng chi phí chuyên chở len ra đến mạn tàu sẽ ngốn sạch lợi nhuận của người chủ trại,—và rằng cỏ ở đó quá xơ cứng để cừu có thể lớn nổi; thế nhưng, từng người một đã quyết định thử vận may, và thật kỳ diệu là kết quả lại vô cùng mỹ mãn. Người ta tiến ngày một sâu hơn vào các vùng núi, và tìm thấy một dải đất rộng lớn đáng kể nằm bên trong dãy núi phía trước, giữa nó với một dãy núi còn sừng sững hơn nữa, dẫu rằng ngay cả ngọn núi đó vẫn chưa phải là cao nhất, mà chính là dãy núi tuyết vĩ đại có thể nhìn thấy từ tận ngoài các đồng bằng. Dù vậy, dãy núi thứ hai này dường như đã vạch ra giới hạn tận cùng của vùng đất chăn thả; và chính tại nơi đây, tại một trại chăn nuôi nhỏ bé mới được thành lập, tôi đã được nhận vào làm người học việc, và chẳng mấy chốc đã chính thức làm việc ở đó. Lúc ấy tôi vừa tròn hai mươi hai tuổi.

Tôi vô cùng say mê cảnh sắc nơi đây cũng như lối sống này. Công việc hằng ngày của tôi là leo lên đỉnh của một ngọn núi cao nào đó, rồi đi xuống theo một trong các sườn núi để ra vùng đất bằng phẳng, nhằm đảm bảo không có con cừu nào vượt qua ranh giới của chúng. Nhiệm vụ của tôi là phải nhìn thấy bầy cừu, không nhất thiết phải đứng sát tận nơi, cũng chẳng cần phải dồn chúng thành một bầy lớn, mà chỉ cần nhìn thấy đủ số lượng chúng ở đây đó để có thể yên tâm rằng không có chuyện gì bất trắc xảy ra; việc này chẳng có gì khó khăn, bởi số cừu ở đó chưa tới tám trăm con; và vì toàn là cừu cái sinh sản nên chúng khá hiền lành.

Có khá nhiều con cừu mà tôi nhẵn mặt, chẳng hạn như hai hoặc ba con cừu cái lông đen, một hoặc hai con cừu con lông đen, và vài con khác mang những dấu hiệu nhận biết riêng giúp tôi có thể phân biệt được chúng. Tôi thường cố gắng tìm xem cho bằng được tất cả những con ấy, và nếu chúng đều có mặt ở đó, đồng thời bầy cừu trông có vẻ đủ số lượng, thì tôi có thể yên tâm rằng mọi chuyện đều ổn. Thật ngạc nhiên là mắt người ta có thể nhanh chóng quen với việc nhận ra sự thiếu vắng của hai mươi con cừu trong tổng số hai hoặc ba trăm con như thế nào. Tôi mang theo một chiếc ống nhòm, một con chó, cùng với bánh mì, thịt và thuốc lá. Khởi hành từ lúc rạng đông, tôi phải mất đến tận đêm tối mới hoàn thành xong vòng tuần tra của mình; bởi ngọn núi mà tôi phải băng qua rất cao. Vào mùa đông, nó bị tuyết phủ trắng xóa, và bầy cừu khi ấy chẳng cần phải trông chừng từ trên cao nữa. Nếu tôi thấy phân cừu hoặc dấu chân hướng xuống sườn bên kia của ngọn núi (nơi có một thung lũng với một con suối—một ngõ cụt thực sự), tôi sẽ phải lần theo dấu vết đó và tìm kiếm cừu; nhưng tôi chưa từng nhìn thấy con nào, bwri lũ cừu luôn đi xuống phía sườn của chính chúng, một phần vì thói quen, phần khác vì nơi ấy có rất nhiều ngọn cỏ non ngọt ngào đã được đốt vào đầu mùa xuân, ngay trước khi tôi đến, và giờ đây đã xanh mướt đầy dưỡng chất, trong khi cỏ ở sườn bên kia chưa từng được đốt nên vừa thô vừa già.

Đó là một cuộc sống đơn điệu, nhưng lại rất lành mạnh và người ta chẳng màng đến điều gì khi cơ thể khỏe mạnh. Phong cảnh nơi đây là tuyệt mỹ nhất có thể tưởng tượng được. Biết bao lần tôi đã ngồi trên sườn núi và ngắm nhìn những dải đồi nhấp nhô, với hai đốm trắng nhỏ của những căn lúp xúp ở đằng xa, cùng mảnh vườn vuông vắn phía sau chúng; khoảnh đất quây rào với một khoảng yến mạch xanh mướt nằm phía trên những túp lều, cùng các sân phơi và dãy chuồng cừu tít bên dưới vùng đất bằng; tất cả hiện ra như thể được nhìn qua đầu ngược của một chiếc ống nhòm, bầu không khí mới trong trẻo và rực rỡ làm sao, hoặc như thể một mô hình khổng lồ hay một tấm bản đồ đang được trải rộng bên dưới chân tôi. Phía bên kia những ngọn đồi là một đồng bằng, thoai thoải đổ xuống một con sông lớn, bên kia bờ là những ngọn núi cao khác với lớp tuyết mùa đông vẫn chưa tan hẳn; ngược dòng con sông vốn uốn lượn qua muôn dòng nước trên lòng sông rộng chừng hai dặm, tôi phóng tầm mắt nhìn dãy núi lớn thứ hai, và có thể thấy một khe núi hẹp nơi con sông chảy khuất vào và biến mất. Tôi biết rằng còn có một dãy núi nằm tít phía sau nữa; nhưng ngoại trừ từ một vị trí gần sát đỉnh ngọn núi của chính tôi, chẳng thể nhìn thấy phần nào khác của nó: thế nhưng từ điểm này, bất cứ khi nào trời không mây, tôi lại nhìn thấy một đỉnh núi đơn độc phủ đầy tuyết, cách đó nhiều dặm, và tôi đoán là nó cao chẳng kém bất kỳ ngọn núi nào trên thế giới. Tôi sẽ chẳng bao giờ quên sự cô quạnh tuyệt đối của khung cảnh ấy—chỉ có mái tranh nhỏ bé ở tận đằng xa là dấu hiệu của bàn tay con người;—sự bao la của núi non và đồng bằng, của sông ngòi và bầu trời; những hiệu ứng kỳ diệu của bầu không khí—có khi là những ngọn núi đen sẫm nổi bật trên nền trời trắng xóa, rồi có khi, sau đợt tiết trời lạnh giá, lại là những ngọn núi trắng xóa nổi bật trên nền trời đen thẫm—có lúc hiện ra qua những khoảng mây tan và xoáy lốc—và đôi khi, điều tuyệt vời nhất là tôi leo lên ngọn núi của mình trong một màn sương mù, rồi vươn lên trên cả lớp sương ấy; càng lên cao hơn nữa, tôi lại nhìn xuống một biển mây trắng xóa, xuyên qua đó là vô số đỉnh núi nhô lên trông giống như những hòn đảo.

Tôi như đang ở đó ngay lúc này, khi tôi đang viết những dòng này; tôi tưởng chừng mình có thể nhìn thấy những dải đồi, những túp lều, đồng bằng và lòng sông—con đường hoang tàn của dòng thác lũ, cùng tiếng nước gầm réo từ đằng xa. Ôi, thật kỳ diệu! Thật kỳ diệu! Vừa cô độc lại vừa trang nghiêm, với những đám mây xám buồn bã lững lờ bên trên, và chẳng có âm thanh nào ngoài tiếng một con cừu lạc mẹ đang kêu bê bết trên sườn núi, tựa như trái tim bé nhỏ của nó đang vỡ nát. Rồi xuất hiện một con cừu cái gầy gò, xơ xác, với tiếng kêu khàn đặc và vẻ ngoài kém xinh, đang lật đật chạy trở về từ bãi cỏ đầy cám dỗ; giờ thì nó săm soi khe núi này đến khe núi khác, rồi đứng lắng nghe với cái ngẩng cao đầu, để có thể nghe thấy tiếng kêu thảm thiết từ đằng xa mà tuân theo. A ha! Chúng nhìn thấy nhau, và lao về phía nhau. Than ôi! Cả hai đều lầm lẫn; con cừu cái ấy không phải là mẹ của con cừu con, chúng chẳng có chút họ hàng thân thuộc nào với nhau, và đành lạnh lùng quay lưng bước đi. Mỗi con lại phải cất tiếng kêu to hơn và lang thang xa hơn nữa; cầu mong may mắn sẽ mỉm cười với cả hai để chúng tìm thấy người thân khi màn buông xuống. Nhưng đây chỉ là những phút giây mơ mộng, và tôi phải tiếp tục câu chuyện của mình.

Tôi không khỏi suy đoán về những gì có thể nằm sâu hơn nữa về phía thượng nguồn và ẩn sau dãy núi thứ hai. Tôi chẳng có chút tiền tài nào, nhưng nếu tôi chỉ có thể tìm thấy một vùng đất có thể khai thác được, tôi có thể gây dựng đàn gia súc bằng nguồn vốn vay mượn, và tự coi mình là kẻ đã thành công rực rỡ. Quả thật, dãy núi trông có vẻ vô cùng đồ sộ, đến mức có vẻ như có rất ít cơ hội để mở một con đường đủ dùng xuyên qua nó hoặc vượt lên trên nó; nhưng chưa từng có ai thám hiểm nó cả, và thật kỳ diệu khi người ta nhận ra mình có thể tạo ra một lối mòn đến đủ mọi chốn (thậm chí mở cả đường cho ngựa thồ) mà từ đằng xa trông có vẻ không thể tiếp cận được; con sông lớn đến mức nó chắc chắn phải rút nước từ một vùng nội địa—ít nhất tôi nghĩ là thế; và dẫu cho ai nấy đều bảo rằng thật là điên rồ khi mưu toan dưa cừu tiến sâu hơn nữa vào nội địa, tôi thừa biết rằng chỉ mới ba năm trước, người ta cũng từng hô hào những lời như thế đối với vùng đất mà đàn gia súc của ông chủ tôi đang tràn ngập. Tôi không tài nào xua tan những suy nghĩ ấy ra khỏi đầu khi nghỉ chân trên sườn núi; chúng cứ ám ảnh tôi trong mỗi vòng tuần tra hằng ngày, và lớn dần lên từng giờ, cho đến khi tôi quyết định rằng sau mùa xén lông cừu, tôi sẽ không ngần ngại chần chừ thêm nữa, mà sẽ yên ngựa lên, mang theo càng nhiều lương thực càng tốt, rồi tự mình đi đến đó và tận mắt chứng kiến.

Nhưng vượt lên trên và lấn át cả những suy nghĩ ấy chính là hình ảnh về dãy núi vĩ đại. Có gì ở phía bên kia? À! Ai mà nói trước được cơ chứ? Trên khắp thế giới này chẳng có lấy một ai có mảy may ý niệm nào về nó, ngoại trừ những kẻ đang ở chính phía bên kia của nó—nếu như thực sự có ai ở đó. Liệu tôi có thể hy vọng vượt qua nó được chăng? Đó sẽ là chiến thắng vĩ đại nhất mà tôi có thể ao ước; nhưng vẫn còn quá sớm để nghĩ đến điều đó. Tôi sẽ thử sức với dãy núi gần hơn, và xem mình có thể đi xa đến đâu. Ngay cả khi tôi chẳng tìm thấy vùng đất nào, chẳng lẽ tôi lại không thể tìm thấy vàng, hay kim cương, hay đồng, hay bạc hay sao? Đôi khi tôi nằm sấp xuống để uống nước từ một dòng suối, và có thể nhìn thấy những đốm vàng li ti giữa lớp cát; liệu đó có phải là vàng không? Mọi người bảo là không; nhưng ngẫm lại thì người ta luôn miệng bảo chẳng có vàng nào cho đến khi nó được tìm thấy với số lượng dồi dào: có rất nhiều phiến thạch và đá hoa cương, mà từ trước đến nay tôi vẫn hiểu là luôn đi kèm với vàng; và dẫu cho nó không được tìm thấy với trữ lượng có thể sinh lợi ở đây, thì rất có thể nó lại vô cùng dồi dào ở các dãy núi chính. Những suy nghĩ ấy cứ quanh quẩn trong đầu tôi, và tôi chẳng tài nào xua chúng đi được.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Samuel Butler

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.