Erewhon: Bên Kia Dãy Núi

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 29
Lời Kết

❊ ❊ ❊

Con tàu mang tên Principe Umberto, chạy tuyến từ Callao đến Genoa; nó đã chở một nhóm người di cư đến Rio, từ đó đi tiếp đến Callao để nhận một lô hàng phân chim, và bấy giờ đang trên đường về nước. Thuyền trưởng là một người tên là Giovanni Gianni, quê ở Sestri; ông đã ân cần cho phép tôi nhắc đến tên mình trong trường hợp tính xác thực của câu chuyện bị hoài nghi; nhưng tôi vô cùng tiếc là đã để ông tự huyễn hoặc bản thân ở một vài chi tiết quan trọng. Tôi cũng xin nói thêm rằng, khi được cứu vớt, chúng tôi đang ở cách đất liền tới một ngàn dặm.

Ngay khi chúng tôi bước lên boong, vị thuyền trưởng bắt đầu hỏi dồn về cuộc vây hãm Paris – một thành phố mà ông cứ đinh ninh chúng tôi vừa rời đi, dẫu cho khoảng cách từ đó đến châu Âu là vô cùng lớn. Như có thể đoán được, tôi chẳng hề hay biết chút gì về cuộc chiến tranh giữa Pháp và Đức, lại đang quá mệt mỏi nên chỉ còn biết gật đầu đồng tình với mọi điều ông áp đặt vào miệng tôi. Vốn tiếng Ý của tôi vô cùng hạn hẹp, nên tôi chẳng thu nhặt được mấy từ những gì ông nói; nhưng tôi rất đỗi mừng vì che giấu được điểm xuất phát thực sự của mình, và tự nhủ sẽ đón nhận bất kỳ gợi ý nào mà ông muốn bày ra.

Câu chuyện được gợi ý theo cách đó là có mười hoặc mười hai người khác cùng đi trên khinh khí cầu, rằng tôi là một nhà quý tộc Anh quốc, còn Arowhena là một Nữ bá tước Nga; rằng tất cả những người khác đều đã chết đuối, và những công văn chúng tôi mang theo đã bị thất lạc. Về sau tôi mới hiểu rằng câu chuyện này sẽ chẳng tài nào đáng tin nếu thuyền trưởng không ở trên biển suốt mấy tuần lễ, bởi tôi nhận ra rằng khi chúng tôi được vớt lên, quân Đức đã chiếm đóng Paris từ lâu rồi. Dẫu sao đi nữa, vị thuyền trưởng cũng đã dàn xếp ổn thỏa toàn bộ câu chuyện hộ tôi, và tôi hoàn toàn mãn nguyện.

Chỉ vài ngày sau, chúng tôi trông thấy một con tàu Anh đang chở len từ Melbourne đi Luân Đôn. Theo lời thỉnh cầu thiết tha của tôi, dẫu cho thời tiết giông bão khiến việc dùng thuyền nhỏ chuyển qua lại giữa hai tàu vô cùng nguy hiểm, vị thuyền trưởng vẫn đồng ý ra hiệu cho con tàu Anh, và chúng tôi được đón lên boong. Tuy nhiên, việc chuyển tàu diễn ra khó khăn đến mức chẳng có lời qua tiếng lại nào về hoàn cảnh chúng tôi được tìm thấy. Quả thực tôi có nghe viên phó tàu người Ý phụ trách chiếc xuồng hét lớn bằng tiếng Pháp rằng chúng tôi được cứu từ một chiếc khinh khí cầu, nhưng tiếng gió quá lớn cùng với việc vị thuyền trưởng biết quá ít tiếng Pháp khiến ông chẳng bắt được chút sự thật nào, và tất cả đều đinh ninh rằng chúng tôi là hai nạn nhân sống sót sau một vụ đắm tàu. Khi thuyền trưởng hỏi tôi gặp nạn trên con tàu nào, tôi đáp rằng một nhóm chúng tôi đã bị dòng nước xiết cuốn ra khơi trên một chiếc thuyền dạo mát, và chỉ có tôi cùng Arowhena (người mà tôi miêu tả là một tiểu thư người Peru) may mắn sống sót.

Trên tàu có một số hành khách, và lòng tốt của họ đối với chúng tôi là ơn nghĩa mà cả đời này chúng tôi không sao trả hết. Tôi lấy làm đau buồn khi nghĩ rằng chắc chắn có lúc họ sẽ phát hiện ra chúng tôi đã không hoàn toàn đặt trọn niềm tin nơi họ; nhưng ngộ nhỡ chúng tôi kể hết sự thật, họ sẽ chẳng đời nào tin, và tôi đã hạ quyết tâm không để bất cứ ai hay biết về Erewhon, hay có cơ hội đặt chân đến đó trước tôi, chừng nào tôi còn có thể ngăn điều đó xảy ra. Quả thực, ký ức về những lời dối trá mà khi ấy tôi buộc phải thốt lên chắc chắn sẽ biến cuộc đời tôi thành một chuỗi ngày khốn khổ, nếu như tôi không được nâng đỡ bởi sự an ủi từ đức tin của mình. Trong số các hành khách có một vị mục sư vô cùng đáng kính, và chính ngài đã làm lễ kết hôn cho Arowhena cùng tôi chỉ vài ngày sau khi chúng tôi lên tàu.

Sau một hải trình suôn sẻ kéo dài khoảng hai tháng, chúng tôi nhìn thấy mũi Land’s End, và chỉ một tuần sau thì cập cảng Luân Đôn. Mọi người trên tàu đã quyên góp một khoản tiền hào phóng cho chúng tôi, nhờ đó chúng tôi không phải bận tâm lo lắng về tiền bạc trước mắt. Tôi bèn đưa Arowhena về vùng Somersetshire, nơi mẹ và các chị em gái tôi từng sinh sống vào lần cuối cùng tôi nhận được tin tức về họ. Đến mức đau đớn khôn nguôi, tôi bàng hoàng phát hiện ra mẹ tôi đã qua đời, và cái chết của bà phần nào bị đẩy nhanh hơn bởi tin tức cho rằng tôi đã thiệt mạng – thứ tin đồn do chính Chowbok mang đến trạm của cấp trên tôi. Hóa ra hắn đã nán lại vài ngày xem tôi có quay về hay không, rồi sau đó cho rằng việc quả quyết tôi sẽ chẳng bao giờ trở lại là an toàn, từ đó bịa ra câu chuyện tôi ngã vào dòng nước cuồn cuộn xoáy tròn khi đang vượt qua khe núi trên đường về nhà. Người ta đã tổ chức tìm kiếm thi thể tôi, nhưng gã tiểu nhân ấy lại chọn cách nhấn chìm tôi ở một nơi mà chẳng đời nào vớt lên được.

Cả hai người chị em gái của tôi đều đã kết hôn, nhưng chồng của họ chẳng mấy ai khá giả. Chẳng có lấy một ai tỏ ra quá đỗi vui mừng trước sự trở lại của tôi; và tôi sớm nhận ra rằng, khi họ hàng của một người từng tiếc thương anh ta như đã chết, họ hiếm khi mặn mà với viễn cảnh phải khóc thương anh ta thêm một lần nữa.

Bởi thế, tôi trở lại Luân Đôn cùng vợ, và nhờ sự giúp đỡ của một người bạn cũ, tôi tự trang trải cuộc sống bằng cách viết những mẩu truyện ngắn ý nghĩa cho các tạp chí cùng một hội truyền đạo. Tiền thù lao khá hậu hĩnh; và tôi hy vọng mình không bị coi là tự mãn khi nói rằng vài trong số những ấn phẩm phổ biến nhất được phát phát trên đường phố hay bày biện trong các phòng đợi nhà ga đều xuất hiện dưới ngòi bút của tôi. Trong khoảng thời gian rảnh rỗi, tôi sắp xếp lại các ghi chép và nhật ký cho đến khi chúng mang hình hài như hiện tại. Chẳng còn điều gì để tôi phải viết thêm, ngoại trừ việc bày tỏ kế hoạch mà tôi dự định thực hiện nhằm cải đạo xứ sở Erewhon.

Kế hoạch ấy chỉ vừa mới được quyết định gần đây như là phương án có nhiều khả năng thành công nhất.

Ai nấy sẽ nhận ra ngay rằng thật là điên rồ nếu tôi cùng mười hay mười hai nhà truyền giáo cấp dưới bước đi trên cùng con đường từng dẫn tôi đến với phát hiện về Erewhon. Tôi sẽ bị tống giam vì tội phát tán bệnh thương hàn, chưa kể còn bị giao cho đám người chuyên chỉnhốn thần kinh vì tội dám mang Arowhena bỏ trốn; và một số phận thậm chí còn tăm tối hơn, thứ mà tôi hầu như không dám nhắc lại lần nữa, đang chờ đợi những người đồng cam cộng khổ tận tụy của tôi. Rõ ràng là phải tìm ra một lối đi khác để tiếp cận người dân Erewhon, và tôi vô cùng tạ ơn vì con đường ấy hoàn toàn không thiếu. Một trong những dòng sông bắt nguồn từ Dãy Núi Tuyết và chảy xuyên qua Erewhon được biết là có thể cho tàu bè qua lại suốt hàng trăm dặm tính từ cửa sông. Thượng nguồn của nó cho đến nay vẫn chưa từng được thám hiểm, nhưng tôi mang lòng tin chắc rằng chúng ta hoàn toàn có thể đưa một chiếc pháo hạm hạng nhẹ (bởi ta phải tự bảo vệ lấy mình) tiến đến vùng ngoại vi của đất nước Erewhon.

Do đó, tôi đề xuất thành lập một loại hình công ty cổ phần trong đó rủi ro của mỗi thành viên chỉ giới hạn ở mức vốn góp của họ vào doanh nghiệp. Bước đầu tiên là soạn thảo một bản cáo bạch. Trong đó, tôi khuyên rằng tuyệt đối không nên đả động gì đến chi tiết người Erewhon chính là những chi tộc lưu lạc. Phát hiện này mang lại niềm hứng thú say mê cho riêng tôi, nhưng nó mang giá trị tinh thần nhiều hơn là thương mại, mà kinh doanh là phải ra kinh doanh. Số vốn cần huy động không được ít hơn năm mươi nghìn bảng, và có thể chia thành cổ phần trị giá năm hoặc mười bảng tùy theo quyết định sau này. Khoản tiền này chắc chắn sẽ vô cùng dư dả cho các chi phí của một chuyến hải trình thử nghiệm.

Khi tiền đã được quyên góp đủ, nhiệm vụ của chúng ta là thuê một chiếc tàu hơi nước tải trọng khoảng mười hai đến mười bốn trăm tấn, có đủ chỗ ở cho một lượng hành khách đi khoang thường. Tàu phải mang theo hai hoặc ba khẩu pháo phòng khi bị thổ dân tấn công tại cửa sông. Những chiếc thuyền lớn cũng cần phải được trang bị đầy đủ, và tôi thiết nghĩ cũng nên để chúng mang theo hai hoặc ba khẩu pháo sáu pa-vơ. Con tàu sẽ được lái ngược dòng sâu đến mức được cho là an toàn, và một nhóm được tuyển chọn kỹ lưỡng sau đó sẽ tiếp tục xuôi ngược bằng thuyền nhỏ. Sự hiện diện của cả Arowhena lẫn tôi là điều vô cùng cần thiết trong giai đoạn này, bởi sự am hiểu của chúng tôi về ngôn ngữ bản địa sẽ làm dịu đi mọi mối nghi ngờ và tạo thuận lợi cho các cuộc đàm phán.

Chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách bày tỏ những lợi ích dành cho lao động tại thuộc địa Queensland, đồng thời chỉ ra cho người Erewhon thấy rằng bằng cách di cư đến đó, tất cả bọn họ đều có thể tích lũy được những gia tài kếch xù – một thực tế dễ dàng chứng minh qua số liệu thống kê. Tôi chắc chắn rằng rất đông người có thể qua đó mà bị thuyết phục đi cùng chúng ta trên những chiếc thuyền lớn, và chúng ta có thể lấp đầy tàu của mình bằng những người di cư chỉ sau ba hoặc bốn chuyến đi.

Nếu chúng ta bị tấn công, đường lối xử lý thậm chí còn đơn giản hơn nhiều, bởi người Erewhon chẳng có thuốc súng, và họ sẽ bàng hoàng trước uy lực của nó đến mức chúng ta có thể bắt sống bao nhiêu tùy ý; trong trường hợp này, chúng ta sẽ nắm quyền chủ động ép họ giao ước theo những điều kiện có lợi hơn, vì họ lúc bấy giờ chỉ là tù binh chiến tranh. Nhưng ngay cả khi không vấp phải bất kỳ sự kháng cự bạo lực nào, tôi tin chắc rằng một chuyến hải trình chở bảy, tám trăm người Erewhon hoàn toàn có thể bị thuyết phục ký kết một bản thỏa thuận mang lại lợi ích song phương cho cả đôi bên một khi họ đã bước lên tàu.

Sau đó, chúng ta sẽ tiến thẳng đến Queensland và chuyển nhượng hợp đồng lao động của người Erewhon cho các chủ đồn điền mía ở xứ đó, những người đang khao khát nhân công; người ta tin rằng số tiền thu về từ thương vụ này sẽ cho phép chúng ta công bố mức cổ tức hậu hĩnh, đồng thời để dư ra một khoản đáng kể có thể được dùng để tiếp tục lặp lại các chuyến đi nhằm đưa thêm những nhóm người Erewhon khác sang, kèm theo đó là nguồn lợi nhuận kế tiếp. Trên thực tế, chúng ta có thể tiến hành qua lại chừng nào nhu cầu về nhân công ở Queensland, hay thậm chí ở bất kỳ thuộc địa Thiên Chúa giáo nào khác vẫn còn, bởi nguồn cung người Erewhon là vô tận và họ hoàn toàn có thể được xếp chặt trên tàu rồi nuôi dưỡng với chi phí vô cùng phải chăng.

Đó sẽ là nhiệm vụ của tôi và Arowhena trong việc đảm bảo những người di cư của chúng ta được sắp xếp ăn ở trong các gia đình chủ đồn điền theo đạo; những con người ấy sẽ trao cho họ ơn ích của sự giáo huấn mà họ đang vô cùng khát khao thiếu thốn. Mỗi ngày, ngay khi vừa rảnh rỗi khỏi công việc trên các cánh đồng, họ sẽ được tập hợp lại để hát thánh ca, đồng thời được dạy dỗ căn bản kỹ lưỡng về Sách Giáo Lý của Giáo Hội, trong khi toàn bộ ngày Sa-bát sẽ dành trọn cho việc ngâm vịnh thánh ca và đi lễ nhà thờ.

Điều này phải được tuân thủ nghiêm ngặt, cả nhằm dập tắt bất kỳ sự bất an nào có thể nảy sinh ở Queensland hay tại chính quốc liên quan đến phương thức mà người Erewhon có được, lẫn vì nó sẽ mang lại cho các cổ đông của chúng ta sự an ủi khi nghĩ rằng họ vừa đang cứu rỗi những linh hồn vừa làm đầy túi tiền của chính mình cùng một thời điểm. Đến khi những người di cư già yếu không còn làm nổi việc nữa, họ cũng đã thấm nhuần trọn vẹn tôn giáo; khi ấy họ có thể được đưa trở lại Erewhon bằng tàu thủy và mang theo hạt giống lành bên mình.

Tôi chẳng thấy có chút trở ngại hay khó khăn nào trong vấn đề này, và tin rằng cuốn sách này sẽ quảng bá đầy đủ cho kế hoạch nhằm đảm bảo việc quyên góp đủ số vốn cần thiết; ngay khi nguồn vốn ấy xuất hiện, tôi xin cam đoan sẽ biến những người Erewhon không chỉ thành những tín điều Thiên Chúa giáo tốt lành mà còn thành một nguồn lợi nhuận đáng kể cho các cổ đông.

Tôi cũng xin nói thêm rằng tôi không dám nhận công lao là kẻ khởi xướng kế hoạch kể trên. Tôi đã cạn kiệt tâm trí suốt nhiều tháng trời, vạch ra hết kế hoạch này đến kế hoạch khác nhằm truyền giáo cho xứ Erewhon, thì bấy giờ, nhờ một trong những sự quan phòng đặc biệt vốn dĩ là câu trả lời xác đáng nhất dành cho những kẻ hoài nghi và khiến ngay cả những người theo chủ nghĩa duy lý kiên định nhất cũng phải phi lý, ánh mắt tôi bỗng hướng về đoạn trích đăng trên tờ báo Times vào những ngày đầu tháng Giêng năm 1872:

“NGƯỜI POLYNESIA TẠI QUEENSLAND.—Hầu tước xứ Normanby, vị Toàn quyền mới của Queensland, đã hoàn thành chuyến thanh tra các khu vực phía bắc thuộc địa. Người ta cho rằng tại Mackay, một trong những vùng trồng mía trĩu quả nhất, Ngài Toàn quyền đã có dịp tiếp xúc sâu sát với người Polynesia. Trong bài phát biểu trước những người đã tiếp đón ngài tại đó, vị Hầu tước phát biểu rằng:—‘Tôi từng được nghe kể rằng những phương thức dùng để chiêu mộ người Polynesia không hề hợp pháp, nhưng tôi chẳng hề nhận thấy điều đó, ít nhất là tại Queensland; và nếu có thể phán đoán qua nét mặt lẫn cung cách của người Polynesia, họ chẳng hề tỏ chút hối tiếc nào đối với vị thế hiện tại của mình.’ Dù vậy, Ngài Toàn quyền cũng chỉ ra lợi ích của việc ban phát nền giáo dục tôn giáo cho họ. Điều này sẽ góp phần dập tắt nỗi bận tâm đang tồn tại trong nước khi biết rằng họ có xu hướng giữ lại người Polynesia và dạy dỗ họ theo tôn giáo.”

Tôi cảm thấy những lời bình luận là hoàn toàn thừa thãi, và do đó xin khép lại bằng một lời cảm ơn gửi đến vị độc giả nào đã kiên nhẫn dõi theo tôi qua những cuộc phiêu lưu mà không nổi giận; nhưng sẽ có hai lời cảm ơn dành cho bất kỳ ai viết thư ngay cho Thư ký của Công ty Truyền giáo Erewhon, TNHH (theo địa chỉ sẽ được thông cáo sau), và yêu cầu đưa tên mình vào danh sách cổ đông.

T.S.—Tôi vừa nhận và chỉnh sửa bản in thử cuối cùng của tập sách trên, rồi đang rảo bước dọc theo con phố Strand từ Temple Bar đến Charing Cross, thì lúc đi ngang qua Tòa nhà Exeter, tôi nhìn thấy một đám đông những con người mang vẻ mặt thành kính đang đổ xô vào trong với nét mặt tràn ngập sự chờ mong đầy hứng thú và thỏa mãn. Tôi dừng chân lại, và đọc được thông báo rằng một cuộc họp truyền giáo sắp được tổ chức ngay tại đây, đồng thời nhà truyền giáo bản địa, Mục sư William Habakkuk, đến từ——(thuộc địa nơi tôi bắt đầu cuộc phiêu lưu của mình), sẽ ra mắt và có một bài phát biểu ngắn. Sau đôi chút khó khăn, tôi cuối cùng cũng lọt được vào trong và lắng nghe hai hoặc ba bài phát biểu mang tính chất mở đầu trước khi Mục sư Habakkuk xuất hiện. Một trong số đó gây ấn tượng với tôi là bài phát biểu có lẽ kiêu ngạo nhất mà tôi từng được nghe. Di giả ấy nói rằng những tộc người mà Mục sư Habakkuk là một đại diện rất có thể chính là mười chi tộc lưu lạc của Israel. Lúc ấy tôi không dám phản bác, nhưng trong lòng trào dâng sự tức giận và uất ức khi nghe kẻ diễn thuyết vội vã đi đến một kết luận lố bịch đến thế dựa trên những căn cứ thiếu thốn nhường ấy. Phát hiện về mười chi tộc lưu lạc ấy là của tôi, và chỉ một mình tôi mà thôi.

Nỗi phẫn nộ trong tôi hãy còn hừng hực thì bỗng vang lên những tiếng xì xào đầy kỳ vọng trong hội trường, và Mục sư Habakkuk được dẫn lên sân khấu. Độc giả có thể hình dung được sự kinh ngạc của tôi khi nhận ra ngài chẳng phải ai khác ngoài người quen cũ Chowbok của tôi!

Cằm tôi trễ xuống, và hai mắt suýt trợn ngược ra ngoài vì quá đỗi bàng hoàng. Gã tội nghiệp sợ đến mất mật, và tràng pháo tay như sấm dậy chào mừng sự xuất hiện của hắn dường như chỉ càng làm hắn thêm phần lúng túng. Tôi không dám mạo hiểm thuật lại bài phát biểu của hắn – quả thực tôi hầu như chẳng thể nghe nổi, bởi cổ họng nghẹn đắng vì cố nén lại những cảm xúc đang chực trào. Tôi dám chắc mình đã bắt được mấy từ “Adelaide, Nữ vương Thái hậu”, và tưởng chừng như nghe thấy cả “Ma-ri Ma-đê-len” ngay sau đó, nhưng rồi tôi buộc phải rời khỏi hội trường vì sợ bị đuổi cổ ra ngoài. Lúc đang ở trên cầu thang, tôi lại nghe thêm một tràng pháo tay vang dội kéo dài đầy nhiệt thành, thế nên tôi đoán là cử tọa đã hoàn toàn mãn nguyện.

Những cảm xúc dâng trào mạnh mẽ trong tôi khi ấy chẳng có chút gì gọi là trang nghiêm cho cam, nhưng tôi lại nhớ về buổi đầu quen biết Chowbok, nhớ lại cảnh tượng trong căn nhà kho chứa củi, nhớ vô số lời dối trá mà hắn từng thốt ra với tôi, những lần hắn cố tình nhòm ngó chai brandy, cùng biết bao sự kiện mà tôi thấy chẳng đáng để bận tâm nhắc lại; và tôi không sao kìm được cảm giác thỏa mãn le lói từ niềm hy vọng rằng những nỗ lực của chính tôi có lẽ đã góp phần tạo nên sự đổi thay chắc chắn đã diễn ra nơi hắn, và nghi thức mà tôi từng cử hành, dẫu chẳng ra dáng chuyên nghiệp cho lắm trên lòng sông cao nguyên hoang dã ấy, rốt cuộc đã không hoàn toàn trở thành vô ích. Tôi hy vọng những gì mình viết về hắn trong phần đầu của cuốn sách sẽ không cấu thành tội phỉ báng, và nó sẽ không mang lại điều bất trắc gì cho công việc của hắn với các chủ nhân hiện tại. Hắn khi ấy vẫn chưa được cứu rỗi. Tôi nhất định phải tìm cho ra hắn và trò chuyện một phen; nhưng trước khi tôi kịp làm điều đó thì những trang sách này đã nằm trong tay công chúng.

* * * * *

Vào khoảnh khắc cuối cùng, tôi nhận thấy nguy cơ xảy ra một rắc rối khiến tôi vô cùng bất an. Xin hãy nhanh chóng đóng góp cổ phần. Xin gửi thư về Phủ Thị trưởng, thông qua Ngài Thị trưởng, người mà tôi sẽ ủy thác để tiếp nhận tên tuổi và tiền quyên góp cho tôi cho đến khi tôi có thể tổ chức được một ủy ban.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Samuel Butler

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.