Ở cuối bài giảng trước, tôi đã đặt ra câu hỏi về Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa. Kỳ thực, vẫn còn rất nhiều vấn đề xoay quanh hai nhân vật này, chẳng hạn có bạn độc giả Hồng mê hỏi tôi, khối tài sản lớn của Lâm Như Hải, sao Lâm Đại Ngọc lại không thừa kế được? Lại có bạn độc giả Hồng mê hỏi, số phận sau này của Tiết Bảo Thoa dường như vẫn có liên quan đến Giả Vũ Thôn, có thật vậy không? Đối mặt với chừng ấy câu hỏi, tôi thấy vẫn nên thảo luận những vấn đề lớn trước, mà vấn đề lớn ấy chính là: Tổng thể mà nói, đối với hai nhân vật Đại Ngọc và Bảo Thoa, chúng ta nên có sự đánh giá như thế nào? Tào Tuyết Cần xây dựng họ rõ ràng có dụng ý đối lập rõ rệt, thế thì sao lại có thiết kế nghệ thuật Đại Ngọc - Bảo Thoa hợp nhất?
Về mặt tư tưởng, Lâm Đại Ngọc không đồng tình với các giá trị quan chủ đạo của xã hội phong kiến, nàng chưa từng khuyên Giả Bảo Ngọc đọc sách thánh hiền để mưu cầu công danh, tính cách của bản thân chẳng những không thu liễm mà lại còn rất phóng khoáng, trương dương; còn Tiết Bảo Thoa thì sao? Quả thực là một lòng hùa theo các giá trị quan chủ đạo của xã hội phong kiến, trước mặt các bậc trưởng bối phong kiến lại càng biết cách thu liễm cá tính, đi đến đâu cũng khéo léo lấy lòng, luôn luôn khuyên Giả Bảo Ngọc đi theo "con đường chính đạo" là "kinh tế mưu sĩ". Từ giữa thập niên năm mươi của thế kỷ trước trở đi, nhận thức về Đại Ngọc và Bảo Thoa như thế được coi là đã nắm bắt được bản chất, và đã trở thành nhận thức chung của mọi người. Các bài luận bàn về phương diện này rất nhiều, tôi không lặp lại ví dụ nữa.
Trước thập niên năm mươi của thế kỷ trước, có những nhà Hồng học hoàn toàn xuất phát từ cảm ngộ thẩm mỹ của bản thân, cảm thấy Đại Ngọc và Bảo Thoa giống như hai ngọn núi sừng sững song lập, hai dòng nước chia dòng, mỗi người hiện lên một vẻ đẹp, mỗi người đạt đến một cái hay riêng, từ đó đưa ra quan điểm Đại Ngọc - Bảo Thoa hợp nhất. Có những độc giả, dĩ nhiên chủ yếu là độc giả nam, thì thưởng thức cả Đại Ngọc lẫn Bảo Thoa, cho rằng nếu lấy vợ được như Bảo Thoa, kết bạn được như Đại Ngọc thì đúng là đời người có phúc lớn. Điều này thực tế cũng hình thành sẵn trong ý thức một cục diện Đại Ngọc - Bảo Thoa hợp nhất. Lại có một số độc giả, cả nam lẫn nữ, họ thích Bảo Thoa hơn, cảm thấy đó mới là người phụ nữ lý tưởng; còn Đại Ngọc ư? Thân thể không tốt, có bệnh, hơn nữa rất có thể là bệnh lao, một loại bệnh có tính lây nhiễm rất cao. Cái đó tạm thời không bàn tới đi, nhưng tính cách ấy chứ, hẹp hòi, ăn nói chua ngoa cay độc, miệng dao găm nhưng chưa chắc đã là lòng Phật. Chẳng hạn nàng hình dung Lưu bà bà là "mẹ châu chấu", tuy không phải nói trước mặt Lưu bà bà, nhưng sau lưng thì thầm bàn tán như thế, đặc biệt là sự bôi nhọ, hạ thấp lại là một người nông dân, tấm lòng thật sự không hề hậu đạo chút nào. Biểu hiện này dù thế nào đi nữa cũng không thể quy vào phạm "chống phong kiến" được, có thể nói là đã bộc lộ hoàn toàn sự ưu việt của tiểu thư quý tộc, rất không nên chút nào!
Đem sự khác biệt về tư tưởng giữa Đại Ngọc và Bảo Thoa ra soi chiếu bằng quan điểm hiện đại, dĩ nhiên là một cách đọc rất hay đối với "Hồng Lâu Mộng". Đọc theo cách này tức là đem "Hồng Lâu Mộng" ra xem như một tác phẩm tiến bộ mang tư tưởng chính thống chống phong kiến, từ đó thu nhận được giá trị nhận thức to lớn. Thông qua hai hình tượng nghệ thuật Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, người ta còn có thể phân tích ra rằng Tào Tuyết Cần đang cố gắng thể hiện những đặc tính mới của xã hội ở họ, từ đó cũng có thể dành cho chính bản thân Tào Tuyết Cần sự đánh giá rất cao. Nghĩa là, vị tác giả này vô cùng xuất chúng, ông đã xây dựng nên những hình tượng điển hình mang tính tiến bộ, trong một thời đại tăm tối như thế mà lại có thể vẽ ra một tia chớp, chiếu sáng con đường tiến lên của lịch sử.
Đến tận ngày nay, người ta đọc "Hồng Lâu Mộng" hình như đã chẳng còn vướng bận khuôn khổ xiềng xích nào nữa, đối với hai hình tượng Đại Ngọc và Bảo Thoa, giữ quan điểm gì, ôm thái độ gì cũng có cả. Cá nhân tôi thấy rằng, lấy ý thức hiện đại làm tọa độ, vạch trần sự khác biệt về tư tưởng giữa Đại Ngọc và Bảo Thoa, chỉ ra rằng dòng chủ lưu của hình tượng Đại Ngọc là chống phong kiến, mang ý nghĩa tiến bộ; đồng thời chỉ ra hình tượng Bảo Thoa là thuận theo phong kiến, mang tính tiêu cực, thì vẫn hoàn toàn đứng vững được. Điều này đối với việc chúng ta đọc và hiểu "Hồng Lâu Mộng" vẫn vô cùng có lợi.
Tôi đọc "Hồng Lâu Mộng", thấy rằng sự khác biệt tư tưởng giữa Đại Ngọc và Bảo Thoa không phải ngẫu nhiên mà Tào Tuyết Cần viết thành như vậy. Cho rằng Đại Ngọc và Bảo Thoa chỉ có sự khác biệt về tính cách mà không có sự khác biệt về tư tưởng, điều đó không phù hợp với tình hình thực tế của văn bản "Hồng Lâu Mộng". Thế nhưng, Đại Ngọc - Bảo Thoa hợp nhất lại quả thực là một thiết kế tổng thể của Tào Tuyết Cần khi viết về hai nhân vật này, đây không phải vì tôi muốn phản đối việc dùng quan điểm hiện đại để phân tích hai hình tượng nghệ thuật Đại Ngọc - Bảo Thoa mà cố tình đến để tranh chấp.
Bên trên đã nói rất chi tiết, hồi thứ năm viết về Chính mộc Kim Lăng thập nhị thoa, trang đầu tiên là một bức tranh, một bài thơ, rõ ràng chính là Đại Ngọc - Bảo Thoa hợp nhất. Khúc "Chung thân lầm" trong "Hồng Lâu Mộng thập nhị chi khúc" dùng khẩu khí của Bảo Ngọc để ca thán, nhưng cũng rõ ràng là đem Đại Ngọc và Bảo Thoa gộp lại để nói. Sau đó, Tẻ Huyễn tiên cô đem em gái mình giới thiệu cho Bảo Ngọc, viết rõ người con gái đó là: tươi tắn yểu điệu, có vẻ giống Bảo Thoa; phong lưu uyển chuyển, thì lại giống Đại Ngọc; hơn nữa, nhũ danh của người đẹp ấy lại vừa hay gọi là Kiêm Mỹ, tự là Khả Khanh. Quý vị xem, rõ ràng phần sau sẽ viết về rất nhiều tư tưởng ý thức khác nhau, biểu hiện khác nhau của hai người Đại Ngọc và Bảo Thoa, thế nhưng Tào Tuyết Cần trong văn bản lại có thiết kế tổng thể đối với hai nhân vật này như thế đấy, ông chính là hợp nhất, chính là kiêm mỹ. Bí ẩn này, chẳng lẽ không nên giải mã nó hay sao?
Giáp Ngũ Trai, tôi cho rằng là người cộng tác của Tào Tuyết Cần, cũng đồng tình rằng nguyên mẫu đời thực của nhân vật này là một người biểu muội mang họ Lý của Tào Tuyết Cần, còn trong truyện, cô được xây dựng thành hình tượng nghệ thuật Sử Tương Vân. Cô phê bình sách, là đã chỉ ra rất rõ ràng, nói rằng: Thoa, Ngọc tên tuy hai, người vốn một thân, đây là bút pháp ảo vậy. Dĩ nhiên, cho dù Giáp Ngũ Trai quả thực là người cộng tác thân thiết của Tào Tuyết Cần đi nữa, cô cũng chưa chắc đã hoàn toàn lĩnh hội được chiều cao tư tưởng của Tào Tuyết Cần; việc cô tiết lộ tình tiết sau hồi tám mươi, việc cô phân tích thủ pháp nghệ thuật của Tào Tuyết Cần, giá trị tham khảo lớn hơn sự phân tích của cô về tính tư tưởng của tác phẩm. Tôi vẫn kiên trì cho rằng, Tào Tuyết Cần viết hai hình tượng nghệ thuật Đại Ngọc và Bảo Thoa là có ý đồ khắc họa sự khác biệt về tư tưởng và hành vi của họ. Dĩ nhiên, ông không phải viết một người hoàn toàn theo hướng tích cực, một người hoàn toàn theo hướng tiêu cực; ông viết ra sự phức tạp trong tính cách của từng người, sự quỷ dị của nhân tính, thứ ông viết ra không phải là khái niệm khẳng định hay phủ định, mà là sự tồn tại sinh mệnh sống động tươi mới. Nhưng dù thế nào đi nữa, đối với việc Tiết Bảo Thoa khuyên Giả Bảo Ngọc đọc sách "cầu tiến", ông mang thái độ phủ định rõ ràng; đối với việc Lâm Đại Ngọc không màng công danh lợi ích, ông kiên quyết khẳng định và biểu dương. Đặc biệt là ở hồi thứ ba mươi sáu, ông mượn lời Giả Bảo Ngọc để phê phán Tiết Bảo Thoa, ngòi bút không chút nương tay, mọi người còn nhớ ông viết thế nào chứ: "Đường đường là một vị tiểu thư trong sạch thanh khiết, cũng học theo thói hư danh trục lợi, bước vào hàng ngũ lộc quỷ quốc tặc! Đây toàn là do người đời trước sinh sự vô cớ, đặt lời lập nghĩa, vốn là để dẫn dắt những thứ đục ngầu mày râu đời sau, không ngờ ta sinh ra bất hạnh, lại để cho chốn khuê phòng lầu thêu cũng nhiễm phải thói này, thật sự phụ ơn trời đất dung dưỡng hun đúc nên vẻ đẹp tinh hoa!" Cha mẹ ơi, thiếu chút nữa là muốn khai trừ Tiết Bảo Thoa khỏi hàng ngũ cốt nhục làm bằng nước, quy vào hàng ngũ những thứ đục ngầu mày râu cốt nhục làm bằng bùn luôn rồi! Hơn nữa còn viết rất trực diện rằng, chỉ có Lâm Đại Ngọc từ nhỏ chưa từng khuyên hắn lập thân dương danh, cho nên rất kính trọng Đại Ngọc.
Nếu nguyên mẫu của Giáp Ngũ Trai thực sự là Sử Tương Vân, không biết cô khi đọc cách Tào Tuyết Cần viết về cuộc đối thoại giữa Tương và Bảo trong hồi thứ ba mươi hai, rốt cuộc sẽ có cảm tưởng gì? Đoạn tình tiết đó còn nhớ chứ? Giả Vũ Thôn chạy đến bái kiến Giả Chính, lại muốn gặp Bảo Ngọc, Bảo Ngọc đành phải đi. Sử Tương Vân thấy hắn ấm ức không vui, liền khuyên hắn, anh đã không muốn đi thi cử nhân tiến sĩ, thì cũng nên thường xuyên gặp gỡ những kẻ làm quan tể tướng ấy, bàn luận học vấn kinh tế quan trường, để sau này còn xã giao sự việc, mai sau cũng có thêm người bạn bè, chứ nào thấy anh quanh quẩn mãi trong đám tụi em làm gì! Xin mọi người chú ý, thực ra trong tám mươi hồi đầu, sách không hề viết rõ việc Tiết Bảo Thoa khuyên can Giả Bảo Ngọc, trái lại còn viết rất cụ thể chuyện Sử Tương Vân khuyên can Giả Bảo Ngọc như thế đấy. Còn Giả Bảo Ngọc thì sao, chẳng khách khí chút nào mà bảo Sử Tương Vân đi đi, rằng ta ở đây sợ làm vấy bẩn học vấn kinh tế của em. Khi Tập Nhân bảo Sử Tương Vân rằng Tiết Bảo Thoa vì chuyện này cũng từng vấp phải cục súp lơ, vô cùng khó xử, may mà là Bảo cô nương vấp phải, chứ đổi lại là Lâm cô nương, không biết sẽ khóc lóc làm ầm lên thế nào nữa. Bảo Ngọc liền bảo rằng, Lâm cô nương xưa nay chưa từng nói mấy lời hỗn xược ấy, nếu nàng cũng nói những lời hỗn xược ấy, ta sớm đã tuyệt giao với nàng rồi! Tuyệt giao, chính là lúc còn sống đã chia tay, đoạn tuyệt quan hệ. Những câu chữ này rất khó đưa ra lời giải thích nào khác, chẳng hạn như Bảo Ngọc không thực sự yêu Đại Ngọc, tình cảm của cậu dành cho Đại Ngọc chủ yếu là thương xót, đồng tình cảnh ngộ ăn nhờ ở đậu, ốm yếu nhiều bệnh của Đại Ngọc mà thôi; cũng rất khó rút ra kết luận từ cách miêu tả như vậy rằng trong tám mươi hồi đầu, người Bảo Ngọc thực sự yêu là Sử Tương Vân. Giáp Ngũ Trai ở hồi thứ ba mươi hai, khi viết đến đoạn Bảo Ngọc gọi những lời đó là "lời hỗn xược", liền có một lời phê của Giáp Ngũ Trai rằng: Viết hết cái tính ngây thơ của Bảo Ngọc, thật đáng cười lớn một trận! Cô ấy thế mà lại chỉ cảm thấy đó là viết về tính cách của Bảo Ngọc mà thôi, dường như không hề nhận thức được rằng, đây là đang viết về tư tưởng của nhân vật Bảo Ngọc, một tư tưởng vô cùng quan trọng!
Thế nhưng, đoạn văn ở hồi thứ ba mươi sáu mà tôi vừa trích dẫn bên trên, chính là đoạn Bảo Ngọc căm giận chuyện lập thân dương danh lại đi làm vấy bẩn chốn khuê phòng. Ngay bên dưới đoạn văn đó viết tiếp rằng, Bảo Ngọc không chỉ có ngôn luận mà còn có hành động, hắn vạ lây đến cả người cổ đại, ngoài Tứ thư ra, tiện tay đốt luôn cả những sách khác. Ở chỗ này xuất hiện một lời phê của Giáp Ngũ Trai, rằng: Bảo Ngọc tâm tư thế nào, tác giả ý kiến thế nào, đoạn văn này bút mực thế nào! Khen ngợi có thể nói là thêm phần thán phục. Tôi thấy, điều này cho thấy Giáp Ngũ Trai đối với tư tưởng mà Tào Tuyết Cần gửi gắm trong "Hồng Lâu Mộng" vẫn có sự thấu hiểu nhất định. Cô hiểu rằng Tào Tuyết Cần viết một Giả Bảo Ngọc, một Lâm Đại Ngọc, hai người không sinh tồn dưới sự chỉ đạo của những "lời hỗn xược" ấy là đi ngược đạo kinh, không phải chuyện đùa. Cô cũng dung thứ việc Tào Tuyết Cần lấy cô làm nguyên mẫu, trong tám mươi hồi đầu viết ra một Sử Tương Vân thực ra hoàn toàn không hiểu kinh tế quan trường, chỉ đi học theo lời của những người như nguyên mẫu Tiết Bảo Thoa mà gặp phải tình huống trớ trêu.
Nói rằng hai hình tượng nghệ thuật Đại Ngọc và Bảo Thoa có sự khác biệt rõ rệt về tư tưởng hành vi; hơn nữa về mặt bản chất, một người là kẻ phản nghệ của lễ giáo phong kiến, một người là trung thần của lễ giáo phong kiến, đối lập vô cùng gay gắt, lập luận như vậy tôi đại trí là đồng tình. Nhưng ấn tượng sau khi đọc của tôi là, trong tám mươi hồi đầu, sự khác biệt tư tưởng hay nói cách khác là sự đối lập về bản chất giữa hai người này đều mang tính khúc xạ, hai người chưa từng tạo ra dù chỉ là một lần xung đột chính diện nào về mặt đại nghĩa thị phi lớn lao như thế. Xung đột chính diện của họ đều biểu hiện ở những trận giáp lá cà bùng nổ vì tình cảm dành cho Bảo Ngọc. Lâm Đại Ngọc là bậc thầy chua ngoa, không biết quý vị cho rằng trong sách, câu nói nào của Đại Ngọc đối với Bảo Thoa là chua ngoa nhất? Tôi cho rằng, đó là ở hồi thứ ba mươi tư, sau khi Bảo Ngọc bị ăn đòn, bản thân Đại Ngọc vì xót ruột cho Bảo Ngọc mà đôi mắt khóc sưng lên như quả đào, thế nhưng sau đó, nàng đứng dưới bóng hoa, nhìn thấy Bảo Thoa đi qua, phát hiện trên mắt người ta có vết tích khóc lóc, liền mỉm cười châm chọc rằng: Chị cũng tự bảo trọng cái thân thế chứ, có khóc ra hai vại nước mắt đi chăng nữa, cũng chữa không khỏi thương tích đòn roi đâu! Quý vị nghe xem, đây là lời gì thế này? Chỉ cho phép mắt mình khóc đỏ như quả đào hồng, không cho phép mắt người ta vương vết lệ, thốt ra những lời quái gở cay độc thế này, sự va chạm thế này e rằng không thể gọi là mang tư tưởng chống phong kiến để nổ súng vào tư tưởng trung thành với phong kiến được chứ? Cho dù Đại Ngọc cô theo đuổi tự do hôn nhân tình yêu, sợ Bảo Ngọc bị tà thuyết "kim ngọc lương duyên" cuỗm đi mất, "giường ngủ kề bên, há dung cho kẻ khác ngáy ngủ", thì cũng không đến nỗi phải thốt ra những lời cay nghiệt tổn thương người khác như thế chứ!
Bảo Thoa vào thời khắc quan trọng cũng tuyệt đối không phải dạng vừa. Lần đối đáp nào của Bảo Thoa với Đại Ngọc trong sách là dữ dội nhất? Không biết suy nghĩ của quý vị có tình cờ ăn khớp với tôi không? Tôi cho rằng đó là ở hồi thứ ba mươi, Đại Ngọc hỏi Bảo Thoa rằng trong tiệc sinh nhật của anh trai, chị đã xem mấy vở kịch gì, Tiết Bảo Thoa liền cố tình nói rằng: Tôi xem vở Lý Quỳ mắng Tống Giang, đoạn sau lại xin lỗi. Bảo Ngọc ở bên cạnh liền nói, vở kịch này gọi là "Phát tội chịu đòn" mà — Bảo Thoa liền dứt khoát chĩa mũi nhọn vào cả hai người Đại Ngọc và Bảo Ngọc, hầm hầm tức giận nói: Hóa ra cái này gọi là phát tội chịu đòn, hai người thông kim bác cổ mới biết thế nào là phát tội chịu đòn, tôi thì chẳng biết thế nào là phát tội chịu đòn cả! Mấy câu nói khiến hai chữ Ngọc đỏ mặt không nói nên lời, cho nên mới nói Bảo Thoa cũng không phải cứ mãi giả ngu giữ vụ thả trôi, ôn hòa đôn hậu đâu, nàng mà nổi giận lôi đình lên thì cũng đủ chua ngoa cay độc đấy chứ. Thế nhưng, cuộc xung đột chính diện này chỉ có thể coi là xung đột tình cảm trong mối tình tay ba, rất khó nói đó là nàng dùng một cỗ lễ giáo phong kiến kiên trì để đả kích tư tưởng đi ngược đạo kinh của hai chữ Ngọc. Xét riêng về mặt tình tiết này, tôi cảm thấy quả thực không thể phân tích ra cái hàm ý như thế được.
Đến hồi thứ bốn mươi hai, hồi này viết rằng, vì Đại Ngọc lúc chơi thẻ ngà trước đó đã dùng những câu thơ trong "Tây sương ký", "Mẫu đơn đình" trong lệnh thẻ ngà, Bảo Thoa liền muốn tra khảo nàng. Chơi thẻ ngà mà thốt ra những câu lệnh như thế là phạm phải đại kỵ. Những người khác có nghe ra hay không thì không được biết, có lẽ là không nghe ra, hoặc cho rằng chẳng qua chỉ là hai câu trích đoạn kịch. Nam nữ thanh niên trong các gia đình quý tộc phong kiến thời đại đó xem kịch "Tây sương ký", "Mẫu đơn đình" thì không bị coi là vượt rào, nhưng đọc những cuốn sách như thế lại bị coi là hành vi hạ tiện. Mười bài thơ đố đèn mang đề tài hoài cổ do Tiết Bảo Cầm sáng tác, hai bài cuối dính dáng đến "Hội chân ký" và "Mẫu đơn đình", Tiết Bảo Thoa liền "giả ngu tùy chỗ", nói rằng: Tám bài trước đều có căn cứ trong sử sách, hai bài sau lại không có khảo chứng, chi bằng làm lại hai bài khác thì hơn. Đại Ngọc biện giải rằng trong kịch có mà, Lý Hoàn cũng lên tiếng, nói rằng sách vở tuồng kịch đều có cả, thậm chí trong những lời chú phê trên quẻ xăm bói toán cũng có nhắc đến, ý là có thể có được những thông tin dạng đó qua những con đường ngoài việc đọc sách. Cuối cùng Lý Hoàn còn nói rõ hơn rằng: Hơn nữa lại không phải là đọc từ khúc "Tây sương ký", "Mẫu đơn đình", không sao đâu, cứ giữ lại đi, hai bài thơ không cần phải làm lại đâu. Tình tiết Bảo Cầm làm thơ đã là hồi thứ năm mươi, nhưng đối với việc chúng ta thấu hiểu một thứ quy phạm lễ giáo phong kiến có phần kỳ quặc của thời đại đó, tức là có thể biết được thông qua tuồng kịch nghệ thuật nhưng không cho phép trực tiếp đọc những cuốn sách từ khúc như thế, lại có tác dụng hiểu sâu thêm một tầng.
Tôi nhớ lúc đầu đọc hồi thứ bốn mươi hai, đọc đến đoạn Bảo Thoa gọi Đại Ngọc đến Hanh Vu Uyển, bắt Đại Ngọc quỳ xuống, nói là muốn tra khảo Đại Ngọc, tôi liền nghĩ, à, kẻ hộ đạo phong kiến và kẻ phản nghịch phong kiến, lần này chắc chắn sẽ xung đột chính diện, quyết một trận thư hùng rồi! Thế nhưng, đọc tiếp xuống dưới, lại không phải, hóa ra lại là viết cảnh giảng hòa của hai người Đại Ngọc và Bảo Thoa. Tên hồi này chẳng những không hề có chút mùi thuốc súng nào, trái lại còn đong đầy bầu không khí ấm áp, gọi là "Hanh Vu quân lời lan giải mối nghi ngờ", không phải "lời nhảm" mà là "lời lan", "lời lan" chính là lời tâm sự; không dẫn đến tranh biện kịch liệt, mà là cởi bỏ tâm bệnh nghi kỵ của đối phương, Đại Ngọc và Bảo Thoa từ đó chung sống hòa bình cho đến tận cuối hồi thứ tám mươi. Đây không phải Đại Ngọc - Bảo Thoa hợp nhất thì là gì?
Hồi này Giáp Ngũ Trai đặc biệt phê rằng: Nay sách viết đến hồi thứ ba mươi tám thì đã qua hơn một phần ba, cho nên viết hồi này, khiến hai người hợp nhất. Lời phê này rất quan trọng, cô ấy nói sách "Hồng Lâu Mộng" này đến hồi thứ ba mươi tám thì đã qua hơn một phần ba của toàn bộ tác phẩm, có thể thấy Tào Tuyết Cần đã viết xong, hoặc đã đại trí phác thảo xong tên các hồi, "Hồng Lâu Mộng" dự tính hoàn thành không phải một trăm hai mươi hồi, thực tế ít hơn con số này. Nếu là một trăm hai mươi hồi, vậy thì đến hồi thứ ba mươi tám không phải là quá một phần ba, mà là chưa đủ một phần ba. Ước tính bản thảo sách của Tào Tuyết Cần nhiều nhất là một trăm mười hồi, rất có thể là một trăm linh tám hồi. Giáp Ngũ Trai cho rằng Tào Tuyết Cần không hề có ý định kéo dài mâu thuẫn xung đột của Đại Ngọc và Bảo Thoa xuyên suốt cả cuốn sách, sau khi qua một phần ba cuốn sách, ông đã cố ý chấm dứt những sự cọ xát va chạm giữa họ. Câu nói của cô ấy, tức là Thoa, Ngọc tên tuy hai, người vốn một thân, đây là bút pháp ảo vậy, cũng được nói trong lời phê của hồi này. Cô ấy còn nói rằng: Xin hãy xem đoạn văn sau khi Đại Ngọc qua đời về Bảo Thoa, thì sẽ biết những lời ta nói không sai đâu. Cô ấy đã nhìn thấy tình tiết sau hồi tám mươi khi Đại Ngọc qua đời, lúc đó cô ấy cho rằng những hậu thế như chúng ta, những độc giả như chúng ta sớm muộn gì cũng sẽ được nhìn thấy, hơn nữa sẽ có được cảm nhận giống hệt như cô ấy. Thế nhưng, những trang văn sau hồi tám mươi do Tào Tuyết Cần viết lại bị những kẻ mượn đọc làm thất lạc mất rồi, chúng ta biết tìm đâu ra để mà xem, đành phải đi tưởng tượng thôi, nhưng tưởng tượng Đại Ngọc - Bảo Thoa tên tuy hai người nhưng là một thân, không biết sức tưởng tượng của quý vị có đạt đến mức độ đó không, dẫu sao thì tôi cũng phải thành thật mà nói rằng: Thật khó.
Cảm nhận cá nhân tôi khi đọc "Hồng Lâu Mộng", trước hết là tên của Đại Ngọc và Bảo Thoa khác nhau, người thì rõ mười mươi là hai người. Thế nhưng đến hồi thứ bốn mươi hai, họ thế mà lại giảng hòa. Đây cũng thực sự là nguyên bút nguyên ý của Tào Tuyết Cần, hai mặt đối lập vốn dĩ có thể ví như hai lá bài, sau hồi này rồi, lại gộp thành một lá bài, một bên là mặt bài này, một bên là mặt bài kia, quấn quýt không thể tách rời. Tại sao Tào Tuyết Cần lại phải viết như vậy?
Điều càng đáng nghiền ngẫm hơn là, Tào Tuyết Cần lại để cho nhân vật Giả Bảo Ngọc dưới ngòi bút của mình cũng cảm thấy kinh ngạc trước sự hợp nhất của Đại Ngọc và Bảo Thoa. Hồi thứ bốn mươi chín viết rằng Giả mẫu vô cùng yêu thích Bảo Cầm, đến mức ngay cả Bảo Thoa cũng nổi ghen lồng lộn. Bảo Ngọc từ trước đến nay vốn thừa biết Đại Ngọc có tính khí tiểu thư, cậu vốn đang sợ Đại Ngọc vì thế mà trong lòng không được thoải mái, thế nhưng cảnh tượng hiện ra trước mắt cậu, những lời tai nghe được, lại là Đại Ngọc không ghen tị với Cầm, Bảo Thoa không mỉa mai Đại Ngọc, nằm ngoài sức tưởng tượng của Bảo Ngọc. Lúc này Tào Tuyết Cần bắt đầu viết về nhân tính rồi, ông viết thế nào nhỉ? Bảo Ngọc nhìn thấy Đại Ngọc - Bảo Thoa hợp nhất, trong lòng buồn bực không thôi! Đáng lẽ ra, Đại Ngọc đã yên tâm về Bảo Thoa thì sẽ không còn nổi tính tiểu thư hờn dỗi bực dọc với cậu chuyện "kim ngọc lương duyên" nữa; Bảo Thoa không còn chớp lấy cơ hội để châm chọc cậu và Đại Ngọc nữa, thiên hạ từ nay thái bình, đôi tai của cậu cũng được thanh tịnh lớn, đáng lẽ phải mừng còn không kịp, sao ngược lại còn cảm thấy buồn bực không vui? Đây chính là sự huyền bí của nhân tính. Sự ngọt ngào của tình yêu, kỳ thực có một phần không thể thiếu, chính là sự đề phòng của người tình đối với tình địch, cũng như sự chủ động xuất kích khi cần thiết. Dĩ nhiên, phần này nếu phình trướng quá mức, làm ầm ĩ náo động cả lên thì sẽ làm trầm trọng thêm tình yêu; nhưng phần này biến mất hoàn toàn, đối mặt với tình địch, thậm chí trong tình huống tăng thêm tình địch tiềm năng mà lại hoàn toàn dửng dưng không màng tới, thì tình yêu cũng sẽ có tì vết, trở nên nhạt nhẽo vô vị. Bảo Ngọc đối mặt với việc Đại Ngọc chân thành đối xử với Bảo Thoa như chị, đối với Bảo Cầm như em, cậu liền cảm thấy như mất đi thứ gì đó, đâm ra buồn bực không vui.
Đại Ngọc - Bảo Thoa hợp nhất, dĩ nhiên không phải hai người hoàn toàn sáp nhập thành một người, chỉ là họ không còn xung đột nữa, từ việc đề phòng lẫn nhau chuyển thành an ủi lẫn nhau, rốt cuộc đây là chuyện thế nào? Tào Tuyết Cần thông qua việc Bảo Ngọc lén đi hỏi Đại Ngọc đã đưa ra một lời giải thích. Bảo Ngọc mượn một câu trong "Tây sương ký", chính là: "Là thuở nào Mạnh Quang tiếp khay cơm của Lương Hồng?" Cậu đây là đang hỏi Đại Ngọc rằng, rốt cuộc là từ thuở nào cô và Bảo Thoa đã bỏ hết hiềm khích trước đây, giảng hòa đến mức độ này thế? Đại Ngọc liền kể cho Bảo Ngọc nghe đầu đuôi câu chuyện ra sao: Nàng lỡ nói sai lệnh rượu, Bảo Thoa không hề đi tố cáo với người lớn, mà là lén nhắc nhở nàng, thực tế là tiến hành bảo vệ, sau đó lại càng thương xót nàng cảnh ngộ ăn nhờ ở đậu, phái người mang sang cho nàng tổ yến thượng hạng cùng đường phèn hoa mai tuyết phấn hảo hạng, từ lúc đó trở đi, nàng đã thay đổi cách nhìn về Bảo Thoa. Nàng nói với Bảo Ngọc rằng, ai ngờ Bảo Thoa hóa ra thực sự là một người tốt, ngày thường ta cứ tưởng chị ta che giấu ý đồ xấu! Lúc này Bảo Ngọc mới vỡ lẽ.
Bảo Ngọc vỡ lẽ rồi, với tư cách là độc giả, chúng ta cũng theo đó mà vỡ lẽ luôn chứ? Lúc đầu thú thật là tôi vẫn chưa hiểu cho lắm, sau đó, đọc thêm mấy lần nữa, lại suy nghĩ tỉ mỉ một hồi, mới coi như hiểu ra.
Vào thời đại đó, nếu Bảo Thoa sau lưng không để Đại Ngọc biết, cũng không bày ra tư thế tố cáo chính thức, mà chỉ nhân một cơ hội nào đó, trước mặt mẹ mình hoặc Vương phu nhân, hay dứt khoát là trước mặt Giả mẫu, tiện miệng trò chuyện thong thả mà nhắc qua một câu rằng Đại Ngọc không biết từ đâu có được sách tà khúc "Tây sương ký", "Mẫu đơn đình", đọc đến mê muội, đến nỗi hôm đó chơi thẻ ngà, đọc lệnh thẻ ngà mà thốt ra liền hai câu. Thế thì, dẫu cho những bậc trưởng bối này có không đi tra cứu, trách m phạt Đại Ngọc đi chăng nữa, thì trong lòng họ, Đại Ngọc lập tức cũng sẽ trở thành người con gái không giữ nề nếp. Tiết di mẫu, Vương phu nhân vốn dĩ đã đề phòng Đại Ngọc rồi, nếu không nhờ có Giả mẫu ở đó, thì cũng chẳng cần đợi Đại Ngọc phạm lỗi, họ sớm đã bao biện hôn sự cho hai bảo từ lâu rồi; thế nếu Giả mẫu biết Đại Ngọc lại dám lén đọc sách tà, thích "từ khúc lẳng lơ", thì khi chọn vợ cho Bảo Ngọc, cán cân nhất định sẽ nghiêng về phía Bảo Thoa. Thế nhưng Bảo Thoa trong một hoàn cảnh như thế lại không hề che giấu ý đồ xấu để đi tố cáo, mà lại dẫn Đại Ngọc vào căn phòng riêng ở Hanh Vu Uyển, tâm sự chân thành, không những khuyên nhủ Đại Ngọc phải cẩn trọng, mà còn thú nhận với Đại Ngọc, quý vị còn nhớ đoạn đó chứ? Bảo Thoa nói thế nào? Chị ấy nói: Cậu tưởng tôi là ai chứ? Tôi cũng là đứa nghịch ngợm, hồi bảy tám tuổi cũng đủ người dây dưa phiền phức rồi. Hồi đó, trong tủ sách của người lớn trong nhà nào là "Tây sương ký", "Tỳ bà ký", cho đến "Trăm loại nhà Nguyên", thứ gì cũng có cả, mấy huynh đệ trong nhà lén xem sau lưng chị, chị cũng lén xem sau lưng các huynh đệ, dĩ nhiên là đều lén lút đọc qua hết lượt sau lưng người lớn rồi. Nói như vậy, kỳ thực Bảo Thoa trong khoản đọc cái gọi là "sách tà", đọc cái gọi là "từ khúc lẳng lơ" thời gian còn sớm hơn Bảo Ngọc, Đại Ngọc, chủng loại còn nhiều hơn bọn họ, có thể coi là người đi tiên phong. Chúng ta đều nên nhớ rằng, từ hồi thứ hai mươi hai, Bảo Thoa đã từng giới thiệu với bọn họ một khúc "Ký sinh thảo" trong trích đoạn kịch "Lỗ Trí Thâm say quậy Ngũ Đài Sơn" rồi cơ mà, nếu không phải từng đọc qua từ khúc đó, chỉ dựa vào việc xem kịch, sao chị ta có thể đọc thuộc lòng được, hơn nữa còn phân tích ra được ngần ấy đạo lý? Bảo Thoa bảo với Đại Ngọc rằng bản thân mình thực ra là người từng trải, sau đó bị người lớn trong nhà phát hiện, đứa thì đánh, người thì mắng, sách thì đem đốt, lúc đó mới dẹp bỏ. Dĩ nhiên, Bảo Thoa dẫu sao cũng là Bảo Thoa, chị ta không tránh khỏi việc lên lớp huấn giới Đại Ngọc một trận, bảo rằng con gái chỉ nên làm mấy việc may vá thêu thùa mới phải phép, Đại Ngọc tuy cảm kích sự chân thành và bảo vệ của Bảo Thoa, nhưng cũng chưa chắc từ đó mà suy nghĩ và hành động theo quy phạm "con gái không tài mới là đức" được. Thực tế là sau hồi thứ bốn mươi hai, hai người này đại trí vẫn ai đi đường nấy, thế nhưng đôi bên đã thành bạn bè, không còn nghi kỵ xung đột nữa, giảng hòa làm một, đây là sự thật. Đại Ngọc - Bảo Thoa hợp nhất không phải sự hợp nhất về con người, mà là sự hợp nhất về mặt quan hệ giao tế.
Tại sao Tào Tuyết Cần lại phải sắp xếp như thế, thiết kế ra tình tiết Đại Ngọc - Bảo Thoa hợp nhất? Đây mới là hồi thứ bốn mươi hai thôi mà, tính theo tổng số một trăm linh tám hồi của toàn truyện, còn chưa tới một nửa, hai hình tượng nghệ thuật vốn dĩ đối lập về bản chất vậy mà lại không xung đột với nhau nữa. Điều này cho thấy, dẫu cho hậu thế chúng ta có người theo quan điểm hiện đại mà nhấn mạnh tính phản phong kiến của Đại Ngọc và tính thuận theo phong kiến của Bảo Thoa, thích nhìn hai người họ xung đột hết lần này đến lần khác. Thế nhưng, Tào Tuyết Cần không hề thỏa mãn nhu cầu tâm lý đó, tuy rằng ở phần sau ông vẫn viết về sự khác biệt lớn lao giữa Đại Ngọc và Bảo Thoa, chẳng hạn như bài thơ vịnh hoa liễu do hai người họ làm ở hồi thứ bảy mươi, vẫn mỗi người một phách, khác nhau một trời một vực; nhưng ít nhất từ điểm viết rằng Đại Ngọc không còn chua ngoa cay độc, đặc biệt là không còn cọ xát va chạm với Bảo Thoa nữa, há chẳng phải đã mài giũa đi góc cạnh của nàng, làm suy giảm tính kháng tranh của hình tượng nghệ thuật này rồi sao?
Quan điểm của tôi là, Tào Tuyết Cần thiết kế như thế là bởi vì trong tâm trí ông, Đại Ngọc và Bảo Thoa dẫu cho tư tưởng khác biệt, theo đuổi khác nhau, nhưng họ đều là những kẻ tù ngục chốn khuê phòng, đều chịu chung sự áp bức của lễ giáo phong kiến, đều thuộc dạng hồng nhan bạc mệnh, đều nên được thấu hiểu, đồng tình, cảm thấy tiếc nuối và ai điếu cho họ.
Hồi thứ bảy, chính là cái hồi Tiết Thụy Gia mang hoa cung đến ấy, đã viết rằng Tiết Bảo Thoa từ trong bào thai mang theo một cỗ độc nóng, câu này có ý gì chứ? Chính là ám chỉ rằng, chị ta kỳ thực cũng giống như những thiếu nữ thanh xuân trong các gia đình quý tộc khác, xét từ bẩm sinh, trong lồng ngực chị ta cũng mang một linh hồn khát khao tự do, hướng về tình yêu, nóng bỏng thậm chí có thể nói là nồng cháy. Trên cội nguồn sinh mệnh này, chị ta chẳng có gì khác biệt so với Đại Ngọc cả, thế nhưng đến hậu thiên, dưới sự giáo huấn của các bậc trưởng bối phong kiến, chị ta đã tự giác coi việc tự do yêu đương, bộc lộ tình cảm chân thật, trương dương cá tính, đi đứng một mình là sai trái, là hổ thẹn, là tội lỗi, là nghiệt chướng, chị ta đã dùng nỗ lực lớn nhất để áp ức bản thân, hạ nhiệt cho linh hồn mình, hạ đến tận mức độ lạnh buốt. Sách viết rằng — dĩ nhiên, đó là một thủ pháp nghệ thuật — một ông hòa thượng trọc đầu đã giới thiệu một phương thuốc lạ ngoài biển. Viên thuốc đó cần phải bào chế ra sao? Tôi không lặp lại ở đây nữa, quý vị hẳn phải có ấn tượng, nghĩa là, khó khăn tựa lên trời xanh, hầu như dán chặt vào từng tiết khí quan trọng, yêu cầu vô cùng khắc nghiệt. Đoạn văn đó kỳ thực là một ẩn dụ, có nghĩa là sinh mệnh của chị ta năm này qua tháng nọ, ngày qua ngày đêm qua đêm, đều phải nơm nớp lo sợ, ngay ngắn cẩn trọng, mới có thể áp chế được độc nóng bẩm sinh, đạt đến cái gọi là đoan trang hiền thục. Vẻ đẹp của chị ta, trong sách viết đến rất nhiều lần, nhưng cũng chỉ ra lặp đi lặp lại rằng, vẻ đẹp đó thuộc về vẻ đẹp lạnh lùng sắc sảo "dẫu là vô tình vẫn lay động lòng người".
Đại Ngọc một khi nghe được nỗi lòng thổ lộ của Bảo Thoa, đạt đến sự thấu hiểu, dĩ nhiên cũng sẽ thông cảm cho mọi chuyện trước đây của Bảo Thoa, đi đến kết luận rằng "Bảo tỷ tỷ thực sự là một người tốt", thì cũng chẳng có gì lạ lẫm nữa.
Đại Ngọc công khai yêu Bảo Ngọc, Bảo Thoa thầm yêu Bảo Ngọc, Bảo Ngọc lại chỉ yêu Đại Ngọc, nhưng họ đều không thể có được sự tự do trong tình yêu và hôn nhân. Thời đại đó, đặc biệt là trong những gia đình như thế, hôn nhân đều do cha mẹ mai mối quyết định. Tào Tuyết Cần ở hồi thứ bốn mươi hai để cho Đại Ngọc - Bảo Thoa hợp nhất, không còn lấy sự khác biệt tư tưởng hành vi cùng sự cọ xát va chạm giữa họ làm động lực tình tiết nữa, vậy thì ông đã đổi sang loại động lực tình tiết nào khác? Tôi cho rằng, một là ông khai phóng tầm nhìn của độc giả từ chiều sâu, giống như từ hồi thứ năm mươi lăm đến hồi thứ sáu mươi mốt, ngoại trừ tình tiết hồi thứ năm mươi bảy đi thử lòng Mệnh Ngọc Bằng Tuệ Trúc Nhân, ông đã dùng sáu hồi sách, kéo ngòi bút vươn tới những nhân vật tầng lớp trung lưu và hạ lưu cả trong lẫn ngoài Đại Quan Viên, để độc giả được thưởng lãm nhiều loại sinh mệnh với những khúc ca sinh tử bi tráng đa dạng hơn nữa, ông cho chúng ta biết mâu thuẫn hiện diện khắp nơi, mà những cuộc xung đột đủ loại về lợi ích, tính cách, tình cảm chắc chắn sẽ dẫn đến một vở bi kịch lớn xảy ra. Phủ Giả trước là nội loạn, sau đó sẽ là ngoại hoạn và nội loạn đan xen, ông phải rảnh tay để viết cảnh gió thổi mây đen ùn ùn kéo đến, cuối cùng là tòa đại hạ sụp đổ ào ào, đây là điều ông sẽ triển khai viết cho thật trọn vẹn. Ngoài ra, ông còn phải viết chuyện Bảo Ngọc rốt cuộc cưới ai làm vợ, kết cục này chủ yếu do các bậc trưởng bối phủ Vinh Quốc quyết định, thế nhưng cấu trúc quyền lực gia đình của phủ Vinh Quốc lại có một sự đặc thù nhất định, đó là: Chỉ cần Giả mẫu còn sống, Giả Chính và Vương phu nhân trong vấn đề cưới vợ của Bảo Ngọc, không thể không tôn trọng ý hướng của Giả mẫu, quyết định của Giả mẫu.
Một người bạn độc giả Hồng mê nói với tôi rằng, anh ấy phản đối việc Bảo Ngọc kết hôn với Đại Ngọc, bởi vì mẹ của Đại Ngọc họ Giả, là cô ruột của Bảo Ngọc, hai người là mối quan hệ cậu mợ cô cháu, quan hệ huyết thống quá gần, xét từ góc độ ưu sinh học, nếu họ kết hôn cận huyết sẽ sinh ra những đứa con đần độn ngốc nghếch. Tương đối mà nói, Bảo Thoa tuy cũng là biểu muội, nhưng cha mẹ chị ấy đều mang họ ngoài, họ là mối quan hệ dì cháu, huyết thống xa hơn một chút, thế nhưng nếu đặt vào xã hội hiện đại thì cũng không nên kết hôn, bởi vì tiềm ẩn những mầm mống họa hại cho thế hệ sau. Tóm lại, Bảo Ngọc đặc biệt không được cưới Đại Ngọc. Bạn độc giả Hồng mê này nói, theo như anh ấy được biết, ngay cả ở thời đại cũ, thông thường cũng không cho phép anh em họ đời gần kết hôn làm vợ chồng.
Ở thời đại cũ, quả thực, thông thường cũng không đề cao việc anh em họ đời gần kết hôn với nhau, thế nhưng nếu là anh em họ khác dòng họ thì không sao cả. Lệnh của cha mẹ, lời của bà mối, nếu vun vén vào với nhau, ai nấy đều cho rằng chẳng có vấn đề gì thành cả.
Tôi nói với bạn độc giả Hồng mê ấy rằng, trong sách tuy thiết kế Giả Chính thành con trai ruột thứ hai của Giả mẫu, nhưng nguyên mẫu thực chất là Tào X..., vốn dĩ là một người cháu gọi Tào Dần — chồng của nguyên mẫu Giả mẫu — bằng bác, sau khi Tào X... và con đẻ của ông lần lượt qua đời, mới được thừa kế làm con nuôi dưới tên Tào X..., trở thành người con phụng dưỡng Lý thị. Trong đời thực, hai mẹ con này hoàn toàn không có quan hệ huyết thống trực tiếp. Trong những bài giảng trước tôi đã nói rồi, Giả Xá trong sách tuy được miêu tả là con trưởng của Giả mẫu, nhưng trong đời thực, thực chất chỉ là một người anh của Tào X..., hoàn toàn không cùng được nhận làm con nuôi dưới tên Lý thị. Bởi vì Tào Tuyết Cần viết một cuốn tiểu thuyết mang tính tự thuật, tính tự truyện, lịch sử gia tộc, nên ông không hề hư cấu triệt để, không viết cảnh con trưởng tập tước Giả Xá sống ở viện chính phòng phía chính của phủ Vinh Quốc gánh vác đạo hiếu phụng dưỡng mẹ đẻ, mà ông vẫn viết theo đời thực, viết cảnh người con trai nhận nuôi sống chung với mẹ, đây là một đặc điểm lớn trong văn bản "Hồng Lâu Mộng": Khi hiện thực đời sống và giả định nghệ thuật xảy ra xung đột, ông thường hy sinh tính hợp lý của giả định nghệ thuật để mưu cầu tính chân thực trong miêu tả.
Vậy thì, chúng ta cũng có thể biết rằng, trong đời thực, con trai của Lý thị đã chết sạch, con gái vốn dĩ vẫn còn một người, gả chồng rồi sinh ra ngoại tôn nữ của bà, thế nhưng chẳng bao lâu sau cũng chết. Thế là, bà đón người ngoại tôn nữ đó từ Giang Nam đến Bắc Kinh, chuyển hóa vào trong tiểu thuyết, chính là Lâm Đại Ngọc. Giả mẫu yêu thương Bảo Ngọc đến thế, hoàn toàn có thể hiểu được, bởi vì theo tư duy thời đại đó, người con trai nhận nuôi là một người trưởng thành, xét về lễ nghĩa là mẹ con, nhưng về mặt tình cảm rất khó đạt đến sự giao hòa. Thế nhưng đứa cháu đích tôn là người được chứng kiến từ lúc sinh ra, được nâng niu nuôi dưỡng từng ngày như phượng hoàng, thì không khác gì con do mình đẻ ra, có thể xây dựng nên mối quan hệ tình cảm sâu sắc. Tình hình chân thực trong cuộc sống này, được miêu tả vô cùng tỉ mỉ trong sách và ai nấy đều quen thuộc, tôi sẽ không lấy ví dụ nữa. Thế thì, Lâm Đại Ngọc đến rồi, hơn nữa sau đó cha nàng cũng qua đời, liền ở hẳn phủ Vinh Quốc, sao Giả mẫu lại thương yêu nàng đến vậy, trước khi dọn vào Đại Quan Viên, vẫn luôn giữ nàng ở bên cạnh, hưởng đãi ngộ y hệt như Bảo Ngọc, đối với tính cách trương dương của Đại Ngọc, bà nhìn thấy tận mắt, nghe thấy tận tai, nhưng lại để mặc cho phát triển tự nhiên không hề ràng buộc, rốt cuộc là vì sao? Mọi người thử nghĩ xem nguyên mẫu đời thực của Giả mẫu, Lý thị mỗi ngày mở mắt ra, tuy nói danh nghĩa là có con trai, có con dâu, có cháu gái họ nội của con dâu đến trước mặt pha trò, phụng dưỡng bà rất chu đáo, thế nhưng người thực sự có quan hệ huyết thống với bà rốt cuộc là ai? Nói thật lòng, chỉ có duy nhất một người, chính là con gái ruột của con gái ruột bà, ngoại tôn nữ của bà, cũng chính là nguyên mẫu của Lâm Đại Ngọc.
Sắp xếp lại như thế này, quý vị hẳn phải hiểu ra rồi chứ, trong đời thực, nguyên mẫu của Bảo Ngọc và nguyên mẫu của Đại Ngọc, xét về huyết thống hoàn toàn không phải anh em họ đời gần, đem ra so sánh với nguyên mẫu của Bảo Thoa xem nào, ồ, huyết thống giữa nguyên mẫu của Bảo Ngọc và nguyên mẫu của Bảo Thoa ngược lại còn gần gũi hơn rất nhiều đấy! Nếu xét từ góc độ ưu sinh học mà cân nhắc, thì ngược lại nguyên mẫu của Bảo Ngọc kết hôn với nguyên mẫu của Đại Ngọc mới là càng thích hợp hơn.
Bởi vì trong đời thực, nguyên mẫu Giả Chính được nhận nuôi dưới danh nghĩa nguyên mẫu Giả mẫu, cho nên chuyển hóa vào trong sách, quý vị có thể cảm nhận được rằng, chỉ cần Giả mẫu còn đó, trong những việc lớn của gia đình, đặc biệt là chuyện cưới vợ cho Bảo Ngọc, vợ chồng Giả Chính dù có chủ ý đi chăng nữa cũng không dám tùy tiện bộc lộ, bắt buộc phải nhìn sắc mặt Giả mẫu, tuân theo sự sắp xếp của Giả mẫu. Còn Giả mẫu ư? Bà biết rõ mối quan hệ giữa mình với Giả Chính, Giả Xá đều vô cùng vi tế, cho nên cũng không tùy tiện thể hiện uy phong. Hồi thứ bảy chín, viết cảnh Giả Xá đứng ra chủ trì gả Nghênh Xuân cho Tôn Thiệu Tổ, thái độ của Giả mẫu thế nào? Bà tuy trong lòng không vui, nhưng điều mấu chốt nhất lại là nghĩ đến đây là chủ trương của cha ruột người ta, hà tất phải nhiều chuyện đứng ra lo gánh vác? Cho nên chỉ nói ba chữ "Đã biết". Có thể thấy trong đời thực, cha của Nghênh Xuân và Giả mẫu chỉ là mối quan hệ vô cùng cách xa giữa vãn bối trong tộc và lão tổ tông trong tộc, Nghênh Xuân chỉ là một đứa cháu gái họ được gửi nuôi ở viện khác phòng khác, cho nên Giả mẫu không tiện bày tỏ ý kiến, nếu không thì văn bản đã không viết như vậy.
Nhân đây nói thêm một câu, lúc trước khi tôi giảng về chuyện hôn phối trong phủ Giả, phân tích rằng Hình phu nhân là vợ kế tục huyền của Giả Xá, có bạn độc giả Hồng mê gửi thư đến thảo luận với tôi, nói rằng ông chỉ nói Hình phu nhân không sinh nở mà đã kết luận bà là vợ cưới sau là không hoàn toàn chặt chẽ về mặt logic, bởi vì cũng có thể giải thích là tuy bà là người vợ chính thức cưới lần đầu nhưng lại không sinh nở. Thế thì ở đây tôi xin bổ sung một chút, chính là về thân phận xuất thân của Nghênh Xuân: Trong bản "Hồng Lâu Mộng" cổ bản, có rất nhiều cách viết khác nhau, nhưng ở Giáp Tuất bản, lại viết là do người vợ trước của Đại gia lão Xá sinh ra. Giáp Tuất bản hiện là bản sao chép sớm nhất mà chúng ta có thể nhìn thấy, thiết lập về thân phận xuất thân của Nghênh Xuân trong đó hẳn là đáng tin cậy, thế thì Hình phu nhân là vợ cưới kế tục, cũng có thể xác định rõ ràng. Sự do dự của Tào Tuyết Cần trong thiết kế xuất thân của Nghênh Xuân xem ra chủ yếu xuất phát từ sự cân nhắc thế này: Ông muốn phân biệt rạch ròi nhân vật này với Thám Xuân và Tích Xuân, để thể hiện cảnh ngộ và tâm lý khác nhau trong đại gia tộc của những người phụ nữ quý tộc có xuất thân khác nhau, nếu Nghênh Xuân cũng được viết là con của vợ lẽ, thì sẽ dễ bị lặp lại câu chuyện của Thám Xuân.
Giả mẫu có thể áp dụng thái độ tiêu cực không can thiệp đối với chuyện xuất giá của Nghênh Xuân, thế thì đối với Đại Ngọc, bà có thể tiêu cực được sao? Trong đời thực, Lý thị thời kỳ đó, bà ngước mắt nhìn quanh, người trước mắt không ít, nhưng ai mới là người thân ruột thịt thực sự của bà? Dĩ nhiên là nguyên mẫu của Đại Ngọc, ngoại tôn nữ ruột thịt của bà, cùng với Phượng Hoàng được bà nuôi nấng từ bé — Bảo Ngọc, nếu hai người này kết hợp với nhau trở thành phu thê, há chẳng phải là sự sắp xếp viên mãn nhất hay sao?
Dĩ nhiên, vẫn còn một người nữa có quan hệ huyết thống rất gần với Giả mẫu, chính là Tương Vân. Trong tiểu thuyết viết rất rõ ràng, cô ấy là người nhà mẹ đẻ của Giả mẫu, là con gái của anh trai Giả mẫu, vị anh trai này và vợ ông đều đã qua đời, là hai người anh họ khác của cô — vợ chồng Bảo Lăng hầu Sử Nãi và Trung Tĩnh hầu Sử Đỉnh — luân phiên nuôi dưỡng, chăm sóc Tương Vân. Dĩ nhiên, Tương Vân xét về huyết thống thì xa hơn Đại Ngọc một chút, nhưng trong huyết quản dẫu sao cũng chảy dòng máu nhà mẹ đẻ của bà, cho nên trong sách viết rằng, trước khi Đại Quan Viên được xây dựng, Tương Vân đến phủ Giả cũng ở chung một căn phòng lớn với Giả mẫu. Trong đời thực, Lý thị và cháu gái chắt họ bên nhà họ Lý của bà — nguyên mẫu Sử Tương Vân — hẳn chính là thứ tình cảm sâu nặng như nước thế này.
Những gì được viết trong sách, chúng ta hẳn đều nhìn thấy rõ ràng: Hai chị em Vương phu nhân, Tiết di mẫu một lòng muốn để Bảo Ngọc cưới Bảo Thoa. Đối với Đại Ngọc, trước hết là họ tuyệt đối không vừa mắt sự cá tính trương dương của nàng. Vương phu nhân ghét Tấm Mân, sau đó bà ta nói rõ ra, một là bộ dạng mày mắt giống Đại Ngọc, hai là kiêu kỳ lẳng lơ, tuy không nói cái vẻ kiêu kỳ ấy cũng giống Đại Ngọc, nhưng thực chất chính là có ý nghĩa như thế, trong ánh mắt và tâm trí bà ta, Đại Ngọc rõ ràng cũng là một con "hồ ly tinh" quyến rũ Bảo Ngọc. Đuổi Tấm Mân, Tứ Nhi đi, chẳng qua chỉ là quét sạch ngoại vi, mục đích cuối cùng chính là giải cứu Bảo Ngọc khỏi cái gọi là "sự quyến rũ" của Đại Ngọc để đi cưới Bảo Thoa. Cái gọi là "kim ngọc lương duyên", chẳng qua chỉ là thứ dư luận do họ tung ra, mục đích thực tế là thông qua cuộc hôn nhân này để nắm chắc tài sản địa vị của nhà họ Giả vào tay nhà họ Vương hơn. Còn Tiết di mẫu thì sao, sau lần Mệnh Ngọc thử lòng Mệnh Vô Tri của Tuệ Tử Quyên, lại càng cảm thấy Đại Ngọc là chướng ngại lớn cho kế hoạch của hai chị em họ, thế nên nhân cơ hội đó dứt khoát dọn thẳng vào Tiêu Sương Quán, khống chế Đại Ngọc lại, khiến cho việc giao lưu tình cảm giữa Bảo Ngọc và Đại Ngọc càng thêm bất tiện. Cho nên, mặc dù những gì viết trong sách toàn là cảnh tượng các vị phu nhân tiểu thư cười cười nói nói ăn ăn uống uống có vẻ hòa thuận ấm áp, kỳ thực, đó cũng là chiến trường không tiếng súng, diễn ra cuộc đọ sức ngầm, đó là một cuộc chiến tranh đoạt Bảo.
Giả Chính lúc đó vẫn chưa đi cân nhắc chuyện hôn sự của Bảo Ngọc, tiểu thuyết sau đó để cho ông ta đi công tác vắng nhà, lại càng không thể quản lý được nhiều thứ như vậy. Thế thì chiến tranh đoạt Bảo diễn ra giữa ai với ai? Chẳng lẽ diễn ra giữa hai chị em họ Vương và Giả mẫu ư? Trong sách chẳng phải có rất nhiều đoạn viết về việc Giả mẫu ca ngợi Bảo Thoa hay sao? Bản tục thư của Cao Ngạc, ông ta thiết kế ra một "kế tráo đổi", mưu kế tuy do Vương Hữu Phượng khởi xướng đầu tiên, Giả mẫu cũng đồng tình ủng hộ, còn viết cả cảnh Giả mẫu cuối cùng chán ghét Đại Ngọc, mặc cho nàng cô độc bi thảm đốt cả bản thảo để đoạn tuyệt si tình. Thế thì, rốt cuộc trong vấn đề Bảo Ngọc kết hôn, theo cấu tứ của Tào Tuyết Cần, Giả mẫu nghĩ thế nào? Giữa Đại Ngọc và Bảo Thoa, chiếc cán cân vô cùng quan trọng này của bà rốt cuộc nghiêng về phía nào? Kết cục của Đại Ngọc và Bảo Thoa rốt cuộc ra sao? Ở bài giảng tiếp theo, tôi sẽ tiếp tục thảo luận cùng quý vị.