Con Gái Người Nắn Xương

Lượt đọc: 41 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Năm

❊ ❊ ❊

Những việc này tôi không nên quên.

Tôi sinh ra trong một gia đình họ Lưu ở núi Tây, phía nam Bắc Kinh. Cái tên sớm nhất được ghi chép lại của ngôi làng là "Tiên Tâm thôn". Dì Bảo dạy tôi viết mấy chữ "Tiên Tâm thôn" trên phiến đá. Họ Lưu đã sống ở Tiên Tâm thôn hơn sáu trăm năm, đời đời lấy nghề làm mực làm kế sinh nhai, bán cho các thương nhân qua lại.

Nhà và xưởng của chúng tôi vẫn rành rành trước mắt, tôi dường như đang đứng ngay cửa viện. Nhà tôi ở trong ngõ Trư Đầu, đầu phía đông ngõ gần với cái sân bán thủ lợn của chợ. Ngõ Trư Đầu xuyên qua sân, đi thẳng về phía bắc, băng qua vị trí cũ của cái cây thần bất tử nổi tiếng kia. Đi tiếp nữa ngõ càng ngày càng hẹp, hai bên là nhà dân san sát nhau. Đầu ngõ là một bãi đất cao, tận cùng là thung lũng dốc đứng. Dì Bảo nói bãi đất đó là do một vị đại tướng tạo ra từ mấy ngàn năm trước. Người này nằm mộng giữa ban ngày, tưởng trong núi toàn là ngọc thạch, vì vậy hạ lệnh cho người đào xuống dưới, đào mãi đào mãi, không ngừng nghỉ. Nam nữ già trẻ đều làm việc không ngừng vì giấc mộng của ông ta. Đến khi vị đại tướng chết đi, những đứa trẻ ngày đó đã thành những ông lão lưng còng, nửa quả núi bị đào rỗng, đất đá chất đống ở đây, trở thành bãi đất cao này.

Đến phía sau sân nhà chúng tôi, bãi đất cao biến thành vách đá dựng đứng. Nếu như bạn cắm đầu xuống dưới, nhất định sẽ rơi xuống đáy thung lũng. Phía sau ngôi nhà cũ của họ Lưu từng có hai mươi mẫu đất, thế nhưng suốt mấy trăm năm qua, cứ hễ mưa lớn là vách đá sạt lở, nước núi gầm rú, xói mòn đất đá ngày càng nghiêm trọng, rãnh núi năm sau rộng hơn năm trước, sâu hơn năm trước. Cứ mười năm trôi qua, hai mươi mẫu đất ấy lại nhỏ đi một chút, cho đến cuối cùng, vách đá ép thẳng đến sau nhà chúng tôi.

Vách đá nhích lại gần từng chút một dạy cho tất cả chúng tôi nhận ra rằng, chúng tôi phải luôn ngoái đầu nhìn lại, mới biết được phía trước có gì đang chờ đợi mình. Chúng tôi gọi cái rãnh núi đó là "Cùng đồ mạt lộ".

Bên trong tường viện ở hơn ba mươi người già trẻ lớn bé, trong đó một nửa là người nhà họ Lưu chúng tôi, từ chủ nhà đến người thuê, từ bà cụ đến đứa cháu gái nhỏ nhất, đủ loại ngành nghề đều có. Họ Lưu có bốn người con trai, người mà tôi gọi là cha, Tấn Sâm, là con trưởng. Các anh em họ của tôi gọi cha là bác cả, dưới đó là chú lớn, chú hai, vợ của họ tôi gọi là bác dâu, thím. Khi tôi còn nhỏ, từng cho rằng cha mẹ mình là vì vóc dáng cao nên mới làm anh cả. Chú lớn và chú hai cũng đều có khung xương to, Cao Linh cũng vậy. Rất lâu tôi vẫn không hiểu nổi, tại sao chỉ riêng tôi lại thấp bé đến vậy.

Chú út là con út, người con trai được cưng chiều nhất, tên là Lưu Hổ Sâm. Người đó mới là cha ruột của tôi, chú và Dì Bảo đã sớm có hôn ước, đáng tiếc ngay đúng ngày tân hôn, chú đã bất ngờ qua đời.

Dì Bảo sinh ra ở một thị trấn khá lớn trong vùng đồi núi xung quanh, thị trấn tên là Chu Khẩu Điếm, cái tên lấy từ Thương Trụ Vương, một bạo chúa nổi tiếng thời cổ đại.①

Chín trăm năm nay, gia tộc của Dì Bảo luôn làm nghề y tiếp xương. Đây là nghề gia truyền. Bệnh nhân của cha Dì phần lớn là công nhân bị ngã gãy xương trong các hầm mỏ than hoặc mỏ đá vôi. Nếu có nhu cầu, ông cũng chữa trị các bệnh khác, nhưng nắn xương là sở trường của ông. Dì không cần phải đến trường chuyên khoa để học nghề này, lúc cha chữa bệnh thì Dì theo học, cha Dì cũng học được từ cha của mình. Bản lĩnh nắn xương được cha truyền con nối đời đời. Địa điểm chôn giấu Long cốt cũng là bí mật gia truyền. Long cốt tốt nhất được giấu ở một nơi gọi là "Hầu Chủy động". Vào thời nhà Tống, một vị tiên tổ của Dì Bảo đã tìm thấy hang động này trong một thung lũng lòng sông khô cạn. Trải qua sự đào bới của hết thế hệ này đến thế hệ khác, hang động càng đào càng sâu. Vị trí chính xác của nó cũng trở thành một phần của truyền thống gia tộc, cha truyền con nối, sau đó, cha truyền lại bí mật cho Dì Bảo, Dì Bảo lại truyền cho tôi.

Tôi vẫn nhớ vị trí hang động bí mật của chúng tôi, nó nằm giữa Tiên Tâm thôn và Chu Khẩu Điếm, cách xa những hang động dưới chân núi nơi mọi người đều đổ xô đi tìm Long cốt. Dì Bảo từng đưa tôi đến hang động bí mật vài lần, Dì luôn đưa tôi đi vào mùa xuân hoặc mùa thu, chưa bao giờ đặt chân đến nơi này vào mùa hè hay mùa đông. Chúng tôi đi qua "Cùng đồ mạt lộ", đi từ giữa thung lũng, tránh xa vách đá, người lớn luôn nói ở bên đó có đủ loại chuyện đáng sợ không thể cho ai thấy. Có lúc trên đường chúng tôi đi qua sẽ có những túm cỏ khô, bát sứ vỡ, hay cành cây khô gì đó, trong trí tưởng tượng tuổi thơ của tôi, những thứ đó đều giống như xác khô, đầu lâu trẻ con chết, hay thi thể phụ nữ bị phân mảnh gì đó. Có lẽ thực sự có những thứ đáng sợ đó, nên Dì Bảo mới đưa tay che mắt tôi lại không cho tôi nhìn thấy.

---❊ ❖ ❊---

Năm Dì Bảo mười chín tuổi (tuổi mụ), một ngày cuối thu, có hai bệnh nhân đến tìm thầy thuốc nắn xương. Người thứ nhất là một đứa bé của một nhà ở Tiên Tâm thôn, người thứ hai chính là chú út. Hai người này đã mang đến cho Dì Bảo nỗi đau vô tận, thay đổi hoàn toàn vận mệnh của Dì.

Đứa bé đang khóc lóc kia là con trai út của ông chủ Trương mở tiệm quan tài, ông chủ Trương vóc người vạm vỡ, dựa vào thiên tai nhân họa mà phát tài. Quan tài nhà họ lớp ngoài chạm khắc dùng gỗ long não thượng hạng, bên trong lại là gỗ thông rẻ tiền, họ sơn lên gỗ thông, màu sắc rất sáng, mùi cũng dễ ngửi, lấy loại kém bù vào loại tốt, mạo nhận là gỗ thượng hạng.

Chính loại gỗ giả sơn màu này rơi từ trên kệ xuống, đập trúng vai đứa nhỏ làm trật khớp, đứa bé đau đớn khóc thét. Vợ ông Trương sợ hãi, vội vàng lẩm bẩm không ngớt. Dì Bảo nhận ra người phụ nữ đang hoảng loạn này. Hai năm trước, bà ta từng ngồi trong tiệm của thầy thuốc nắn xương, vì trên trời rơi xuống một tảng đá lớn không rõ lý do, đập trúng mắt bà ta, còn có cả cằm. Nay bà ta lại cùng chồng quay trở lại. Ông chủ Trương vung tay đánh đứa nhỏ, bảo nó đừng khóc nữa. Dì Bảo lớn tiếng nói với ông ta, "Đứa nhỏ bị thương vai thì thôi, ông còn muốn đánh gãy chân nó nữa hay sao!" Ông chủ Trương đầy vẻ giận dữ nhìn Dì Bảo. Dì Bảo đón lấy đứa bé, bôi chút thuốc lên má nó, chẳng bao lâu đứa bé đã yên lặng lại, ngáp một cái rồi ngủ thiếp đi. Lúc này, thầy thuốc nắn xương bước tới, nắn lại khớp vai nhỏ bé của nó về vị trí cũ.

"Đây là thuốc gì?" Ông chủ tiệm quan tài hỏi Dì Bảo. Dì lại không thèm để ý.

"Đều là chút thuốc Đông y," thầy thuốc nắn xương trả lời. "Một chút thuốc phiện, một chút thảo dược, và một loại Long cốt đặc biệt, đào từ một hang động bí mật gia truyền của chúng tôi ra."

"Long cốt?" Ông chủ Trương chìa ngón tay nhúng vào bát thuốc, sau đó bôi lên mặt mình. Ông ta còn muốn bôi cho Dì Bảo, Dì Bảo hừ một tiếng rồi tránh ra. Ông ta cười ha hả, càn rỡ nhìn chằm chằm Dì Bảo, cứ như thể Dì Bảo đã là người của ông ta, muốn làm gì Dì cũng được.

Người nhà họ Trương vừa đi khỏi, chú út đã khập khiễng bước vào ngay sau đó.

Chú nói với thầy thuốc rằng ngựa bị kinh hãi nên làm chú bị thương. Trên đường từ Bắc Kinh về lại Tiên Tâm thôn, chú dừng lại nghỉ chân, ngựa làm kinh động một con thỏ, thỏ lại làm ngựa kinh hãi, ngựa dẫm một cước lên chân chú út, kết quả dẫm gãy ba ngón chân, nên chú út lập tức cưỡi con ngựa hung dữ này đến Chu Khẩu Điếm, nhắm thẳng thầy thuốc nắn xương nổi tiếng mà đến.

Chú út ngồi trên chiếc ghế gỗ mun để thầy thuốc xem chân, Dì Bảo ở trong nhà trong, nhìn thấy chú qua tấm rèm. Chú út lúc đó hai mươi hai tuổi, dáng người gầy guộc. Ngũ quan rất tuấn tú, phong thái tự nhiên, không kiêu không nịnh, tuy ăn mặc không giống đám con nhà giàu đó, nhưng cũng sạch sẽ gọn gàng. Dì Bảo nghe thấy chú nói cười vui vẻ: "Con ngựa đó của tôi sau khi hoảng sợ, hận không thể kéo tôi chạy thẳng xuống âm tào địa phủ." Lúc này Dì Bảo bước vào, nói: "Nhưng ông trời có mắt, đã đưa anh đến nơi này." Chú út nhất thời không nói nên lời. Dì mỉm cười, chú út quên mất cả nỗi đau trên cơ thể. Khoảnh khắc Dì Bảo bôi loại thuốc cao có trộn Long cốt lên chân chú, chú đã quyết định lấy Dì Bảo làm vợ. Dì Bảo nói, hai người họ cứ thế mà yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên.

Tôi chưa từng thấy ảnh của cha ruột, nhưng Dì Bảo bảo với tôi rằng chú có vẻ ngoài đường đường chính chính, hơn nữa lại thông minh hơn người, nhưng lại rất thẹn thùng, khiến các cô gái gặp chú không khỏi nảy sinh lòng dịu dàng. Chú cứ như một thư sinh thất thế, khiến người ta vừa nhìn là cảm thấy một ngày nào đó thế nào chú cũng sẽ hiển vinh. Nếu không phải mấy năm trước thời Dân Quốc đã bãi bỏ khoa cử, chú út chắc chắn có thể đỗ cử nhân.

Sáng sớm hôm sau, chú út đến thăm Dì Bảo, còn mang theo ba chùm vải thiều cho Dì ngắm. Chú bóc một quả vải, Dì Bảo trước mặt chú nếm thử phần thịt quả trắng muốt bên trong. Cả hai đều nói trong tiết trời cuối thu này, buổi sáng hôm nay thật quá ấm áp. Chú mời Dì Bảo nghe mình ngâm một bài thơ vừa viết buổi sáng:

"Thoáng chốc môi mở lời sao xẹt,

Rạng rỡ như nắng sớm che ánh dương,

Thoắt chốc hoàng hôn chẳng thấy đâu,

Nguyện đuổi theo dấu sao đến tận chân trời."

Chiều hôm đó, ông chủ Trương tiệm quan tài mang đến một quả dưa hấu cho thầy thuốc nắn xương. "Cảm ơn ông quá, đứa con cưng của tôi đã khỏi hẳn rồi, ném bát đĩa còn mạnh hơn ba đứa trẻ nhà người ta cộng lại."

Không mấy ngày sau, hai người này chia nhau đi tìm thầy bói, đều muốn hỏi xem bát tự của mình có hợp với Dì Bảo hay không, hỏi nếu kết hôn thì có điểm gì không hợp hay không.

Ông chủ tiệm quan tài tìm một thầy bói dạo trong thôn Tiên Tâm. Thầy bảo bát tự của hai người này hợp nhau cực tốt, vì Dì Bảo tuổi Dậu, ông chủ Trương tuổi Tỵ, hai con giáp này là hợp nhất. Ông lão nói số nét trong tên của Dì Bảo cũng cát tường (một khi tôi nhớ ra tên của Dì Bảo, sẽ viết số nét ra). Hơn nữa, trên má Dì Bảo có một nốt ruồi may mắn, nốt ruồi mọc ở vị trí "thập nhất chính khẩu", điều này biểu thị Dì có tính tình ôn hòa, khéo ăn nói. Ông chủ tiệm quan tài nghe xong rất vui mừng, trọng thưởng thầy bói.

Chú út tìm một bà đồng ở Chu Khẩu Điếm, nếp nhăn trên mặt bà lão còn dày hơn cả chỉ tay trong lòng bàn tay. Bà ta vừa nhìn liền nói việc lớn chẳng lành. Đầu tiên là nốt ruồi trên mặt Dì Bảo, bà ta nói nốt ruồi của Dì Bảo mọc ở vị trí "thập nhị thừa tương", nốt ruồi này kéo khóe miệng Dì Bảo xuống, biểu thị cuộc đời Dì sẽ khổ không kể xiết. Huống hồ con giáp của hai người cũng cực kỳ không hợp, Dì Bảo mệnh Hỏa tuổi Dậu, chú út mệnh Mộc tuổi Ngọ. Nàng dâu Hỏa Kê sẽ nhảy lên lưng chú rể Mộc Mã, mổ cho anh ta tơi tả, Dì Bảo dục vọng vô độ, chắc chắn sẽ vắt kiệt chú út mới thôi. Tệ nhất là, theo cha mẹ Dì Bảo nói, sinh nhật Dì Bảo là mười sáu tháng bảy, nhưng bà đồng có một người chị em dâu sống gần nhà Dì Bảo, bà ta đã nghe thấy đứa bé mới sinh khóc vào đêm rằm tháng bảy, rằm tháng bảy là ngày lễ ma quỷ, ngày ma quỷ hoành hành. Người chị em dâu đó còn nói, đứa bé khóc lên tiếng "u - u", không giống tiếng người, lại giống tiếng quỷ hồn ai oán. Bà đồng còn thì thầm với chú út, bà rất hiểu cô gái quái đản này, lúc đi chợ thường thấy Dì một mình đi dạo. Bà nói Dì Bảo tính nhẩm rất nhanh, còn tranh cãi với tiểu thương. Dì hành vi quái gở, tính cách lại bướng bỉnh, còn học đọc sách viết chữ với người cha làm thầy thuốc, hiểu chút y thuật thần đạo, thích hỏi đông hỏi tây, tự làm tự chịu, biết đâu đã bị con quỷ hoang nào nhập vào người, chú út cưới một cô dâu thế này nhất định sẽ rước họa vào thân, thôi thì tìm mối khác thì hơn.

Chú út lại đưa cho bà đồng chút tiền, không phải để cảm ơn, mà là bảo bà ta đổi ý. Nhưng bà đồng cứ lắc đầu nguầy nguậy, cho đến khi chú út đưa ra hai quan tiền, bà đồng mới đồng ý xem lại. Bà nói Dì Bảo thường mỉm cười, một khi cười nốt ruồi đó sẽ chuyển lên vị trí "chính khẩu" cát tường. Bà đồng lại dựa theo mệnh bàn kiểm tra bát tự của Dì Bảo, kết quả không tệ, sinh vào giờ Mão tính cách là hiền hòa nhất. Còn nói Dì Bảo bướng bỉnh, thực ra chẳng qua là ra oai làm màu, về nhà chồng nếu còn không hiểu chuyện, cứ áp gia pháp vào là đánh cho chừa thôi. Hơn nữa, người chị em dâu kia là kẻ lắm lời hay bới móc thị phi, lời của bà ta căn bản không cần để tâm. Bà đồng còn bán cho chú út một lá "Bách bảo phù", nói là có thể giữ cho hôn nhân hòa thuận, trừ tà tránh họa, còn có thể trị rụng tóc. Bà còn nói, "Dù có lá bách bảo thần phù này, cũng tuyệt đối không được tổ chức hỷ sự vào năm Thìn, năm Thìn bất lợi cho người tuổi Ngọ."

Nhà họ Trương đến hỏi cưới trước, người mai mối nói Dì Bảo và ông chủ Trương là trời sinh một cặp, lại thổi phồng gia thế nhà họ Trương, nói nhà họ Trương là gia tộc thủ công danh giá truyền đời, khen dinh thự nhà họ rộng lớn thế nào, vườn sau non bộ hồ cá đầy đủ, gian phòng đông đúc, đồ đạc bên trong đều là gỗ tử đàn thượng hạng làm ra, màu sắc thuần khiết, tựa như màu tím than tươi mới. Người mai mối còn nói, ông chủ Trương rất hào phóng, cũng không yêu cầu thầy thuốc nắn xương cho thêm nhiều của hồi môn, dù sao cô nương qua đó làm vợ lẽ, hay là cứ gửi một hũ cao thuốc phiện, một hũ Long cốt làm của hồi môn là được rồi? Thế này cũng không tính là nhiều, nhưng ý nghĩa phi phàm, cũng không đến nỗi làm nhục giá trị cô nương.

Thầy thuốc nắn xương cân nhắc kỹ lưỡng yêu cầu của nhà họ Trương. Ông cũng đã già rồi. Nhỡ mình có mệnh hệ gì, con gái phải làm sao đây? Còn nhà nào chịu lấy cô con gái này của ông nữa? Nó tùy hứng như vậy, tự làm tự chịu, mẹ mất sớm, chưa từng dạy nó cách làm vợ người ta. Quả thực, nếu để ông chọn, ông chủ Trương tiệm quan tài không phải là con rể lý tưởng nhất, nhưng ông cũng không muốn làm lỡ dở chuyện cả đời của con gái, vì thế ông nói chuyện ông chủ tiệm quan tài đến hỏi cưới cho Dì Bảo nghe.

Dì Bảo vừa nghe, rất khinh bỉ, Dì nói, "Họ Trương đó quá thô lỗ. Con có đi ăn sâu bọ cũng không chịu gả cho ông ta."

Thầy thuốc nắn xương đành khéo léo từ chối người mai mối nhà họ Trương nói: "Thật sự xin lỗi, con gái tôi cứ nghĩ đến chuyện phải rời bỏ lão già vô dụng này, là khóc đến trời đất tối tăm." Cái cớ này tuy vụng về, nhưng cũng tạm chấp nhận được, thế nhưng không quá một tuần, nhà thầy thuốc đã đồng ý lời hỏi cưới của chú út, khiến nhà họ Trương cảm thấy bị sỉ nhục tột cùng.

Sau khi tin tức Dì Bảo và chú út đính hôn lan ra, ông chủ Trương tiệm quan tài chạy đến Chu Khẩu Điếm, Dì Bảo vừa từ bên giếng múc nước về, bị ông ta làm cho giật mình. "Cô tưởng cô là ai? Dám cả gan sỉ nhục tôi, giễu cợt tôi một cách trắng trợn như vậy?"

"Rốt cuộc là ai sỉ nhục ai? Ông đòi tôi về làm thiếp, cưới về hầu hạ vợ ông. Tôi không đời nào làm nô lệ cho kiểu hôn nhân phong kiến này."

Dì muốn đi, nhưng ông chủ Trương túm chặt lấy cổ Dì, nói muốn bóp chết Dì, sau đó túm lấy cổ Dì lắc mạnh, như thể thực sự muốn vặn gãy đầu Dì, cuối cùng lại ném Dì xuống đất, chửi bới ầm ĩ, lời lẽ dơ bẩn, còn sỉ nhục người mẹ đã khuất của Dì Bảo.

Dì Bảo chật vật lắm mới thở được, cười lạnh nói: "Ông chỉ biết khoác lác, động tay động chân. Ông tưởng làm vậy là tôi sợ ông, là cảm thấy có lỗi với ông sao?"

Câu trả lời của ông chủ Trương khiến Dì Bảo cả đời cũng không quên được, ông ta nói: "Không bao lâu nữa, tao sẽ cho mày sống không bằng chết mỗi ngày, muốn chết cũng không xong."

Việc này Dì Bảo không nói với cha, cũng không nói với Hổ Sâm. Dì thấy không cần thiết để họ lo lắng. Hơn nữa, hà tất phải để vị hôn phu nghi ngờ, tưởng rằng cô đã làm chuyện gì có lỗi với ông chủ Trương chứ? Dù sao bao người cũng nói cô tính cách bướng bỉnh, việc gì cũng tự quyết. Có lẽ cô chính là như vậy, không sợ trách phạt, cũng không sợ mất mặt. Cô gần như là không sợ hãi gì cả.

Một tháng trước hôn kỳ, chú út đêm khuya đến phòng Dì Bảo. Chú khẽ nói: "Muốn nghe những lời nói tựa sao bay của nàng." Dì Bảo dẫn chú lên giường, chú út vội vã tận hưởng niềm vui động phòng hoa chúc. Thế nhưng khi chú âu yếm Dì, Dì Bảo cảm thấy một luồng gió lạnh thổi qua da thịt, không khỏi run rẩy toàn thân. Lần đầu tiên trong đời, Dì cảm thấy sợ hãi, sợ mình không chịu nổi loại hoan lạc chưa biết này.

Hôn kỳ định vào đầu năm Thìn. Thời điểm đầu xuân, mặt đất vẫn còn đóng băng. Sáng hôm đó, một thợ chụp ảnh dạo đến tiệm thầy thuốc nắn xương ở Chu Khẩu Điếm. Một tháng trước, ông ta bị ngã gãy tay, thầy thuốc nắn xương đã chữa trị giúp, vì vậy ông ta hứa ngày cưới sẽ chụp cho cô dâu một tấm ảnh coi như tiền chữa bệnh. Dì Bảo mặc bộ áo mùa đông đẹp nhất, cổ áo cao đính viền lông, đeo chiếc mấn thêu. Thợ ảnh bảo Dì cứ nhìn chằm chằm vào máy ảnh, Dì vừa nhìn, vừa nghĩ, cuộc sống của mình từ nay sẽ thay đổi hoàn toàn, trong lòng vừa vui mừng, lại vừa có chút lo âu. Dì loáng thoáng có dự cảm chẳng lành, nhưng lại nói không rõ không tỏ. Dì cố gắng nghĩ về những ngày tốt đẹp tương lai, lại chỉ thấy một mảnh mịt mù.

Trước khi lên đường đưa dâu, Dì Bảo thay bộ váy cưới đỏ, đội chiếc phượng quan lộng lẫy, vừa ra khỏi cửa nhà cha đã trùm khăn đỏ lên. Thầy thuốc nắn xương vay tiền thuê hai chiếc xe la, một chiếc chở của hồi môn cho nhà thông gia, chiếc kia là quần áo đồ trang điểm chăn đệm của cô dâu. Thầy thuốc nắn xương còn thuê bốn người khiêng kiệu đưa cô dâu, hai người đánh xe, một người thổi sáo chơi nhạc, còn có hai bảo vệ, đề phòng gặp cướp. Ông chuẩn bị cho con gái mọi thứ tốt nhất: chiếc kiệu hoa đẹp nhất, chiếc xe sạch sẽ nhất, những bảo vệ thân hình khỏe mạnh nhất, đều trang bị súng thật đạn thật. Trên một chiếc xe lớn chở đầy của hồi môn ông chuẩn bị cho con gái, một hũ thuốc phiện, một hũ Long cốt, trong tay thầy thuốc chỉ còn đúng hũ Long cốt cuối cùng đó. Ông từng nhiều lần khuyên con gái không cần lo lắng về chi phí. Sau đám cưới ông có thể lại đến Hầu Chủy động, đào thêm Long cốt về.

Đường đưa dâu đi được nửa đường, trong rừng nhảy ra hai tên cướp bịt mặt. Trong đó tên to con hét lớn: "Đại tặc Mông Cổ đến đây!" Dì Bảo lập tức nghe ra, giọng nói đó chính là ông chủ Trương tiệm quan tài. Đây là trò đùa kiểu gì vậy? Thế nhưng còn chưa đợi Dì mở miệng nói chuyện, đám bảo vệ đã vứt súng, phu gánh thuê vứt đòn gánh, tất cả đều tan tác như chim muông, ném kiệu của Dì Bảo xuống đất, Dì Bảo ngã bất tỉnh nhân sự.

Khi Dì Bảo tỉnh lại, trong cơn mơ hồ, nhìn thấy khuôn mặt của chú út. Là chú đã đưa Dì Bảo ra khỏi kiệu. Dì nhìn xung quanh, chỉ thấy rương của hồi môn của mình sớm đã bị cướp sạch, bảo vệ phu gánh đều đã trốn biệt tăm. Sau đó Dì lại nhìn thấy cha mình ngã bên mương đường, cổ gập lại một cách không tự nhiên, trên mặt sớm đã không còn chút huyết sắc. Dì đang mơ phải không? "Cha con," Dì nức nở, "Con muốn nhìn cha." Dì cố gắng ôm lấy thi thể cha, hoàn toàn không hiểu nổi tại sao lại xảy ra chuyện như thế này. Đúng lúc này, chú út nhặt khẩu súng bảo vệ vứt lại.

Chú hét lớn, "Tôi thề, dù mày là người hay ma, mày tàn hại cô dâu của tao thế này, tao nhất định phải tìm mày báo thù," nói rồi, chú bắn một phát lên trời, tiếng súng làm con ngựa của chú kinh hãi.

Dì Bảo không tận mắt chứng kiến con ngựa đó một cước đá chết chú út, nhưng Dì lại nghe thấy một tiếng động đáng sợ, tựa như trời long đất lở. Từ đó về sau, Dì nghe thấy tiếng cành cây gãy, tiếng than lửa nổ lép bép, cho đến tiếng cắt dưa hấu mùa hè, đều nhớ lại cảnh tượng này.

Đúng khoảnh khắc đó, Dì Bảo đồng thời mất cha mất chồng, trở thành quả phụ mồ côi. Dì cúi đầu nhìn trừng trừng vào thi thể người thân, lẩm bẩm nói, "Đây là lời nguyền độc địa." Liên tiếp ba ngày, Dì Bảo vẫn luôn không chợp mắt, đối diện với thi thể của cha và chú út, vô cùng hổ thẹn. Dì nói chuyện với thi thể, không màng kiêng kỵ vuốt ve đôi môi của người chết, đàn bà trong nhà đều sợ quỷ hồn chết oan sẽ nhập vào thân Dì, hoặc ở lại trong nhà không chịu đi.

Ngày thứ ba, ông chủ Trương mang đến hai cỗ quan tài. Dì Bảo vừa thấy ông ta liền hét lớn: "Hắn là kẻ sát nhân!" Dì trước là cầm cái kẹp than định đánh ông ta, sau lại vỗ vào quan tài khóc lớn. Các anh trai của chú út đành kéo Dì ra, xin lỗi ông chủ Trương rằng con bé này điên rồi, ông chủ Trương trả lời rằng thấy cô gái này đau thương như vậy, không khỏi khiến người ta thở dài. Thế nhưng Dì Bảo vẫn đau đớn tột cùng, đàn bà trong nhà đành phải dùng dải vải trói Dì lại từ tay đến chân, để Dì nằm trên giường của chú út, Dì vẫn cố vùng vẫy, như con bướm bị kẹt trong kén, sau đó bà cụ đút cho Dì một bát thuốc, thế là Dì Bảo lịm đi trong giấc ngủ, trong mơ Dì nằm cùng chú út, làm cô dâu của chú.

Khi Dì tỉnh lại, phát hiện mình nằm một mình trong bóng tối, dải vải trên người đã tháo ra, nhưng tứ chi vẫn rã rời. Trong phòng một mảnh tĩnh mịch. Dì tìm kiếm cha và chú út khắp nơi, đến chính sảnh, mới phát hiện thi thể đã không thấy đâu, sớm đã khâm liệm trong quan tài của ông chủ Trương mà hạ táng rồi. Dì đi tới đi lui trong nhà, khóc thề rằng muốn đi theo họ. Dì đi đến xưởng làm mực, muốn tìm một sợi dây, một lưỡi dao sắc, hay diêm quẹt, để có thể chết thảm như cha và chú út, không cần phải ở lại trên đời chịu đựng nỗi đau như thế này. Sau đó Dì nhìn thấy một nồi hồ mực. Dì múc ra một thìa, đưa vào trong lò, hồ mực càng cháy càng nóng, bén lửa, cháy thành một thìa ngọn lửa màu xanh. Dì cầm lấy, tay nghiêng đi, một ngụm nuốt xuống.

Bà cụ là người đầu tiên nghe thấy trong xưởng mực có tiếng ồn ào, sau đó đàn bà trong nhà đều chạy tới. Mọi người nhìn thấy Dì Bảo lăn lộn trên sàn nhà, đầy miệng toàn là máu và hồ mực, trong cổ họng phát ra tiếng rít. "Cứ như thể có rất nhiều con lươn đang bơi trong miệng," mẹ nói, "Nó chết đi thì tốt hơn."

Thế nhưng bà cụ nhất định phải cứu sống Dì. Đêm hôm trước, chú út báo mộng cho bà cụ, nói nếu Dì Bảo chết, quỷ hồn của hai người họ nhất định sẽ quậy phá gia trạch, tìm những kẻ không chịu thương xót Dì Bảo mà báo thù. Ai cũng biết, ác quỷ hồn xiêu phách lạc không chịu tan đi mới là đáng sợ nhất. Oan hồn sẽ làm căn phòng nồng nặc mùi tử khí, thối không thể ngửi, trong chớp mắt có thể làm đậu phụ chua đi, trên tường căn nhà có quỷ sẽ bò đầy đủ loại sâu bọ. Trong nhà nếu có quỷ, ngươi đừng hòng ngủ yên được một đêm.

Ngày qua ngày, bà cụ dùng khăn ướt ngâm dầu cao đắp lên vết thương của Dì Bảo. Bà mua Long cốt về, nghiền nát rắc lên cái miệng sưng vù của Dì Bảo. Sau đó bà chú ý thấy, không chỉ miệng Dì Bảo, bụng Dì cũng bắt đầu sưng to lên.

Trong mấy tháng tiếp theo, vết thương của Dì Bảo dần kết sẹo, bụng Dì cũng ngày càng lớn, trương lên như một quả bầu. Trước đây Dì trông rất xinh đẹp, nhưng nay, ngoại trừ gã mù đi ăn xin, ai nhìn thấy Dì cũng đều sợ hãi. Thấy tính mạng Dì đã không còn nguy hiểm, chỉ là không thể mở miệng nói chuyện được nữa, một ngày nọ, bà cụ nói với Dì: "Ta đã cứu mạng con, con và đứa trẻ sau này sẽ đi đâu đây? Hai mẹ con phải làm thế nào đây?"

Đêm đó, chú út lại báo mộng cho bà cụ một lần nữa, sáng hôm sau, bà cụ nói với Dì Bảo: "Con phải ở lại làm vú em cho đứa trẻ này. Bác dâu sẽ nói đây là con của bác ấy, nuôi lớn nó như con cháu nhà họ Lưu. Gặp người con cứ nói con là người bà con xa từ Bắc Kinh đến, trước đây sống trong am ni cô, sau này am cháy, suýt nữa bị thiêu chết. Khuôn mặt con ra nông nỗi này, không ai nhận ra là con đâu."

Cứ như vậy, Dì Bảo ở lại. Tôi trở thành lý do để Dì ở lại, lý do duy nhất để Dì sống tiếp. Năm 1916, năm tháng sau khi tôi chào đời, mẹ sinh ra Cao Linh, bà cụ ép mẹ nói tôi là con của bác ấy, nhưng mẹ làm sao có thể cách năm tháng đã sinh con thứ hai chứ? Vì vậy mẹ quyết định chờ thêm chút nữa. Chín tháng sau khi tôi ra đời, năm 1917, chọn một ngày hoàng đạo, mới tính là sinh nhật của Cao Linh.

Người lớn trong nhà đều biết chân tướng sự ra đời của hai chúng tôi. Trẻ con chỉ biết người lớn bảo sao thì làm vậy. Tôi tuy thông minh, nhưng cũng ngu ngơ. Tôi chưa từng dò hỏi chân tướng, cũng chưa từng nghĩ tại sao Dì Bảo lại đến cái tên cũng không có. Đối với người khác, dì chỉ là vú em, đối với tôi, dì là Dì Bảo. Cho đến khi tôi đọc được bản thảo của dì, mới hiểu dì rốt cuộc là ai.

"Ta là mẹ của con." Bản thảo đó viết như vậy.

Tôi đọc được bản thảo này là sau khi dì qua đời. Nhưng tôi lại nhớ dì từng dùng thủ ngữ nói cho tôi những điều này. Đôi mắt của dì cũng đang nói ra sự thật. Khi trời tối, dì dùng giọng nói rõ ràng nói cho tôi biết, nhưng tôi lại chưa từng nhận ra. Lời nói của dì tựa như sao băng, thoáng qua rồi biến mất.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.