Dục Anh Đường nằm trong một ngôi miếu hoang gần núi Long Cốt, men theo con đường mòn gập ghềnh hiểm trở từ phía nhà ga đi lên là tới. Lão Ngụy không muốn lừa phải vất vả, nên khi còn cách hai dặm nữa là đến nơi, ông đã thả tôi xuống. Ông bảo tôi xuống xe, từ biệt tôi, và cứ thế, tôi bắt đầu cuộc sống mới.
Tiết trời vào thu, cây cối trên núi đã rụng hết lá, trông như những bộ khung xương trụi lủi xếp thành hàng dài, canh giữ ngọn núi và tòa viện trên đỉnh núi. Tôi vừa bước chân vào cổng, chẳng có ai ra đón. Trước mắt là một ngôi miếu cũ nát, ván gỗ nứt nẻ, sơn cũng bong tróc cả. Trong sân lộ thiên, rất nhiều cô bé đang đứng đó, tất cả đều mặc áo sơ mi trắng, quần xanh. Các em xếp thành hàng, giống như quân lính, động tác đồng loạt cúi người, rồi hướng về phía trước, sang một bên, ra phía sau, lại đổi sang bên còn lại, dường như đang bị gió thổi đung đưa. Chưa hết, tôi lại thấy một cảnh tượng kỳ lạ: lần thứ hai trong đời, tôi lại nhìn thấy người Tây. Hai người đàn ông, một người Trung Quốc, một người Tây, cả hai cầm bản đồ cùng đi xuyên qua sân lớn, theo sau là một đội người, ai nấy đều cầm gậy dài. Tôi rất sợ, sợ mình xông nhầm, đụng phải đội quân ngầm của Cộng sản.
Tôi bước qua ngưỡng cửa, cảnh tượng trước mắt làm tôi giật bắn mình. Trước mặt toàn là người chết, phải đến hai ba chục người, trên thân thể đều phủ vải, đứng giữa đại sảnh, ven tường cũng có, cao thấp đủ cả. Tôi nghĩ ngay, đây chắc chắn là những xác chết được đưa về quê nhà. Dì Bảo từng kể với tôi, lúc dì còn nhỏ, có những nhà thuê pháp sư đọc chú thi triển phép thuật để áp tải xác chết về quê cũ. Dì Bảo nói, người áp tải xác chết chỉ đi đường vào ban đêm, là vì sợ gặp phải người sống, sợ bị hồn ma người chết quấn lấy thân. Ban ngày họ dừng chân nghỉ ở trong miếu. Lúc trước dì Bảo còn chẳng tin những lời đồn đại này, sau đó vào một đêm khuya, dì nghe thấy có tăng lữ gõ mõ, người trong thôn nghe tiếng đều bỏ chạy, nhưng dì Bảo lại trốn sau bức tường lén nhìn. Đầu tiên dì nghe thấy tiếng mõ "cộc cộc", rồi sau đó nhìn thấy họ, tổng cộng sáu người, đều như những con giòi lớn, hai chân chụm lại nhảy từng bước về phía trước, một bước dài tới một trượng. Dì Bảo bảo với tôi, rốt cuộc mình đã nhìn thấy cái gì, chính dì cũng không chắc chắn, chỉ biết rằng, từ sau lần đó rất lâu, tâm trí tôi luôn bất ổn, giống như trở thành một người khác vậy.
Tôi vừa định chạy ra ngoài, thì thoáng thấy bên dưới tấm vải phủ có đôi bàn chân màu vàng. Tôi nhìn kỹ lại, phát hiện những tấm vải đó không phải phủ lên người chết, mà là những bức tượng thần. Tôi bước tới, giở tấm vải phủ trên một bức tượng ra. Đây là Văn Xương Tinh, mũ miện cao vút, một tay cầm bút, một tay nâng mũ quan. "Sao chị lại giở vải ra?" một giọng nói vang lên. Tôi quay đầu lại, nhìn thấy một cô bé.
"Tại sao phải che lại?"
"Cô giáo nói đây là mê tín dị đoan, không có ảnh hưởng tốt đối với chúng em. Chúng em không được tin những ông thần già này, chỉ được tin vào Chúa của đạo Cơ Đốc."
"Cô giáo của em ở đâu?"
"Chị tìm ai?"
"Là người sắp xếp tiếp nhận Lưu Như Linh vào Dục Anh Đường." Cô bé chạy đi mất. Một lát sau, hai người phụ nữ phương Tây đứng trước mặt tôi.
Những nhà truyền giáo người Mỹ đó không ngờ tôi lại đến, mà tôi cũng không ngờ họ lại chính là người Mỹ. Tôi chưa từng nói chuyện với người Tây bao giờ, gặp họ, tôi chỉ mở to mắt nhìn chằm chằm, không thốt nên lời. Cả hai đều cắt tóc ngắn, một người tóc bạc trắng, một người tóc xoăn màu đỏ, cả hai đều đeo kính, vì thế làm tôi thấy họ cũng sàn sàn tuổi nhau.
"Rất xin lỗi, không có ai sắp xếp tiếp nhận cô cả," người tóc bạc nói với tôi bằng tiếng Trung.
"Rất xin lỗi," người kia lại nói: "Đa số trẻ mồ côi đều nhỏ tuổi hơn cô rất nhiều."
Sau đó họ hỏi tôi tên gì, nhưng tôi vẫn không nói được, thế là tôi dùng ngón tay vẽ trong không trung để viết tên mình. Hai người họ nói chuyện bằng tiếng Anh một lúc.
"Cô có biết mấy chữ đó không?" một người trong đó chỉ vào một tấm biểu ngữ chữ Hán hỏi tôi.
"Bão xan, thiết vật tư truân" (Ăn no, chớ nên tích trữ riêng), tôi đọc lên.
Một người trong số đó đưa cho tôi một cây bút chì và một tờ giấy. "Cô có thể viết mấy chữ này ra không?" Tôi làm theo. Cả hai đều kinh ngạc: "Con bé nhìn cũng không cần nhìn mà viết ra được!" Họ lại hỏi thêm rất nhiều câu hỏi: Tôi có biết viết chữ bằng bút lông không? Tôi đã từng đọc những sách gì? Sau đó, họ lại dùng tiếng nước ngoài nói chuyện một lúc, xong xuôi cả hai thông báo rằng tôi có thể ở lại.
Sau này tôi mới hiểu, lý do tôi có thể ở lại là vì tôi vừa có thể làm học sinh, vừa có thể làm thầy giáo. Nơi đó chỉ có bốn giáo viên, đều là những học sinh cũ của trường, hiện đang sống trong ba mươi sáu căn phòng của viện. Thầy Phan dạy những cô bé lớn tuổi hơn, tôi làm trợ giảng cho thầy. Năm mươi năm trước khi thầy còn là học sinh, ngôi trường này chỉ nhận nam sinh. Cô Vương dạy những cô bé nhỏ hơn, cô có một người chị góa phụ, chúng tôi gọi là Vương Mỗ Mỗ, chịu trách nhiệm chăm sóc những đứa bé nhỏ xíu, cô còn chỉ định vài cô bé lớn hơn giúp đỡ mình. Còn có một xơ Vu thấp người, bà bị gù lưng, bàn tay thô ráp cứng nhắc, giọng nói sắc nhọn. Xơ Vu phụ trách quản lý vệ sinh và phẩm hạnh, thường ngày dặn dò chúng tôi tắm rửa đúng giờ, giao nhiệm vụ cho chúng tôi mỗi tuần, còn thích sai bảo người đầu bếp và vợ ông ta, bắt họ làm việc này việc kia.
Tôi dần dần phát hiện hai nữ truyền giáo thực ra không cùng độ tuổi. Người tóc xoăn là cô Grutoff, cô ba mươi hai tuổi, người kia lớn tuổi gấp đôi cô. Cô Grutoff là y tá, cũng là giáo vụ trưởng của trường. Cô Dowler là viện trưởng Dục Anh Đường, cô đi tìm những người đáng đồng cảm với chúng tôi, cầu xin họ quyên góp cho chúng tôi. Cô Dowler còn dẫn dắt chúng tôi làm lễ mỗi ngày Chủ nhật, biên đạo cho chúng tôi diễn kịch, diễn những câu chuyện Cơ Đốc giáo, lúc dạy chúng tôi hát còn chơi đàn dương cầm đệm nhạc cho chúng tôi, cô luôn nói chúng tôi "hát lên nghe như thiên thần". Tất nhiên, lúc đó tôi không biết thiên thần là gì. Tôi cũng không biết hát.
Các nhà truyền giáo gọi chúng tôi là những cô gái Vận Mệnh Mới. Trong mỗi phòng học đều có một lá cờ gấm màu đỏ rất lớn, thêu mấy chữ này bằng chỉ vàng. Mỗi buổi chiều khi tập thể dục, chúng tôi đều phải hát vang bài ca Vận Mệnh Mới bằng tiếng Trung và tiếng Anh. Bài hát do cô Dowler viết:
Chúng tôi học tập, chúng tôi tiến bộ,
Chuyện hôn nhân chúng tôi tự làm chủ,
Chúng tôi làm việc, tự mưu sinh,
Vận mệnh cũ hãy quẳng ra sau lưng.
Vì tôi xuất thân từ thế gia chế mực, nên thầy Phan nói, tôi là học sinh viết thư pháp đẹp nhất từ trước đến nay của trường. Thầy thường kể cho chúng tôi nghe những chuyện về thời Đại Thanh, nói về triều đình thối nát thế nào, đến cả chế độ khoa cử cũng bại hoại. Nhưng mỗi khi nhắc đến chuyện cũ, thầy luôn tỏ ra rất buồn bã, có chút giọng điệu hoài niệm. Thầy bảo với tôi: "Như Linh à, nếu con sinh sớm vài năm, đầu thai làm con trai, chắc chắn sẽ trở thành một danh gia đại nho." Đây là nguyên văn lời thầy nói. Thầy còn nói chữ của tôi viết còn đẹp hơn cả con trai Khai Kinh mà thầy đích thân dạy dỗ.
Khai Kinh là một nhà địa chất, thực ra chữ anh viết rất đẹp, huống hồ hồi nhỏ anh bị bệnh bại liệt trẻ em, để lại di chứng, nửa người bên phải tương đối yếu. May mắn là, sau khi anh đổ bệnh, gia đình đã tiêu tốn một khoản tiền lớn, dùng hết sạch tiền tiết kiệm, mời những bác sĩ Trung Tây y giỏi nhất. Thế là Khai Kinh được cứu, chỉ là chân hơi khập khiễng, một bên vai hơi xệ xuống. Các nhà truyền giáo sau đó đã giúp anh kiếm được một suất học bổng, theo học tại một trường đại học danh tiếng ở Bắc Kinh, anh mới trở thành một nhà địa chất. Sau khi mẹ qua đời, anh về nhà chăm sóc cha, cũng vừa hay làm việc cùng các nhà khoa học ở hố khảo cổ.
Mỗi ngày anh đều đạp xe qua lại giữa Dục Anh Đường và hố khảo cổ, đạp thẳng đến trước cửa lớp của cha. Thầy Phan thường ngồi nghiêng ở ghế sau xe đạp, để con trai chở về phòng ở phía bên kia viện. Lúc họ đạp xe ngang qua, đám học sinh giáo viên chúng tôi đều phải gọi to: "Cẩn thận nhé, đừng để ngã đấy!"
Đã một thời gian dài rồi, tôi không đọc lại những thứ Dì Bảo viết cho tôi trước khi qua đời. Trước đó tôi luôn cố ý không nhìn đến, vì tôi biết nếu nhìn thấy những trang giấy đó, chắc chắn tôi sẽ khóc, xơ Vu nhìn thấy chắc chắn sẽ trách tôi tự buông thả, tự thương cảm trước mặt Tiểu Đinh và những đứa trẻ khác. Chiều Chủ nhật đó, tôi tìm được một phòng chứa đồ bỏ hoang, bên trong nhồi đầy những bức tượng thần nhỏ, toàn là mùi mốc. Tôi tìm một chỗ gần cửa sổ, dựa tường ngồi xuống, mở chiếc túi vải xanh bọc những trang giấy ra. Lần đầu tiên tôi chú ý, hóa ra Dì Bảo còn khâu một cái túi nhỏ trong bọc vải.
Trong túi có hai món báu vật. Món thứ nhất chính là miếng xương giáp cốt mà hồi nhỏ dì từng cho tôi xem, dì bảo với tôi, đợi khi tôi lớn lên, biết ghi nhớ sự việc, dì sẽ đưa miếng xương cốt đó cho tôi. Dì từng giữ miếng xương cốt này, cha dì cũng từng sưu tầm, nay lại truyền đến tay tôi. Tôi áp miếng xương cốt vào ngực. Tôi lại lấy món thứ hai ra. Đó là một bức ảnh nhỏ, người phụ nữ trẻ trong ảnh đầu đeo dải băng thêu, trên thân mặc áo bông, cổ áo dựng cao lên, tới tận bên má. Tôi giơ tấm ảnh lên hướng về phía ánh sáng. Chẳng lẽ đây là...? Tôi nhìn ra rồi, đây đúng là tấm ảnh của Dì Bảo trước khi gương mặt bị bỏng. Dì có đôi mắt mơ màng, lông mày hơi nhếch lên, lộ vẻ rất táo bạo, còn đôi môi của dì, thật đầy đặn, hơi trề ra, làn da thật mịn màng. Dì trong ảnh vô cùng xinh đẹp, nhưng không phải bộ dạng trong ký ức của tôi, tôi thấy rất buồn vì trong ảnh không phải là bộ dạng sau khi gương mặt dì bị bỏng, nhưng tôi càng nhìn, người trong ảnh càng trở nên quen thuộc. Lúc đó tôi mới nhận ra: gương mặt dì, hy vọng của dì, tri thức của dì, nỗi bi ai của dì, tất cả mọi thứ đó, giờ đây đều thuộc về tôi. Sau đó tôi khóc mãi khóc mãi, trong lòng tràn ngập sự vui sướng cùng lòng tự thương cảm.
Sau khi tôi sống ở Dục Anh Đường được hai năm, một buổi chiều nọ, cô Grutoff đưa cho tôi một lá thư, tôi nhận ra ngay nét chữ trên thư. Đó là buổi trưa, trong đại sảnh ồn ào náo nhiệt, nhưng tôi bỗng chốc không nghe thấy gì nữa. Các cô bé bên cạnh đều nhao nhao hỏi là thư ai gửi đến, trong thư viết những gì. Nhưng tôi trốn tránh họ, giống như con chó đói bảo vệ thức ăn, ôm chặt báu vật của mình không cho họ xem. Lá thư đó đến tận bây giờ tôi vẫn còn giữ. Trên thư viết:
"Chị gái yêu quý của em, xin lỗi vì không viết thư cho chị sớm hơn. Mỗi ngày trôi qua em đều nhớ chị, nhưng em không thể viết thư. Lão Ngụy không chịu nói cho em biết ông ấy đã đưa chị đến đâu. Mẹ cũng không chịu nói. Cho đến tận tuần trước khi em đi chợ, nghe người ta bàn tán, nói là hố khảo cổ bên núi Long Cốt lại bắt đầu náo nhiệt rồi, các nhà khoa học Trung Mỹ đều sống trong một ngôi miếu cũ, ở cùng với học sinh Dục Anh Đường. Sau đó em gặp thím, liền nói: 'Không biết Như Linh có gặp những nhà khoa học đó không, chị ấy ở gần như thế.' Thím trả lời, 'Ta nghĩ cũng có thể lắm.' Thế nên em mới biết tung tích của chị."
"Sức khỏe mẹ vẫn ổn, nhưng bà cứ càu nhàu mãi, nói ngày nào cũng làm lụng vất vả, ngón tay vĩnh viễn đen sì. Họ vẫn đang bán mạng làm việc, muốn bù đắp lại lượng mực bị mất trong trận hỏa hoạn. Cha và hai chú vì muốn xây dựng lại cửa tiệm ở Bắc Kinh, chỉ còn cách vay tiền và gỗ của ông chủ Trương làm nghề đóng quan tài. Kết quả là công việc kinh doanh nhà chúng ta, phần lớn lại rơi vào tay ông chủ Trương. Khi em kết hôn với Trương Phúc Nam, nhà họ tiếp nhận một phần việc kinh doanh của nhà chúng ta, Trương Phúc Nam chính là con trai thứ tư nhà họ Trương, cũng chính là người đáng lẽ chị phải gả cho."
"Mẹ nói nhà họ Trương còn chịu cưới con gái nhà chúng ta đã coi như là chúng ta may mắn rồi. Nhưng em không thấy may mắn, em lại thấy chị không gả vào nhà này mới là may mắn. Ngày qua ngày, mỗi miếng cơm em ăn, người ta đều phải nhắc nhở em về ân huệ của nhà họ đối với chúng ta. Chúng ta nợ gỗ nhà họ, món nợ lãi mẹ đẻ lãi con chồng chất hết lần này đến lần khác, chúng ta có cực khổ một trăm năm, người họ Lưu vẫn phải làm việc cho nhà họ Trương bọn họ. Mực nhà chúng ta cũng không bán được giá cao, bán chạy như trước nữa. Nói thật là, chất lượng cũng không còn như trước, giờ chất liệu chẳng bằng xưa, lại không còn Dì Bảo khắc hoa khắc chữ. Vì món nợ nhà chúng ta nợ người ta, em cũng chẳng có tiền tiêu vặt hàng tháng. Để mua tem gửi lá thư này, em còn phải cầm đồ một chiếc trâm cài."
"Em phải nói với chị, nhà họ Trương này căn bản không hề giàu có như chúng ta tưởng hồi còn nhỏ. Phần lớn gia sản nhà họ đều bị thuốc phiện làm tiêu tan hết cả. Một người chị dâu nói với em rằng thói xấu của Phúc Nam là từ nhỏ mà ra, hồi nhỏ vai bị trật khớp, mẹ anh ta liền cho anh ta hút thuốc phiện. Sau đó mẹ anh ta qua đời, có người nói là bị đánh chết, nhưng ông chủ Trương nói là bà ấy không cẩn thận ngã từ trên mái nhà xuống mà chết. Vợ kế ông chủ Trương cưới sau này, là một nàng hầu bị thất sủng của quân phiệt, quân phiệt này trước đây làm ăn với ông chủ Trương, dùng thuốc phiện đổi quan tài. Vợ kế này cũng nghiện món đó. Tên quân phiệt đó bảo ông chủ Trương, nếu ông ta dám làm hại bà ấy, hắn sẽ thiến ông ta, bắt ông ta làm thái giám. Ông chủ Trương cũng biết, quân phiệt không phải nói chơi, bởi vì ông ta cũng từng nhìn thấy có người vì không trả nổi nợ thuốc phiện cho quân phiệt mà bị mất tay mất chân."
"Nhà này đúng là một ngôi nhà của khổ nạn, ngày nào cũng phát điên, la hét, vĩnh viễn đều đang xoay xở tiền mua thuốc phiện. Nếu Phúc Nam có thể xẻ thịt em ra bán để đổi thuốc phiện, anh ta chắc chắn sẽ làm vậy. Anh ta giữ em lại thuần túy là vì tin rằng em biết chỗ nào có thêm xương rồng. Anh ta cứ lải nhải với em suốt ngày, bắt em nói cho anh ta biết xương rồng giấu ở đâu, nói chỉ cần em nói ra, chúng ta có thể phát tài. Giá mà em thực sự biết, em đã bán xương rồng đi, sớm ngày thoát khỏi cái nhà này rồi. Bán cả chính em cũng được. Nhưng em có thể đi đâu đây?
Chị gái à, thư của em nếu làm chị buồn hoặc lo lắng, em rất xin lỗi. Em viết những điều này chỉ để chị biết tại sao em không đi tìm chị, còn nữa là so với cảnh này chị đã rất may mắn rồi. Tuyệt đối đừng viết thư lại cho em, việc đó chỉ làm em thêm rắc rối thôi. Giờ em đã biết chị ở đâu, em sẽ viết thư cho chị lần nữa. Chúc chị khỏe mạnh bình an. Em gái của chị, Lưu Cao Linh."
Đọc xong, lá thư vẫn run rẩy trong tay tôi. Tôi còn nhớ mình từng ghen tị với Cao Linh. Giờ đây số phận của em ấy còn chẳng bằng tôi. Xơ Vu nói chỉ cần chúng ta nghĩ đến việc còn có người sống bi thảm hơn chúng ta, thì chúng ta nên cảm thấy hạnh phúc. Nhưng tôi lại chẳng thấy vui chút nào.
Thế nhưng thời gian trôi qua, tôi dần dần không còn thấy quá đau khổ nữa. Tôi chấp nhận cuộc sống của mình. Có lẽ chính vì trí nhớ kém nên mới làm tôi bớt đau khổ đi phần nào. Có lẽ thuần túy là sức sống trong tôi đang dần trở nên mạnh mẽ. Tôi chỉ biết, bản thân mình so với lúc mới đến Dục Anh Đường, đã hoàn toàn biến thành một người khác.
Đến lúc đó, tôi cũng trở thành một giáo viên chính thức, không còn là cô bé đơn độc trước kia nữa, tôi đã phải lòng con trai thầy Phan.
Chúng tôi đã bắt đầu như thế này đây.
Hằng năm cứ bắt đầu từ đêm Giao thừa, học sinh của chúng tôi bắt đầu viết câu đối Tết mang ra chợ phiên Chu Khẩu Điếm để bán. Một ngày nọ, tôi cùng thầy Phan và các bạn học đang viết câu đối trong lớp, trên bàn dưới đất đều trải đầy giấy đỏ dài.
Như thường lệ, Khai Kinh đạp xe đến đón cha về phòng. Lúc đó mặt đất núi Long Cốt đã đông cứng, không thể làm việc ngoài trời, vì vậy Khai Kinh dành phần lớn thời gian để vẽ biểu đồ, viết báo cáo, đúc mô hình nơi khai quật xương cốt, vân vân. Hôm đó Khai Kinh đến đặc biệt sớm, thầy Phan vẫn chưa chuẩn bị về. Thế là Khai Kinh đề nghị giúp chúng tôi viết câu đối. Anh đứng bên cạnh bàn cạnh tôi. Có thêm người giúp, tôi rất vui.
Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra cách làm của anh rất khác thường. Tôi viết chữ gì, anh cũng viết theo chữ đó. Tôi viết "Phú", anh cũng viết "Phú", tôi "Dụ", anh cũng viết "Dụ". Tôi viết "Vạn sự như ý", anh cũng viết theo "Vạn sự như ý", từng nét từng nét, đều theo tôi viết, nhịp điệu cũng giữ đồng nhất với tôi. Cứ như vậy, hai người chúng tôi lại giống như đang trình diễn điệu nhảy vậy. Tình yêu của chúng tôi đã bắt đầu như thế, cùng chuyển hướng, cùng chấm điểm, theo hơi thở cũng dần dần trở nên đồng điệu, cây bút trong tay cũng cùng nhau nhấc lên.
Vài ngày sau, tôi cùng học sinh mang câu đối đến chợ. Khai Kinh đi cùng tôi, bước cạnh bên tôi, vừa đi vừa trò chuyện nhỏ nhẹ. Trong tay anh cầm một quyển sách nhỏ, trên giấy xuyến vẽ tranh thủy mặc, ngoài bìa ghi: Bốn cảnh giới của cái đẹp. "Muốn biết trong đó nói gì không?" anh hỏi. Tôi gật đầu. Bất kỳ ai vô tình nghe được cuộc trò chuyện của chúng tôi, chắc chắn sẽ tưởng chúng tôi đang nói chuyện giảng dạy ở trường, thực ra, anh đang bộc bạch tình yêu.
Anh lật các trang sách. "Dù là hình thức cái đẹp nào, đều có bốn cảnh giới khác nhau. Hội họa, thư pháp, văn học, âm nhạc, vũ đạo đều như thế cả. Cảnh giới thứ nhất là vẻ đẹp của kỹ nghệ." Chúng tôi cùng nhìn vào một trang trong sách, trên đó vẽ hai khóm trúc giống hệt nhau. Đây là một bức tranh rất phổ biến, vẽ rất chân thực, chi tiết sống động như thật, cho thấy độ dẻo dai và sức sống của cây trúc. Anh nói tiếp, "Vẻ đẹp của kỹ nghệ chỉ việc có thể lặp lại những nét bút giống nhau, lực độ giống nhau, nhịp điệu giống nhau và vẽ ra bức tranh giống hệt một cách chân thực. Nhưng loại vẻ đẹp này, chỉ là sự tầm thường của cái đẹp."
"Cảnh giới thứ hai," Khai Kinh nói tiếp, "là vẻ đẹp của khí thế." Chúng tôi cùng lật xem bức tranh khác, trên đó vẽ vài thân trúc. "Bức tranh này đã vượt xa vẻ đẹp của kỹ nghệ," anh nói. "Nó đẹp một cách độc đáo, bức tranh lại càng đơn giản hơn, họa sĩ không nhấn mạnh thân trúc, mà là lá trúc. Bức tranh truyền tải ra vừa có sự kiên cường của cây trúc, lại vừa có một luồng thanh khí tĩnh lặng. Nếu họa sĩ đạo hạnh không đủ, chỉ có thể truyền tải một trong những ý nghĩa đó, mà đành bỏ qua ý nghĩa kia."
Anh tiếp tục lật trang sách. Bức tranh này chỉ có một thân trúc. "Cảnh giới thứ ba gọi là thần vận," anh nói. "Gió trong không dấu vết, bóng trúc đung đưa, thân trúc phần lớn dùng hư bút, gọi là ý đến mà bút không đến. Nhưng cái bóng hư ảo kia, lại dường như sống động hơn những cành lá thật bị ánh sáng làm cho loang lổ. Người mà nhìn thấy bức tranh này, chắc chắn sẽ tấm tắc tán thưởng. Ngay cả cùng một vị họa sĩ, cũng không cách nào tái hiện lại cảm giác của bức tranh này, chính là cái cảm giác bóng trúc đung đưa đó."
"Còn có gì có thể đẹp hơn thần vận nữa chứ?" tôi khẽ nói, lòng tự biết mình sắp sửa biết đáp án.
"Cảnh giới thứ tư này," Khai Kinh nói tiếp, "còn tuyệt vời hơn thần vận, chúng sinh thế gian đều vô thức tìm kiếm vẻ đẹp này, nhưng chỉ khi bạn không cố tình tìm kiếm, mới có thể cảm nhận được sự tồn tại của nó. Vẻ đẹp này chỉ khi bạn không tốn tâm cơ, không tồn ý xa vời, không biết kết quả sẽ ra sao, mới xuất hiện. Nó đẹp một cách đơn thuần, đơn thuần như đứa trẻ ngây thơ vậy. Khi nghệ thuật đại sư già rồi, mất đi tâm trí, tìm lại được tấm lòng xích tử mới có thể giành lại được cảnh giới này."
Anh lật trang sách. Trang tiếp theo có một hình bầu dục đơn giản. "Bức tranh này gọi là 'Quản trung khuy trúc' (Nhìn trúc qua ống). Nếu bạn nhìn từ trong ống lên trên, xuống dưới, cái có thể nhìn thấy chỉ là hình bầu dục này mà thôi. Chỉ là thân ở trong đó, cũng không giải thích ra được đầu đuôi ngọn ngành. Mọi thứ trên thế gian đều liên quan lẫn nhau, đây chính là sự kỳ diệu của Đạo trời, hình bầu dục tô đen với một tờ giấy trắng, người với thân trúc, người xem tranh với họa sĩ, cũng đều không nằm ngoài lẽ đó."
Khai Kinh nói xong, im lặng một lúc lâu, cuối cùng nói, "Gần đây, anh thường nhìn thấy vẻ đẹp của Đạo trời trong rất nhiều thứ," anh nói, "Em có thấy không?"
Hai chúng tôi đều biết, cái "Đạo trời" mà chúng tôi nói thực ra có ý là hai người vô tình yêu nhau, giống như hai khóm trúc, theo thế gió mà nghiêng mình dựa vào nhau. Thế là chúng tôi dựa sát vào nhau, hôn nhau, đắm chìm trong thế giới của hai người.