Chúa Tể Jim

Lượt đọc: 154 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chapter 4

❊ ❊ ❊

Khoảng một tháng sau, khi Jim trả lời những câu hỏi dồn dập nhằm kể lại sự thật một cách thành thật về trải nghiệm ấy, anh đã nói về con tàu thế này: ‘Nó vượt qua bất cứ thứ gì ở dưới đó dễ dàng như một con rắn trườn qua một chiếc gậy.’ Hình ảnh ví von ấy quả thực rất sát: những câu hỏi đang nhắm thẳng vào các sự kiện, và phiên điều trần chính thức đang diễn ra tại tòa án an ninh của một thương cảng phương Đông. Anh đứng nổi bật trong bục khai báo, với hai má hừng hực trong một căn phòng mát mẻ và cao ráo; chiếc khung quạt trần lớn khẽ đưa qua đưa lại ở tít trên đầu, và từ phía dưới, vô số ánh mắt đang nhìn anh từ những khuôn mặt ngăm đen, những khuôn mặt da trắng, những khuôn mặt da đỏ, từ những đôi mắt chăm chú, như bị thôi miên, cứ như thể tất cả những con người đang ngồi ngay ngắn trên những hàng ghế dài hẹp ấy đã bị cuốn hút bởi vẻ mê hoặc từ giọng nói của anh. Giọng anh rất lớn, vang lên đầy kinh ngạc trong tai chính anh, đó là âm thanh duy nhất có thể nghe thấy trên thế gian này, bởi vì những câu hỏi sắc bén đến rợn người ép buộc anh phải đáp lời dường như tự hình thành trong nỗi thống khổ và đớn đau tận đáy lòng anh — vọng đến anh đầy nhức nhối và lặng lẽ như tiếng chất vấn khủng khiếp từ lương tâm mỗi người. Bên ngoài tòa án, ánh mặt trời chói chang — bên trong là luồng gió từ những chiếc quạt lớn khiến người ta rùng mình, là nỗi hổ thẹn khiến người ta nóng bừng, là những ánh mắt chăm chú mang cái nhìn sắc nhọn như dao đâm. Gương mặt của vị thẩm phán chủ tọa, nhẵn nhụi và điềm tĩnh, nhìn anh xanh xao chết chóc giữa khuôn mặt đỏ gay của hai hội thẩm hàng hải. Ánh sáng từ ô cửa sổ lớn sát trần rọi từ trên cao xuống đầu và vai ba vị quan tòa, làm nổi bật họ một cách dữ dội giữa khung cảnh mờ ảo của phòng xử án rộng lớn, nơi mà cử tọa trông giống như những cái bóng đang dán mắt dõi theo. Họ cần sự thật. Sự thật! Họ đòi hỏi anh phải đưa ra sự thật, cứ như thể sự thật có thể giải thích được bất cứ điều gì!

‘Sau khi anh kết luận rằng mình đã va phải một vật gì đó nổi mấp mé mặt nước, giả sử là một xác tàu đắm ngập nước, anh đã được thuyền trưởng ra lệnh đi về phía trước để kiểm tra xem có thiệt hại gì không. Anh có nghĩ điều đó là hợp lý dựa vào lực va đập không?’ vị hội thẩm ngồi bên trái hỏi. Ông có một bộ râu quai nón mỏng, gò má cao, và với cả hai khuỷu tay đặt trên bàn, ông đan hai bàn tay gân guốc lại trước mặt, nhìn Jim bằng đôi mắt xanh đầy trầm tư; người kia, một kẻ nặng nề và đầy vẻ khinh miệt, ngả người ra sau ghế, cánh tay trái duỗi thẳng hết cỡ, gõ nhịp nhàng bằng những đầu ngón tay lên tấm khăn thấm mực: ở chính giữa, vị thẩm phán ngồi thẳng lưng trong chiếc ghế bành rộng rãi, đầu nghiêng nhẹ sang một vai, hai tay khoác trước ngực và có một vài bông hoa cắm trong chiếc bình thủy tinh đặt cạnh lọ mực.

‘Tôi không nghĩ vậy,’ Jim đáp. ‘Tôi được bảo là không gọi ai và không gây ra tiếng động nào vì sợ tạo ra sự hoảng loạn. Tôi thấy sự phòng ngừa đó là hợp lý. Tôi lấy một trong những ngọn đèn treo dưới mái hiên và đi về phía trước. Sau khi mở cửa sập mũi tàu, tôi nghe thấy tiếng nước khỏa ở trong đó. Tôi bèn hạ đèn xuống hết chiều dài sợi dây, và thấy khoang mũi tàu đã ngập nước hơn một nửa. Lúc đó tôi biết rằng chắc chắn có một lỗ thủng lớn bên dưới mực nước.’ Anh ngừng lại.

‘Vâng,’ vị hội thẩm to con nói với một nụ cười mơ màng hướng về tấm khăn thấm mực; những ngón tay ông không ngừng chuyển động, chạm vào mặt giấy không một tiếng động.

‘Lúc đó tôi không nghĩ đến nguy hiểm. Có lẽ tôi hơi giật mình: mọi chuyện diễn ra trong một không gian tĩnh lặng và quá đỗi bất ngờ. Tôi biết rằng trên tàu không còn vách ngăn nào khác ngoài vách ngăn va chạm dùng để phân cách khoang mũi với hầm hàng trước. Tôi quay lại để báo cáo thuyền trưởng. Tôi gặp kỹ sư phó đang lượm người đứng dậy ở chân thang cầu dẫn lên đài chỉ huy: anh ta có vẻ choáng váng, và bảo tôi rằng anh ta nghĩ cánh tay trái của mình đã bị gãy; anh ta đã trượt chân ở bậc trên cùng khi đang trèo xuống lúc tôi ở mũi tàu. Anh ta kêu lên, “Chúa ơi! Cái vách khốn kiếp đó sẽ sụp xuống trong vòng một phút nữa, và cái thứ chết tiệt đó sẽ chìm nghỉm xuống dưới chân chúng ta như một cục chì.” Anh ta đẩy tôi ra bằng tay phải và chạy vượt lên trước tôi theo lối cầu thang, vừa leo vừa la hét. Cánh tay trái của anh ta buông thõng bên sườn. Tôi theo lên kịp lúc để thấy thuyền trưởng lao tới chỗ anh ta và đánh ngã ngửa anh ta ra sàn. Ông không đánh thêm lần nào nữa: ông đứng cúi người xuống phía trên anh ta và nói bằng giọng giận dữ nhưng khá trầm. Tôi đoán chắc ông đang hỏi tại sao quỷ tha ma bắt anh ta lại không đi khóa máy tàu lại, thay vì làm ầm ĩ chuyện đó trên boong. Tôi nghe ông nói, “Đứng dậy! Chạy đi! Biến mau!” Ông ta cũng chửi thề. Viên kỹ sư trượt xuống chiếc thang mạn phải và lao bổ vòng qua mái che giếng trời để đến lối xuống buồng máy nằm ở mạn trái. Anh ta vừa chạy vừa rên rỉ. . . .’

Anh nói chậm rãi; anh nhớ lại rất nhanh và vô cùng sống động; anh có thể tái hiện lại như một tiếng vọng tiếng rên rỉ của người kỹ sư để cung cấp thông tin tốt hơn cho những con người đang khao khát tìm kiếm sự thật ấy. Sau cảm giác phản kháng ban đầu, anh đã ngả theo quan điểm cho rằng chỉ có sự chính xác tỉ mỉ trong từng lời khai mới có thể lột tả được sự kinh hoàng thực sự ẩn sau lớp vỏ bề ngoài đáng sợ của sự việc. Những sự thật mà những con người đó vô cùng khao khát được biết đã từng hiển hiện, hữu hình, rành rành trước các giác quan, chiếm giữ vị trí của chúng trong không gian và thời gian, đòi hỏi để tồn tại một chiếc tàu hơi nước nặng một nghìn bốn trăm tấn và hai mươi bảy phút tính theo đồng hồ; chúng tạo thành một tổng thể có đường nét, có sắc thái biểu cảm, một diện mạo phức tạp có thể được ghi khắc bằng thị giác, và còn một điều gì đó nữa, một thứ vô hình, một linh hồn chỉ đạo của sự diệt vong ẩn náu bên trong, tựa như một tâm hồn hiểm độc trong một thể xác đáng tởm. Anh rất muốn làm sáng tỏ điều này. Đây không phải là một vụ việc thông thường, mọi thứ trong đó đều mang ý nghĩa vô cùng quan trọng, và thật may mắn là anh nhớ được mọi chi tiết. Anh muốn tiếp tục nói vì sự thật, có lẽ cũng vì chính bản thân mình nữa; và trong khi lời lẽ của anh rất đỗi cẩn trọng, tâm trí anh lại quay cuồng qua vòng vây khít khao của những sự kiện vừa trồi lên xung quanh nhằm tách biệt anh khỏi phần còn lại của đồng loại: nó giống như một sinh vật, khi nhận ra mình bị giam cầm bên trong một vòng rào những chiếc cọc cao, cứ lao đi cuống cuồng trong đêm tối, cố gắng tìm lấy một điểm yếu, một khe hở, một lối để leo qua, một lối đi nào đó để có thể chui qua và trốn thoát. Hoạt động tâm trí đáng sợ ấy khiến đôi lúc anh phải ngập ngừng trong lời nói. . . .

‘Thuyền trưởng cứ đi qua đi lại trên đài chỉ huy; ông có vẻ khá bình tĩnh, chỉ là ông vấp ngã mấy lần; và có lần khi tôi đứng nói chuyện với ông, ông đâm sầm vào người tôi cứ như thể bị mù lòa thực sự. Ông không đưa ra câu trả lời dứt khoát nào cho những gì tôi cần báo cáo. Ông lẩm bẩm một mình; tất cả những gì tôi nghe được chỉ là vài từ nghe như “hơi nước khốn kiếp!” và “hơi nước chết tiệt!” — thứ gì đó liên quan đến hơi nước. Tôi nghĩ rằng. . .’

Anh bắt đầu lan man; một câu hỏi đúng trọng tâm đã cắt ngang lời anh, tựa như một niềm đau nhói, và anh cảm thấy vô cùng chán nản cùng kiệt sức. Anh sắp sửa nói đến điều đó, anh sắp nói đến điều đó — và giờ đây, bị chặn đứng một cách thô bạo, anh buộc phải trả lời bằng có hoặc không. Anh trả lời một cách thành thật bằng một tiếng ‘Vâng, tôi có’ cộc lốc; với gương mặt khôi ngô, vóc dáng cao lớn, cùng đôi mắt trẻ trung đầy u ám, anh giữ thẳng bờ vai trên bục khai báo trong khi tâm hồn đang quằn quại đớn đau bên trong. Anh lại bị bắt phải trả lời một câu hỏi khác cũng sát sạt vào vấn đề như thế nhưng hoàn toàn vô ích, rồi lại tiếp tục chờ đợi. Miệng anh khô khốc một cách nhạt nhẽo, cứ như thể anh vừa ăn phải bụi đất, rồi lại mặn chát và đắng ngắt như vừa uống nước biển. Anh lau vầng trán đẫm mồ hôi, đưa lưỡi liếm đôi môi nứt nẻ, cảm thấy một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng. Vị hội thẩm to con đã sụp mí mắt, và tiếp tục gõ nhịp không một tiếng động, đầy lãnh đạm và ủ rũ; ánh mắt của vị hội thẩm còn lại nhìn qua những ngón tay đan vào nhau bị cháy nắng dường như ngời lên sự tử tế; vị thẩm phán nghiêng người về phía trước; khuôn mặt tái nhợt của ông lững lờ gần những lẵng hoa, rồi ngả nghiêng sang một bên thành ghế, ông tỳ thái dương vào lòng bàn tay. Luồng gió từ quạt trần cuộn xuống những mái đầu, xuống những người bản xứ mặt ngăm đen quấn trong những lớp vải vóc rộng thùng thình, xuống những người châu Âu ngồi sát cạnh nhau trong bộ đồ vải thô nóng bức ôm sát vào người như lớp da thịt, và tay cầm những chiếc mũ cõng bằng bấc tròn trịa trên đầu gối; trong khi lướt đi dọc theo các bức tường, những tên lính hầu tòa với chiếc áo khoác dài trắng toát được cài khuy chặt, nhanh nhẹn thoăn thoắt qua lại bằng đôi chân trần, thắt lưng đỏ, đội khăn turban đỏ trên đầu, lặng lẽ như những bóng ma và luôn cảnh giác như những chú chó săn.

Ánh mắt của Jim, lơ đễnh trong khoảng trống giữa các câu trả lời, dừng lại ở một người đàn ông da trắng ngồi tách biệt với những người khác, với gương mặt phờ phạc và đượm buồn, nhưng có ánh mắt tĩnh lặng nhìn thẳng, đầy vẻ quan tâm và rành mạch. Jim trả lời một câu hỏi khác và cảm thấy muốn thét lên, ‘Thế này thì có ích gì chứ! có ích gì đâu!’ Anh khẽ gõ mũi chân xuống sàn, cắn môi, và hướng ánh nhìn đi nơi khác qua những mái đầu. Anh bắt gặp ánh mắt của người đàn ông da trắng ấy. Cái nhìn hướng về phía anh không phải là cái nhìn sững sờ bị thôi miên như những người khác. Đó là một hành động của ý chí đầy hiểu biết. Giữa hai câu hỏi, Jim đã quên bẵng bản thân để có đôi chút thời gian suy nghĩ. Gã này — ý nghĩ phớt qua — nhìn mình cứ như thể hắn có thể nhìn thấy ai đó hoặc thứ gì đó qua vai mình. Anh đã từng gặp người đàn ông đó trước đây — có lẽ ở trên phố. Anh chắc chắn là mình chưa từng nói chuyện với người ta. Đã mấy ngày nay, rất nhiều ngày nay, anh không nói chuyện với ai cả, mà chỉ ôm lấy những cuộc trò chuyện thầm lặng, lủng củng và vô tận với chính mình, giống như một tên tù nhân cô độc trong xà lim hoặc như một kẻ lữ hành lạc lối giữa hoang mạc. Hiện tại anh đang trả lời những câu hỏi chẳng có mấy ý nghĩa dù chúng có mục đích riêng, nhưng anh hoài nghi liệu mình còn có thể cất lên lời nào nữa hay không chừng suốt quãng đời còn lại. Âm thanh từ những lời khai thật lòng của chính anh đã củng cố thêm suy nghĩ có tính toán rằng ngôn từ không còn chút giá trị nào đối với anh nữa. Người đàn ông kia dường như nhận thức được nỗi khốn cùng không lối thoát của anh. Jim nhìn ông ta, đoạn kiên quyết quay đi, tựa như sau một cuộc chia tay vĩnh viễn.

Và sau này, rất nhiều lần, ở những góc trời xa xôi trên thế giới, Marlow đã tỏ ra sẵn sàng nhớ về Jim, nhớ về anh một cách tường tận, chi tiết và bằng lời.

Có lẽ đó là sau bữa tối, trên một hiên nhà được rủ bóng bởi những tán lá bất động và ngập tràn hoa lá, trong màn sương chập choạng điểm xuyết những đốm đỏ rực từ đầu mẩu xì gà. Khối thân dài ngoẵng của từng chiếc ghế mây che chở cho một thính giả lặng câm. Thỉnh thoảng một đốm sáng đỏ nhỏ lại chuyển động đột ngột, và bừng sáng để soi rỏ những ngón tay của một bàn tay uể oải, một phần khuôn mặt đang chìm trong sự tĩnh lặng sâu thẳm, hoặc lóe lên một tia sáng đỏ thẫm vào một đôi mắt đăm chiêu bị che khuất bởi một phần vương trán phẳng lặng; và ngay từ lời nói đầu tiên thốt ra, cơ thể của Marlow, đang duỗi thẳng nghỉ ngơi trên ghế, bỗng trở nên vô cùng tĩnh mịch, cứ như thể tâm hồn anh đã bay ngược về dòng chảy thời gian và đang cất lời qua đôi môi từ cõi quá khứ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.