Chiếc Nellie, một con thuyền buồm kiểu yawl chuyên hành trình ven biển, thả neo đu đưa theo chiều gió mà chẳng một cánh buồm nào rung động, nay đã yên vị. Nước triều vừa lên, gió gần như lặng, và vì chuẩn bị xuôi dòng sông, cách duy nhất lúc bấy giờ là neo thuyền lại và chờ triều chuyển hướng.
Khúc cửa sông Thames mở ra trước mắt chúng tôi như điểm khởi đầu của một thủy lộ vô tận. Ngoài khơi xa, biển và trời hòa quyện vào nhau không một đường ráp nối, và giữa không gian lấp lánh ấy, những cánh buồm ngả màu sạm nắng của các chiếc sà lan đang trôi theo dòng triều dường như đứng yên trong từng cụm vải bạt đỏ chót vút nhọn, điểm xuyết những tia chớp phản chiếu từ sào buồm được quét vec-ni. Một màn sương mờ phủ lấy đôi bờ thấp lè tè vươn ra biển trong một sự phẳng lặng đến mức nhạt nhòa. Bầu không khí tối sầm lại phía trên Gravesend, và xa hơn nữa về phía sau dường như ngưng tụ thành một nỗi u buồn ảm đạm, bất động bao trùm lên thị trấn lớn nhất và vĩ đại nhất trên trái đất.
Viên Giám đốc Công ty chính là thuyền trưởng kiêm chủ nhân của chúng tôi. Bốn chúng tôi trìu mến dõi theo tấm lưng anh khi anh đứng ở mũi tàu hướng tầm mắt ra khơi. Trên cả dòng sông chẳng có bóng dáng thứ gì mang nét hải hồ đậm nét đến thế. Anh trông giống như một hoa tiêu, mà đối với một hải thủ thì đó chính là hiện thân của sự tin cậy. Thật khó mà hình dung công việc của anh lại không nằm ngoài cửa sông lấp lánh kia, mà nằm đằng sau anh, ẩn khuất trong màn sương u ám đang bao trùm.
Giữa chúng tôi có sẵn sợi dây liên kết của biển cả, như tôi đã từng đề cập ở đâu đó. Ngoài việc gắn kết trái tim chúng tôi qua những khoảng thời gian xa cách dài đằng đẵng, nó còn mang lại một hiệu quả là khiến chúng tôi biết dung thứ cho những câu chuyện phiếm — và thậm chí cả những niềm tin — của nhau. Viên Luật sư — người bạn già tuyệt vời nhất — vì tuổi cao đức trọng nên được hưởng chiếc đệm duy nhất trên boong tàu, và đang nằm trên tấm thảm độc nhất ấy. Viên Kế toán đã lôi ra một hộp quân cờ domino, tay nghịch ngợm những quân xương ấy như một kiến trúc sư. Marlow ngồi khoắt chân ở tận đuainh thuyền, tựa lưng vào cột buồm mizzen. Má anh hóp lại, nước da vàng vọt, lưng thẳng tắp, mang vẻ khắc khổ, và với đôi buông thõng, lòng bàn tay hướng ra ngoài, anh trông giống hệt một pho tượng thần. Viên giám đốc, sau khi chắc chắn mỏ neo đã cắm thật chắc, liền đi về phía đuôi tàu và ngồi xuống giữa chúng tôi. Chúng tôi lười biếng trao đổi vài câu. Sau đó, trên du thuyền chìm vào im lặng. Vì lý do nào đó, chúng tôi không bắt đầu ván cờ domino ấy. Chúng tôi thấy lòng mình trầm ngâm, chẳng thiết làm gì ngoài việc đẫn dờ ngắm nhìn. Ngày tàn trong sự thanh thản đầy tĩnh lặng và vẻ rực rỡ tinh khôi. Mặt nước tỏa sáng hiền hòa; bầu không gian không một hạt bụi là một cõi mênh mông hiền hòa tràn ngập ánh sáng tinh khôi; chính lớp sương mù trên vùng đầm lầy Essex cũng giống như một tấm vải dệt mỏng manh và rực rỡ, giăng từ những ngọn đồi thoai thoải sâu trong đất liền, phủ lên đôi bờ thấp những nếp gấp mỏng như lụa. Chỉ có màn sương u ám ở hướng tây, đang bao trùm các khúc sông phía trên, là mỗi phút lại càng trở nên tối sậm hơn, như thể đang nổi giận trước sự cận kề của hoàng hôn.
Và cuối cùng, trong nhịp sà xuống uốn lượn và chẳng thể nhận ra, mặt trời lấp ló hạ thấp, chuyển từ màu trắng rực rỡ sang đỏ xỉn không tia sáng và không hơi ấm, tựa như sắp sửa tắt ngấm đi đột ngột, bị đánh gục bởi cái chạm của lớp sương u tối đang bao trùm lên đám đông loài người.
Ngay lập tức, một sự biến đổi bao trùm mặt nước, và vẻ thanh thản trở nên bớt chói lọi nhưng lại sâu sắc hơn. Dòng sông cổ kính trên khúc sông rộng lớn nằm phẳng lặng vào lúc hoàng hôn, sau muôn đời phục vụ tận tụy cho dòng giống con người đã quần tụ bên bờ nó, trải dài ra trong vẻ trang nghiêm tĩnh lặng của một dòng thủy lộ dẫn đến tận cùng thế giới. Chúng tôi nhìn dòng sông đáng kính không phải trong ánh chói lọi phù du của một ngày ngắn ngủi đến rồi đi mãi mãi, mà trong ánh hào quang tôn nghiêm của những ký ức trường tồn. Và quả thực, chẳng có gì dễ dàng hơn đối với một người, theo cách nói thông thường, đã “theo nghiệp biển” với lòng kính trọng và trìu mensh, là gợi lên linh hồn vĩ đại của quá khứ trên những khúc hạ lưu của sông Thames. Dòng nước triều xuôi ngược trong sứ mệnh không ngừng nghỉ của nó, chất chứa biết bao ký ức về con người và tàu bè mà nó từng chở về cõi nghỉ ngơi của quê nhà hoặc ra trận địa hải hồ. Nó từng quen biết và phục vụ tất cả những nhân vật mà quốc gia tự hào, từ Sir Francis Drake đến Sir John Franklin, những hiệp sĩ đích thực, có tước hiệu hay không — những hiệp sĩ giang hồ vĩ đại của biển cả. Nó từng chuyên chở tất cả những con tàu mà tên tuổi tựa như ngọc ngà lấp lánh trong đêm tối thời gian, từ chiếc Golden Hind trở về với lườn tròn đầy ắp báu vật, để rồi được Nữ hoàng ghé thăm và bước ra khỏi câu chuyện truyền kỳ vĩ đại, cho đến hai chiếc Erebus và Terror, lên đường chinh phục những chân trời khác — để rồi không bao giờ trở về. Nó đã tường tận những con tàu và những con người ấy. Họ từng giương buồm khởi hành từ Deptford, từ Greenwich, từ Erith — những nhà thám hiểm và những kẻ định cư; tàu của hoàng gia và tàu của giới thương gia; các thuyền trưởng, đô đốc, những kẻ “buôn lậu” đầy bí ẩn của tuyến mậu dịch phương Đông, và những vị “tướng quân” được triều đình ủy nhiệm trong các hạm đội Đông Ấn. Những kẻ săn tìm vàng hay những kẻ đuổi theo danh vọng, tất cả bọn họ đều đã ra đi trên dòng sông ấy, mang theo gươm giáo, và thường là cả ngọn đuốc, những sứ giả của sức mạnh ẩn chứa trong lòng đất mẹ, những kẻ mang theo tia lửa từ ngọn lửa thiêng liêng. Nào sự vĩ đại nào chưa từng trôi theo dòng nước rút của con sông ấy để đi vào điều huyền bí của một vùng đất vô danh!... Những giấc mơ của con người, mầm mống của các thị tộc, và phôi thai của những đế chế.
Mặt trời lặn; hoàng hôn buông xuống dòng sông, và những ngọn đèn bắt đầu lấm tấm thắp lên dọc theo bờ. Ngọn hải đăng Chapman, một cấu trúc ba chân sừng sững trên bãi bùn, tỏa sáng rực rỡ. Ánh đèn tàu thuyền di chuyển tấp nập giữa luồng lạch — một khung cảnh nhộn nhịp của những ánh đèn ngược xuôi. Và xa hơn về phía tây trên những khúc sông thượng nguồn, dấu tích của thị trấn quái dị ấy vẫn hằn lên đầy điềm gở trên bầu trời, một màn sương u ám dưới ánh nắng, một thứ ánh sáng đỏ rực bên dưới các vì sao.
“Và nơi này nữa,” Marlow đột ngột lên tiếng, “từng là một trong những chốn tối tăm của mặt đất.”
Anh là người duy nhất trong số chúng tôi vẫn còn “theo nghiệp biển.” Điều tồi tệ nhất có thể nói về anh là anh không đại diện cho tầng lớp của mình. Anh là một hải thủ, nhưng đồng thời cũng là một kẻ lang thang, trong khi phần lớn các hải thủ lại sống một cuộc đời, nếu có thể diễn tả như vậy, mang tính tĩnh tại. Tâm trí họ thuộc tuýp người thích quẩn quanh ở nhà, và ngôi nhà của họ luôn ở bên họ — chính là con tàu; và tổ quốc của họ cũng vậy — chính là biển cả. Con tàu nào cũng giống con tàu nào, và biển cả thì muôn đời không đổi. Giữa sự bất biến của môi trường xung quanh, những bờ cõi xa xôi, những gương mặt xa lạ, và sự mênh mông đổi thay của cuộc sống cứ thế lướt qua, bị che khuất không phải bởi một ý thức về sự huyền bí mà bởi sự dốt nát có phần ngạo mạn; bởi vì chẳng có gì là bí ẩn đối với một hải thủ ngoại trừ chính biển cả, thứ vốn là nữ chủ nhân trong sự tồn tại của anh ta và khó lường như Định mệnh. Về phần những thứ khác, sau giờ làm việc, một buổi dạo chơi tình cờ hay một cuộc chè chén vẩn vơ trên bờ là đủ để mở ra cho anh ta bí mật của cả một lục địa, và thường thì anh ta thấy bí mật ấy chẳng đáng để bận tâm tìm hiểu. Những câu chuyện của hải thủ mang một sự giản dị trực diện, mà toàn bộ ý nghĩa của nó nằm gọn bên trong lớp vỏ của một hạt dẻ đã đập vỡ. Nhưng Marlow lại không mang tính điển hình (nếu ngoại trừ xu hướng thích kể chuyện của anh), và đối với anh, ý nghĩa của một sự việc không nằm ở bên trong tựa như phần nhân hạt mà nằm ở bên ngoài, bao bọc lấy câu chuyện làm nổi bật nó lên cũng giống như ánh hào quang làm nổi bật lớp sương mù, tựa như một trong những quầng sáng mờ ảo đôi khi hiện lên dưới ánh sáng ma quái của ánh trăng.
Lời nhận xét của anh xem ra không có gì đáng ngạc nhiên cả. Nó rất đúng chất Marlow. Mọi người im lặng đón nhận nó. Thậm chí chẳng ai buồn càu nhàu một tiếng; và rồi một lúc sau, anh chậm rãi cất lời — “Tôi đang nghĩ về những thời buổi xa xưa lắm, khi người La Mã mới đặt chân đến đây, từ mười chín thế kỷ trước — mới hôm qua thôi.... Kể từ đó, ánh sáng đã tỏa ra từ dòng sông này — các bạn bảo là các Hiệp sĩ ư? Phải; nhưng nó giống như một ngọn lửa quét qua đồng cỏ, giống như một tia chớp giữa những tầng mây. Chúng ta đang sống trong khoảnh khắc lóe sáng ấy — cầu mong nó kéo dài chừng nào trái đất cũ kỹ này còn quay! Nhưng bóng tối đã từng hiện diện ở đây ngay ngày hôm qua. Hãy tưởng tượng tâm trạng của một vị chỉ huy trên một chiếc — gọi nó là gì nhỉ — trireme ở Địa Trung Hải, bỗng nhiên nhận lệnh điều động gấp ra phương bắc; phải vội vã băng qua xứ Gaule bằng đường bộ; rồi được giao cho chỉ huy một trong những chiếc bè này — đám lính lê dương, bọn họ hẳn phải là một lũ người cực kỳ tháo vát, dường như chuyên đóng những chiếc thuyền ấy theo hàng trăm chiếc chỉ trong một hoặc hai tháng, nếu chúng ta tin vào những gì được đọc. Hãy tưởng tượng ông ta ở đây — tận cùng thế giới, một vùng biển có màu của chì, bầu trời mang sắc màu của khói, một kiểu tàu bè cứng cáp chẳng khác gì một chiếc đàn xếp — và ngược dòng con sông này mang theo quân nhu, quân lệnh, hay bất cứ thứ gì tùy ý. Bãi cát, đầm lầy, rừng rậm, những kẻ dã man — chẳng có mấy thứ để ăn cho ra dáng một người văn minh, thứ duy nhất để uống là nước sông Thames. Chẳng có rượu vang Falernian ở đây, cũng chẳng có chuyện lên bờ. Rải rác đâu đó là một trại lính bị nuốt chửng giữa chốn hoang vu, giống như một cây kim trong đống rơm — lạnh lẽo, sương mù, bão tố, bệnh tật, lưu đày, và cái chết — cái chết rình rập trong không khí, trong làn nước, trong bụi cây. Chắc hẳn họ đã chết như rạ ở nơi này. Ồ, vả lại — ông ta đã hoàn thành nhiệm vụ. Chắc chắn là hoàn thành rất xuất sắc, và cũng chẳng mảy may suy nghĩ nhiều về điều đó, ngoại trừ việc sau này có lẽ sẽ khoác lác về những gì mình từng nếm trải trong đời. Họ là những con người đủ bản lĩnh để đối mặt với bóng tối. Và có lẽ ông ta được cổ vũ khi luôn để mắt đến cơ hội thăng tiến lên hạm đội Ravenna dăm bữa nửa tháng nữa, nếu ông ta có những người đỡ đầu quyền thế ở Rome và sống sót qua cái khí hậu khủng khiếp ấy. Hoặc hãy tưởng tượng một gã công dân trẻ tuổi tươm tất khoác tấm áo toga — có lẽ hơi sa đà vào trò súc sắc, bạn biết đấy — đến vùng đất này theo hầu một vị quan tổng đốc, hay một viên quan thuế, hoặc thậm chí một thương gia, nhằm phất lên mạt vận. Cập bến vào một vũng lầy, hành quân xuyên qua những cánh rừng, và tại một đồn điền nào đó trong nội địa, cảm thấy sự dã man, sự dã man tột cùng, đang bao vây lấy mình — toàn bộ cái đời sống đầy bí ẩn của chốn hoang dã đang cựa quậy trong rừng rậm, trong thẳm sâu tâm hồn của những con người hoang dã. Cũng chẳng có lễ nhập môn nào cho những thứ huyền bí ấy cả. Anh ta buộc phải sống giữa chốn không thể hiểu nổi, thứ vốn cũng đáng ghê tởm khôn cùng. Và nó đồng thời cũng có một thứ sức hút kỳ lạ, ngấm ngầm tác động lên anh ta. Sức hút của sự ghê tởm — bạn biết đấy, hãy tưởng tượng những nỗi hối hận lớn dần, nỗi khát khao trốn chạy, sự kinh tởm đến bất lực, sự đầu hàng, và lòng căm hùn.”
Anh dừng lời.
“Hãy nhớ nhé,” anh lại bắt đầu, nhấc một cánh tay từ khuỷu, lòng bàn tay hướng ra ngoài, khiến cho với tư thế khoanh chân phía trước, anh trông hệt như một đức Phật đang thuyết pháp trong bộ âu phục và không có hoa sen — “Hãy nhớ rằng, không ai trong chúng ta lại cảm nhận chính xác như thế cả. Thứ cứu rỗi chúng ta chính là hiệu suất — lòng trung thành tuyệt đối với hiệu suất. Nhưng những gã kia thực ra chẳng đáng một xu. Bọn chúng chẳng phải là những kẻ thực dân gì cho cam; chính quyền của chúng chẳng qua chỉ là một đám vơ vét, tước đoạt, tôi nghi ngờ là thế. Chúng là những kẻ chinh phục, và để làm việc đó thì bạn chỉ cần đến vũ lực thô bạo — chẳng có gì đáng tự hào khi bạn có được nó, bởi vì sức mạnh của bạn chẳng qua chỉ là một sự ngẫu nhiên bắt nguồn từ sự yếu kém của kẻ khác. Chúng vơ vét bất cứ thứ gì có thể lấy được chỉ vì những lợi lộc có thể vươn tới. Đó chẳng qua chỉ là hành vi cướp bóc bằng bạo lực, là tội ác giết người có tình tiết tăng nặng trên diện rộng, và con người ta cứ thế đâm đầu vào một cách mù quáng — điều rất ư đường đường chính chính đối với những kẻ đương đầu với bóng tối. Việc chinh phục trái đất, phần lớn đồng nghĩa với việc tước đoạt nó từ tay những kẻ có màu da hay dáng mũi hơi khác biệt so với chúng ta, vốn không phải là một điều đẹp đẽ gì cho cam khi bạn săm soi nó quá kỹ. Thứ duy nhất cứu chuộc nó chính là lý tưởng. Một lý tưởng nằm đằng sau đó; không phải là một sự ngụy biện mang tính cảm súc mà là một lý tưởng; và một niềm tin vô vị lợi vào lý tưởng ấy — thứ mà bạn có thể dựng lên, cúi đầu sùng bái, và dâng lên những vật tế thần....”
Anh bỗng ngưng bặt. Những đốm lửa trôi dạt trên sông, đốm lửa xanh nhỏ, đốm lửa đỏ, đốm lửa trắng, đuổi theo nhau, vượt lên trước, nhập lại, cắt ngang đường nhau — rồi từ từ hoặc vội vã tách ra. Hoạt động nhộn nhịp của thành phố lớn vẫn tiếp diễn trong màn đêm đang buông sâu trên dòng sông không bao giờ ngủ. Chúng tôi lặng nhìn, kiên nhẫn chờ đợi — chẳng có việc gì khác để làm cho đến khi nước triều ngừng dâng; nhưng phải mãi đến một khoảng lâu im lặng, khi anh cất lên bằng một giọng ngập ngừng, “Tôi đoán là các cậu vẫn nhớ có lần tôi đã làm một tên thủy thủ nước ngọt trong chốc lát chứ,” chúng tôi mới hiểu rằng mình đã bị định mệnh an bài, trước khi nước triều rút, sẽ phải lắng nghe một trong những trải nghiệm dở dang của Marlow.
“Tôi không muốn làm phiền các cậu nhiều về những chuyện xảy ra với cá nhân tôi,” anh bắt đầu, qua lời nói này lại bộc lộ điểm yếu của rất nhiều người kể chuyện, những kẻ thường dường như chẳng mảy may hay biết khán giả của mình thích nghe điều gì nhất; “thế nhưng để hiểu được tác động của nó đối với tôi, các cậu cần phải biết tôi đã ra đi ra sao, tôi đã tận mắt thấy những gì, tôi đã xuôi theo dòng sông đó thế nào để đến nơi tôi lần đầu gặp gỡ tội nghiệp ấy. Đó là điểm xa nhất của hàng hải và là đỉnh điểm trong trải nghiệm của tôi. Nó dường như mang lại một thứ ánh sáng nào đó soi rọi mọi thứ xung quanh tôi — và vào trong cả những suy nghĩ của tôi. Nó cũng đủ ảm đạm — và đầy xót xa — chẳng có gì là phi thường cả — cũng chẳng rõ ràng lắm đâu. Không, không rõ ràng chút nào. Thế nhưng nó dường như vẫn rọi chiếu một thứ ánh sáng nào đó.
Khi đó, như các cậu còn nhớ, tôi vừa mới trở về London sau một chuỗi dài lênh đênh ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, các vùng biển Trung Hoa — một liều thuốc nặng đô từ phương Đông — chừng sáu năm trời, và tôi cứ lởn vởn khắp nơi, quấy rầy công việc của các cậu và xâm nhập vào tổ ấm của các cậu, cứ làm như thể tôi mang một sứ mệnh thiên bố từ trời cao để văn minh hóa các cậu vậy. Thời gian đầu thì mọi chuyện rất hay ho, nhưng sau một thời gian ngắn, tôi thực sự thấy chán ngấy cảnh nghỉ ngơi. Thế rồi tôi bắt đầu đi tìm một con tàu — tôi cho đó là công việc khó khăn nhất trên đời. Nhưng chẳng có con tàu nào buồn ngó ngàng đến tôi cả. Và tôi cũng chán ngấy cái trò chơi đó luôn.
Hồi còn là một chú nhóc, tôi có một niềm đam mê mãnh liệt với bản đồ. Tôi thường chăm chú nhìn hàng giờ vào Nam Mỹ, hoặc Châu Phi, hoặc Úc, và thả hồn mình lạc lối trong mọi vẻ vang của công cuộc thám hiểm. Vào thời điểm ấy, trên trái đất vẫn còn rất nhiều khoảng trắng, và khi nhìn thấy một nơi nào đó trông vô cùng hấp dẫn trên bản đồ (mặc dù nơi nào trông cũng thế cả), tôi sẽ đặt ngón tay lên đó và thầm bảo: ‘Khi lớn lên, tôi sẽ đến đó.’ Cực Bắc là một trong những nơi như thế, tôi còn nhớ. Chà, tôi vẫn chưa đến đó bao giờ, và bây giờ thì sẽ chẳng thử nữa đâu. Sự quyến rũ đã bay biến mất. Những nơi khác nằm rải rác khắp các bán cầu. Tôi đã đặt chân đến vài nơi trong số đó, và... thôi, chúng ta sẽ không bàn về chuyện đó nữa. Nhưng vẫn còn sót lại một nơi — lớn nhất, có thể nói là trống trải nhất — mà tôi vô cùng khao khát.
Quả thực, đến lúc này thì nó không còn là một khoảng trắng nữa. Kể từ thời niên thiếu của tôi, nó đã được lấp đầy bởi những con sông, hồ nước và tên gọi. Nó không còn là một khoảng trắng đầy bí ẩn thú vị — một khoảng trống màu trắng để một đứa trẻ thả hồn mơ mộng đầy vinh quang. Nó đã biến thành một chốn u tối. Thế nhưng ẩn chứa trong đó có một dòng sông đặc biệt, một con sông cực kỳ lớn, mà bạn có thể nhìn thấy trên bản đồ, trông giống hệt một con rắn khổng lồ đang duỗi thẳng, với phần đầu cắm xuống biển, thân mình nằm dài uốn lượn băng qua một vùng đất bao la, và phần đuôi chìm khuất vào tận cùng thẳm sâu của đại lục. Và khi tôi ngắm nhìn bản đồ của nó qua tấm kính cửa sổ một cửa hiệu, nó mê hoặc tôi hệt như cách con rắn thôi miên một chú chim — một chú chim nhỏ ngốc nghếch. Thế rồi tôi chợt nhớ ra có một tập đoàn lớn, một Công ty thương mại hoạt động trên dòng sông đó. Chết tiệt thật! Tôi thầm nghĩ, chúng chẳng thể buôn bán gì nếu không sử dụng một loại phương tiện nào đó trên cái vùng nước ngọt mênh mông ấy — tàu thủy hơi nước! Tại sao mình lại không thử xin làm thuyền trưởng của một chiếc nhỉ? Tôi cứ tiếp tục bước đi dọc theo phố Fleet, nhưng không sao rũ bỏ được ý nghĩ ấy. Con rắn đã bỏ bùa tôi.
Các cậu phải hiểu rằng đó là một hãng thương mại mang tầm vóc lục địa; nhưng tôi lại có rất nhiều họ hàng sinh sống ở lục địa đó, bởi vì chi phí sinh hoạt rẻ và không đến nỗi tồi tệ như bề ngoài, người ta bảo vậy.
Tôi lấy làm tiếc phải thú nhận rằng mình đã bắt đầu làm phiền họ. Đây vốn đã là một bước ngoặt hoàn toàn mới đối với tôi. Các cậu biết đấy, tôi nào có quen xin xỏ mọi thứ theo cách đó. Tôi vẫn luôn tự mình đi trên con đường riêng và bằng đôi chân của chính mình đến bất cứ nơi nào tôi muốn. Tôi thậm chí chẳng thể tin nổi vào chính mình nữa; thế nhưng — các cậu thấy đấy — không hiểu sao tôi cứ có cảm giác rằng bằng mọi giá mình phải đến được nơi đó. Thế là tôi bắt đầu quấy rầy họ. Mấy người đàn ông chỉ thốt lên ‘Anh bạn thân mến của tôi,’ rồi chẳng làm gì cả. Thế rồi — các cậu có tin được không — tôi đã thử nhờ đến phụ nữ. Tôi, Charlie Marlow, đã huy động phụ nữ vào cuộc — để kiếm cho được một chân làm việc. Chúa ơi! Chà, các cậu thấy đấy, ý nghĩ đó cứ thôi thúc tôi. Tôi có một người dì, một tâm hồn nhiệt thành và đáng yêu. Bà đã viết thư: ‘Sẽ tuyệt vời lắm đây. Ta sẵn sàng làm mọi thứ, làm mọi thứ vì con. Đó là một ý tưởng vô cùng hào hùng. Ta quen vợ của một nhân vật rất cao cấp trong Chính quyền, và cả một người có rất nhiều thế lực với,’ v.v.. Bà quyết tâm làm om sòm mọi chuyện lên để bổ nhiệm tôi làm thuyền trưởng một chiếc tàu thủy chạy sông, nếu đó là sở thích của tôi.
Và tất nhiên là tôi đã có được chức vụ ấy; lại có được một cách cực kỳ nhanh chóng. Hóa ra Công ty vừa nhận được tin báo về việc một trong các thuyền trưởng của họ đã bị sát hại trong một cuộc xô xát với người bản xứ. Đây chính là cơ hội của tôi, và nó càng khiến tôi thêm nôn nóng muốn lên đường. Phải mãi nhiều tháng sau đó, khi tôi thực hiện chuyến đi tìm lại những phần thi thể còn sót lại, tôi mới hay biết rằng mâu thuẫn ban đầu bắt nguồn từ sự hiểu lầm về mấy con gà. Vâng, hai con gà mái đen. Fresleven — tên của gã đó là vậy, một người Đan Mạch — tự cho rằng mình bị đối xử bất công trong vụ mua bán, thế là hắn bước lên bờ và giở thói giáng những đòn tơi bời bằng gậy vào đầu già trưởng thôn. Ồ, tôi chẳng hề ngạc nhiên chút nào khi nghe tin này, đồng thời lại được biết rằng Fresleven vốn là sinh vật hiền lành và điềm đạm nhất từng bước đi trên hai chân. Chắc chắn hắn ta đúng là như vậy; nhưng các cậu biết đấy, hắn đã có hai năm rồng rã bám trụ ngoài ấy để cống hiến cho nghĩa cử cao đẹp, và có lẽ cuối cùng hắn cũng cảm thấy cần phải khẳng định lòng tự trọng của mình bằng một cách nào đó. Thế là hắn không ngần ngại nện những đòn chí mạng xuống người già trưởng làng, trong sự chứng kiến chết lặng của đông đảo dân làng, cho đến khi có một người đàn ông — tôi được kể là con trai trưởng làng — trong cơn tuyệt vọng khi nghe tiếng kêu la của người cha già, đã tung một nhát lao thử nghiệm về phía tên da trắng — và tất nhiên là ngọn giáo đâm phập vào cực kỳ dễ dàng giữa hai xương bả vai. Thế rồi toàn bộ dân làng hoảng loạn tháo chạy vào rừng sâu, thấp thỏm chờ đợi đủ mọi thảm họa xảy ra, trong khi ở chiều ngược lại, con tàu do Fresleven chỉ huy cũng nhổ neo tẩu thoát trong cơn hoảng loạn tột độ, hình như do viên kỹ sư điều khiển. Về sau, dường như chẳng ai buồn bận tâm lắm đến hài cốt của Fresleven, cho đến khi tôi ra tới nơi và thay thế vị trí của hắn. Tuy nhiên, tôi không thể để mặc nó trôi qua như thế; và khi cuối cùng cũng có cơ hội gặp lại vị tiền nhiệm của mình, cỏ mọc xuyên qua lồng ngực hắn đã đủ cao để che khuất đi những khúc xương. Chúng vẫn nằm ở đó nguyên vẹn. Sinh vật siêu nhiên ấy đã không hề bị động chạm tới kể từ khi gục ngã. Và ngôi làng đã hoang phế, những túp lều trợn trừng những khoảng đen ngòm, mục nát, xiêu vẹo bên trong những hàng rào đã sụp đổ. Một thảm họa thực sự đã giáng xuống nơi này. Cả dân làng đã biến mất. Nỗi kinh hoàng điên cuồng đã phân tán họ, đàn ông, đàn bà và trẻ em, vào sâu trong bụi rậm, và họ chưa từng quay trở lại. Số phận của bầy gà ra sao thì tôi cũng chịu chết không biết. Dù sao đi nữa, tôi đoán là sự nghiệp tiến bộ chắc đã tóm được chúng. Tuy nhiên, nhờ cái vụ việc huy hoàng ấy mà tôi đã có được chức vụ của mình, trước cả khi tôi kịp thưa thớt hy vọng.
Tôi tất bật như phát điên để chuẩn bị, và chưa đầy bốn mươi tám tiếng sau, tôi đã vượt qua Eo biển Manche để diện kiến các chủ nhân của mình và ký hợp đồng. Chỉ trong vòng vài tiếng ngắn ngủi, tôi đặt chân đến một thành phố luôn khiến tôi liên tưởng đến một ngôi mộ được quét vôi trắng. Chắc chắn là do định kiến rồi. Tôi chẳng gặp chút khó khăn nào trong việc tìm ra văn phòng của Công ty. Đó là tòa nhà lớn nhất trong thị trấn, và tất cả những người tôi gặp đều bàn tán sôi nổi về nó. Bọn họ chuẩn bị lập nên một đế chế hải ngoại, và vơ vét những núi tiền từ việc buôn bán.
Một con phố chật hẹp và vắng tanh chìm trong bóng râm dày đặc, những ngôi nhà cao tầng, vô số ô cửa sổ lắp chớp kiểu Venice, một sự tĩnh mịch chết chóc, cỏ mọc xanh um giữa các phiến đá, những vòm cổng ra vào bề thế ở cả hai phía, những cánh cửa đôi khổng lồ nặng nề khép hờ. Tôi lách qua một trong những khe hở ấy, bước lên một cầu thang đã được quét dọn sạch sẽ nhưng trống hoác, khô cằn như sa mạc, và đẩy mở cánh cửa đầu tiên bắt gặp. Hai người phụ nữ, một béo một gầy, đang ngồi trên những chiếc ghế đan bằng rơm, cần mẫn đan len đen. Người gầy đứng dậy và tiến thẳng về phía tôi — vẫn tiếp tục đan len với đôi mắt cụp xuống — và chỉ đến khi tôi bắt đầu nghĩ đến việc tránh đường cho cô ta, hệt như cách người ta tránh một kẻ mộng du, cô ta mới dừng bước và ngẩng đầu lên. Chiếc váy cô ta mặc đơn giản đến mức trông giống như vỏ bọc ô, và cô ta quay lưng lại không nói một lời rồi dẫn đường cho tôi vào phòng đợi. Tôi xưng tên và đảo mắt quan sát xung quanh. Một chiếc bàn gỗ thông ở giữa, những chiếc ghế mộc mạc xếp sát tường, ở một đầu phòng treo một tấm bản đồ lớn sáng bóng, được đánh dấu đủ màu sắc của cầu vồng. Có một khoảng diện tích đỏ rực mênh mông — thật tuyệt khi nhìn vào bất cứ lúc nào, bởi vì người ta biết rằng có những công việc thực sự đang được thực hiện ở đó, một đống màu xanh dương chết tiệt, một chút màu xanh lục, những vệt cam lè, và ở Bờ Đông, một mảng màu tím, để chỉ nơi những nhà tiên phong vui vẻ của công cuộc tiến hóa đang thốc từng vạc bia lager khoái trá. Tuy nhiên, tôi chẳng định dấn thân vào mấy vùng đó đâu. Tôi chuẩn bị bước vào vùng màu vàng. Ngay chính giữa. Và dòng sông nằm ở đó — đầy mê hoặc — chết chóc — tựa như một con rắn. Hừm! Một cánh cửa mở ra, xuất hiện một mái đầu mang vẻ thư ký với mái tóc điểm bạc nhưng ánh lên biểu cảm trắc ẩn, và một ngón trỏ gầy guộc ra hiệu mời tôi bước vào cấm địa. Ánh sáng trong phòng mờ ảo, và một chiếc bàn làm việc cồng kềnh nằm chễm chệ ở chính giữa. Từ đằng sau cấu trúc ấy bước ra một hình hài mập mạp nhợt nhạt trong bộ áo đuôi tôm. Chính là nhân vật lớn. Tôi án chừng ông ta cao khoảng năm thước sáu inch, và đang nắm quyền điều hành khối tài sản trị giá chẳng biết bao nhiêu triệu. Tôi tưởng tượng rằng ông ta đã bắt tay tôi, lầm bầm vài câu mơ hồ, và tỏ ý hài lòng với vốn tiếng Pháp của tôi. Chúc thượng lộ bình an.
Chỉ khoảng bốn mươi lăm giây sau, tôi lại thấy mình quay trở lại phòng đợi cùng viên thư ký đầy lòng trắc ẩn, người mà với vẻ mặt đượm buồn và thông cảm ngập tràn, đã bắt tôi ký kết một thứ văn bản nào đó. Tôi tin rằng trong số những điều khoản đó, tôi đã cam kết sẽ không tiết lộ bất kỳ bí mật thương mại nào. Chà, tôi cũng chẳng có ý định tiết lộ đâu.
Tôi bắt đầu cảm thấy hơi bất an. Các cậu biết đấy, tôi nào có quen với những nghi thức xã giao kiểu này, và ẩn chứa trong bầu không khí ấy là một điềm gì đó chẳng lành. Cứ như thể tôi vừa bị kéo vào một âm mưu nào đó — tôi chẳng rõ nữa — một thứ gì đó không hoàn toàn minh bạch; và tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi được bước ra ngoài. Ở căn phòng bên ngoài, hai người phụ nữ vẫn đang miệt mài đan len đen đến phát cuồng. Khách khứa đang lục tục kéo đến, và người phụ nữ trẻ hơn cứ đi qua đi lại để giới thiệu họ. Người phụ nữ già vẫn ngồi trên chiếc ghế của mình. Đôi dép vải phẳng phiu của bà được kê lên một chiếc lò sưởi chân, và một con mèo đang ngoan ngoãn nằm cuộn tròn trong lòng bà. Bà đội một thứ đồ vật màu trắng được ươn cứng trên đầu, có một nốt ruồi bên má, và chiếc kính gọng bạc trèo tót trên chóp mũi. Bà liếc nhìn tôi qua tròng kính. Vẻ bình thản chớp nhoáng và thờ ơ của cái nhìn ấy khiến tôi thấy bồn chồn. Hai thanh niên với dáng vẻ ngốc nghếch và tươi vui đang được dẫn dắt tham quan, và bà ném về phía họ cũng cái ánh nhìn chớp nhoáng đầy sự khôn ngoan vô cảm ấy. Bà dường như thấu tỏ mọi điều về họ và cả về tôi nữa. Một cảm giác kỳ quái bao trùm lấy tôi. Bà trông thật kỳ lạ và mang đậm màu sắc định mệnh. Thường thì khi ở chốn xa xôi cách trở ấy, tôi hay nghĩ về hai con người này, những kẻ đang canh giữ cánh cửa của Bóng tối, miệt mài đan len đen như thể đang chuẩn bị cho một cỗ quan tài ấm áp, một người thì liên tục giới thiệu, giới thiệu không ngừng nghỉ vào chốn vô định, người kia thì săm soi những gương mặt tươi vui ngốc nghếch bằng đôi mắt già nua dửng dưng. Ave! Hỡi mụ già đan len đen. Morituri te salutant. Chẳng có mấy ai trong số những kẻ được bà liếc nhìn từng có cơ hội gặp lại bà — tính ra chưa nổi một nửa.
Vẫn còn một buổi khám sức khỏe nữa phải hoàn tất. “Một thủ tục đơn giản thôi,” viên thư ký trấn an tôi, với bộ điệu như thể đang gánh vác một phần lớn lao trong mọi nỗi muộn phiền của tôi. Thế là một gã thanh niên đội chiếc mũ lệch về phía mày trái, có lẽ là một tay thư ký nào đó — chắc hẳn trong tòa nhà này phải có các thư ký, mặc dù không gian tĩnh lặng như thể một ngôi nhà trong thành phố của những người chết — từ đâu đó trên lầu bước xuống và dẫn tôi đi. Hắn ta trông lếch thếch và cẩu thả, với những vết mực lem luốc trên tay áo khoác, và chiếc cà vạt rộng thùng thình, bồng bềnh nằm bên dưới cái cằm có hình thù giống hệt mũi của một chiếc ủng cũ. Còn hơi sớm để gặp bác sĩ, thế là tôi đề nghị đi uống một ly, và thế là hắn ta bắt đầu tuôn ra một mạch những lời lẽ vui vẻ. Trong lúc chúng tôi ngồi nhấm nháp ly vermouth, hắn ta ca ngợi hết lời công việc làm ăn của Công ty, và lát sau tôi nhân tiện bộc lộ sự ngạc nhiên khi thấy hắn không chịu sang ngoài ấy. Hắn bỗng trở nên vô cùng điềm tĩnh và thản nhiên ngay lập tức. “Ta không phải là kẻ ngốc như vẻ bề ngoài đâu, Platon từng nói với các môn đệ của mình như thế đấy,” hắn nói bằng giọng điệu triết lý, cạn sạch ly rượu với vẻ quả quyết tột độ, rồi chúng tôi đứng dậy.
Viên bác sĩ già bắt mạch cho tôi, rõ ràng trong lúc đó tâm trí đang bận tươm nghĩ ngợi chuyện khác. “Tốt, ở ngoài đó thế là tốt,” ông ta lầm bầm, rồi với một vẻ háo hức khó tả, ông ta hỏi tôi có cho phép ông đo đầu mình không. Hơi bất ngờ, tôi đáp Vâng, thế là ông ta lôi ra một dụng cụ trông giống như compa và đo đạc các kích thước phía sau, phía trước cùng mọi ngóc ngách, cẩn thận ghi chép lại. Ông ta là một lão già râu ria bờm xờm trong chiếc áo khoác bạc màu trông giống như một dạng áo choàng rộng, chân xỏ dép lê, và tôi nghĩ lão chẳng qua chỉ là một gã ngốc vô hại. “Vì lợi ích của khoa học, tôi luôn xin phép được đo hộp sọ của những kẻ chuẩn bị ra vùng đất ấy,” ông ta nói. “Và khi họ quay trở về thì sao?” tôi hỏi. “Ồ, tôi chưa từng gặp lại họ bao giờ,” lão nhận xét; “hơn nữa, những biến đổi đều diễn ra ở bên trong mà, bạn biết đấy.” Lão mỉm cười, như thể vừa nghĩ ra một trò đùa thâm trầm nào đó. “Thế là anh sắp ra ngoài đó. Thật tuyệt diệu. Lại còn thú vị nữa chứ.” Lão liếc tôi một cái sắc lẹm, và lại ghi chép thêm một dòng. “Gia đình anh có ai từng bị điên không?” lão hỏi với giọng tỉnh bơ như không. Tôi cảm thấy vô cùng bực bội. “Câu hỏi đó cũng vì lợi ích của khoa học luôn sao?” “Chắc chắn rồi,” lão đáp, chẳng mảy may đếm xỉa đến sự cáu kỉnh của tôi, “sẽ rất thú vị cho khoa học khi quan sát những biến đổi tâm lý của từng cá nhân ngay tại hiện trường, thế nhưng...” “Ông là bác sĩ tâm thần chắc?” tôi ngắt lời. “Bác sĩ nào cũng nên như thế cả — một chút thôi,” vị dị nhân đó điềm nhiên đáp. “Tôi có một lý thuyết nho nhỏ mà các ngài sang ngoài đó phải giúp tôi chứng minh. Đây chính là phần đóng góp của tôi vào những lợi ích mà đất nước tôi sẽ thu về từ việc sở hữu một thuộc địa tráng lệ nhường ấy. Còn sự giàu có đơn thuần thì tôi để lại cho người khác. Xin lỗi vì đã làm phiền với những câu hỏi, nhưng anh là người Anh đầu tiên lọt vào tầm quan sát của tôi...” Tôi vội vàng trấn an lão rằng tôi hoàn toàn không mang tính điển hình chút nào. “Nếu tôi là thế,” tôi nói, “thì tôi đã chẳng ngồi đây ba hoa với ông thế này đâu.” “Những gì anh nói khá uyên bác, và có lẽ là sai bét,” lão bật cười nói. “Hãy tránh xa sự cáu giận còn hơn là tránh ánh nắng mặt trời. Vĩnh biệt. Mấy người Anh các anh nói thế nào nhỉ, ồ? Good-bye. À! Good-bye. Adieu. Sống ở vùng nhiệt đới, trước hết phải giữ cho đầu óc bình tĩnh.”... Lão giơ ngón trỏ lên ra hiệu cảnh báo... “Du calme, du calme.”
Vẫn còn một việc nữa phải làm — nói lời tạm biệt với người dì tuyệt vời của tôi. Tôi tìm gặp bà trong tâm trạng đắc thắng. Tôi uống một tách trà — tách trà tươm tất cuối cùng trong suốt bao nhiêu ngày tới — và trong một căn phòng bài trí vô cùng dễ chịu hệt như những gì bạn có thể mường tượng về phòng khách của một quý bà, chúng tôi đã có một buổi trò chuyện dài ấm cúng bên lò sưởi. Trong số những lời tâm sự ấy, tôi vỡ lẽ ra rằng mình đã được miêu tả với vợ của vị quan chức cao cấp, và Chúa mới biết là với bao nhiêu người khác nữa, như một sinh vật xuất chúng và có tài — một món hời lớn đối với Công ty — một con người không phải lúc nào bạn cũng vớ được. Chúa thánh thần ơi! Thế mà tôi lại chuẩn bị đi nhận lãnh quản lý một chiếc tàu thủy chạy sông rách việc còi cọc kèm theo cả cái còi chít chít! Tuy nhiên, hóa ra tôi cũng là một trong số những Người lao động, với chữ L viết hoa — các cậu biết đấy. Tựa như một sứ giả của ánh sáng, tựa như một dạng tông đồ cấp thấp. Vào khoảng thời gian đó, có rất nhiều thứ vớ vẩn kiểu ấy được tung hoả mù trên báo chí lẫn chuyện phiếm, và người phụ nữ tuyệt vời ấy, sống ngay giữa tâm bão của những lời bịp bợm đó, đã bị cuốn phăng đi. Bà cứ huyên thuyên về việc “giải thoát hàng triệu con người u mê ấy khỏi những thói hư tật xấu của họ,” cho đến khi, thề có Chúa, bà khiến tôi cảm thấy vô cùng áy náy. Tôi bèn đánh bạo gợi ý rằng Công ty hoạt động vì mục đích lợi nhuận.
“Cháu yêu Charlie, cháu quên mất rằng người lao động thì xứng đáng nhận được tiền công của mình rồi,” bà tươi cười đáp. Thật kỳ lạ là phụ nữ lại có khoảng cách lớn đến thế với sự thật. Họ sống trong một thế giới của riêng mình, và chưa từng có thứ gì giống như thế trên đời, cũng chẳng bao giờ có thể có được. Nó quá ư tốt đẹp, và nếu họ dựng nó lên thì nó sẽ sụp đổ trước cả hoàng hôn đầu tiên. Một sự thật oái oăm nào đó mà chúng ta — những người đàn ông — vẫn luôn sống chung một cách yên bình kể từ ngày khai thiên lập địa sẽ bỗng chốc trỗi dậy và hất tung toàn bộ mọi thứ.
Sau đó tôi được ôm ấp tạm biệt, được dặn dò phải mặc đồ nỉ, phải nhớ viết thư thường xuyên, v.v. — và tôi rời đi. Ra đến đường phố — tôi chẳng hiểu tại sao — một cảm giác kỳ lạ dâng lên trong tôi rằng mình chỉ là một kẻ mạo danh. Thật kỳ cục khi tôi, kẻ vốn quen xách gói đi bất cứ xó xỉnh nào trên thế giới chỉ trong vòng hai mươi bốn giờ chuẩn bị, với ít sự suy tính hơn cả mức người ta dành cho việc băng qua một con đường, lại có một khoảnh khắc — tôi không dám gọi là do dự, mà là một sự khựng lại đầy kinh ngạc — trước một chuyện tầm thường đến thế. Cách duy nhất tôi có thể giải thích cho các cậu nghe là, trong một hoặc hai giây, tôi có cảm giác như thể, thay vì đi đến trung tâm của một lục địa, tôi chuẩn bị khởi hành đến tâm của trái đất.
Tôi lên đường trên một chiếc tàu hơi nước của Pháp, và nó ghé qua mọi cảng khỉ gió nào mà họ có ngoài ấy, bởi vì theo những gì tôi có thể thấy, mục đích duy nhất là để đổ bộ lính lệ và nhân viên hải quan. Tôi đăm đăm quan sát bờ biển. Ngắm nhìn một bờ biển lướt qua mạn tàu cũng giống như đang chiêm nghiệm về một ẩn số. Nó nằm đó trước mắt bạn — mỉm cười, cau mày, mời gọi, vĩ đại, ti tiện, nhạt nhẽo, hay dã man, và lúc nào cũng câm lặng với vẻ như đang thì thầm: “Hãy đến và khám phá đi.” Bờ biển này hầu như chẳng có chút điểm nhấn nào, cứ như thể vẫn đang trong quá trình hình thành, mang một diện mạo u ám đơn điệu. Rìa của một cánh rừng nhiệt đới khổng lồ, xanh thẫm đến mức gần như đen kịt, viền những dải sóng bạc đầu, chạy thẳng tắp như kẻ chỉ, kéo dài mãi, mãi về phía chân trời dọc theo một vùng biển xanh lam có ánh lấp lánh bị che mờ bởi một lớp sương mù đang bò lan. Nắng gắt dữ dội, vùng đất dường như lấp lánh và rỏ giọt hơi nước. Rải rác đây đó, những đốm xám trắng hiện lên quần tụ bên trong dải sóng trắng, có lẽ với một lá cọ bay phấp phới phía trên. Những khu định cư có tuổi đời từ vài thế kỷ, nhưng vẫn chẳng to hơn đầu mũi kim trên khung nền hoang sơ vô tận của chúng. Chúng tôi ì ạch lướt đi, dừng lại, đổ quân; lại đi tiếp, thả các nhân viên hải quan xuống để thu thuế giữa một nơi trông giống như chốn khỉ ho cò gáy, với một căn lều tôn và một cột cờ lọt thỏm trong đó; lại đổ thêm lính — có lẽ để bảo vệ các nhân viên hải quan. Tôi nghe nói có vài người đã chết đuối trong những con sóng lớn; nhưng dù có hay không, dường như chẳng ai buồn bận tâm lấy làm tiếc. Bọn họ cứ thế bị ném vất vưởng ra đó, và chúng tôi lại tiếp tục hành trình. Ngày qua ngày, bờ biển trông vẫn y nguyên một giuộc, cứ như thể chúng tôi chẳng hề dịch chuyển; thế nhưng chúng tôi đã đi qua vô số địa điểm — những trung tâm thương mại — với những cái tên nghe như thể Gran’ Bassam, Little Popo; những cái tên dường như thuộc về một vở hề bỉ ổi nào đó được diễn trước một phông nền đầy nham hiểm. Sự nhàn rỗi của một hành khách, sự cô lập của tôi giữa đám đông những kẻ chẳng có lấy một điểm chung, vùng biển nhầy nhụa và đờ đẫn, sự ảm đạm đồng nhất của bờ biển, dường như cứ giam cầm tôi xa rời bản chất thực sự của vạn sự, chìm đắm trong chuỗi ngày hoang tưởng thê lương và vô nghĩa. Tiếng sóng vỗ bờ vang lên dội lại đôi khi mang lại một niềm vui sướng thực sự, tựa như lời của một người anh em. Đó là một thứ gì đó tự nhiên, có lý do tồn tại, có ý nghĩa riêng. Thỉnh thoảng, một chiếc thuyền từ bờ bơi ra mang lại cho tôi một sự tiếp xúc chớp nhoáng với thực tại. Nó được chèo bởi những gã da đen. Bạn có thể nhìn thấy từ xa phần tròng trắng lóa lên trong đôi mắt họ. Bò hò hét, ca hát; thân hình đầm đìa mồ hôi; bọn họ mang những gương mặt giống như những chiếc mặt nạ kỳ dị — lũ người đó; nhưng họ có xương thịt, cơ bắp, một sức sống hoang dã, một nguồn năng lượng vận động mãnh liệt, chân thực và tự nhiên hệt như những con sóng vỗ ven bờ của họ. Họ chẳng cần bất kỳ lý do biện hộ nào cho sự tồn tại của mình ở đó. Ngắm nhìn họ mang lại một sự an ủi lớn lao. Trong chốc lát, tôi lại có cảm giác mình vẫn thuộc về một thế giới của những sự thật rạch ròi; nhưng cảm giác ấy chẳng kéo dài được lâu. Sẽ có thứ gì đó xuất hiện để xua đuổi nó đi. Tôi còn nhớ có lần, chúng tôi bắt gặp một chiến hạm thả neo ngoài khơi bờ biển. Nơi đó thậm chí chẳng có lấy một căn lều, vậy mà nó đang nã pháo vào khu rừng rậm. Hóa ra người Pháp đang có một cuộc chiến tranh nào đó diễn ra quanh quẩn vùng này. Lá cờ hiệu của chiến hạm rũ xuống mềm oặt như một miếng giẻ; nòng của những khẩu đại bác sáu inch chĩa tua tủa quanh thân tàu thấp tè; con sóng ngầu bọt nhờ nhờ nâng bồng bềnh thân tàu rồi thả xuống, làm đu đưa những chiếc cột buồm mảnh khảnh. Giữa cõi mênh mông trống trải của đất trời và mặt nước, con tàu cứ đứng sừng sững ở đó, thật khó hiểu, nã đạn vào một lục địa. Bòm, một khẩu pháo sáu inch lóe lên; một ngọn lửa nhỏ bắn ra rồi biến mất, một chút khói trắng tan đi, một viên đạn pháo tí hon cất lên tiếng rít yếu ớt — và chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Chẳng có gì có thể xảy ra được. Có một chút điên rồ trong hành động ấy, một cảm giác hài hước thê lương trong khung cảnh đó; và nó không hề tan biến đi ngay cả khi có người trên tàu cương quyết quả quyết với tôi rằng có một doanh trại của người bản xứ — hắn gọi họ là kẻ thù! — đang ẩn nấp khuất đâu đó ngoài tầm mắt. Chúng tôi trao thư từ cho chiến hạm ấy (tôi nghe nói những người trên con tàu cô độc đó đang chết vì sốt rét với tốc độ ba người một ngày) rồi tiếp tục lên đường. Chúng tôi ghé qua một vài địa điểm khác mang những cái tên lố bịch, nơi vũ điệu vui tươi của sự chết chóc và buôn bán diễn ra trong một bầu không khí tĩnh mịch và nồng nặc mùi đất hệt như một hầm mộ bị nung quá lửa; dọc theo bờ biển không hình thù rõ ràng được bao bọc bởi những con sóng dữ dằn, như thể chính Tự nhiên đang cố gắng xua đuổi những kẻ đột nhập; luồn lách vào ra những con sông, những dòng suối của sự sống đang thối rữa, với đôi bờ mục nát thành bùn nhão, dòng nước đặc quánh lại thành bùn sền sệt xâm chiếm lấy những rễ cây đước ngoằn ngoèo, thứ trông như đang oằn mình quằn quại trước chúng tôi trong tận cùng của sự tuyệt vọng bất lực. Chúng tôi chẳng dừng chân ở đâu đủ lâu để thu gom một ấn tượng cụ thể nào, nhưng cảm giác chung về sự kinh ngạc mơ hồ và ngột ngạt cứ thế lớn dần trong tôi. Nó giống như một cuộc hành hương mệt mỏi giữa những gợi ý về cơn ác mộng.
Phải hơn ba mươi ngày sau tôi mới nhìn thấy cửa sông lớn. Chúng tôi thả neo ngoài khơi cơ quan đầu não của chính quyền. Nhưng công việc của tôi sẽ chỉ bắt đầu sau đó chừng hai trăm dặm. Thế là ngay khi có thể, tôi lên đường hướng đến một trạm cách đó ba mươi dặm về phía thượng nguồn.
Tôi mua vé đi trên một chiếc tàu hơi nước nhỏ chuyên chạy biển. Thuyền trưởng của nó là một người Thụy Điển, và khi biết tôi là một hải thủ, ông mời tôi lên buồng lái. Ông là một người trẻ tuổi, gầy gò, da trắng và ủ dột, với mái tóc xơ xác và dáng đi lê lết. Khi chúng tôi rời khỏi chiếc cầu tàu khốn khổ, ông hất đầu đầy vẻ khinh miệt về phía bờ biển. “Đã sống ở đó bao giờ chưa?” ông hỏi. Tôi đáp, “Rồi.” “Một lũ tuyệt vời thật đấy mấy gã công chức chính quyền này — phải không nào?” ông nói tiếp, nói tiếng Anh rất chuẩn xác và mang theo sự cay đắng đáng kể. “Thật nực cười những gì mà một vài kẻ có thể làm vì dăm ba đồng franc một tháng. Tôi tự hỏi thể loại người đó sẽ ra sao khi đi sâu vào nội địa?” Tôi bảo ông rằng tôi mong đợi sẽ sớm được tận mắt chứng kiến điều đó. “Thế á!” ông thốt lên. Ông lê bước sang ngang, một mắt vẫn cảnh giác quan sát phía trước. “Đừng quá chắc chắn nhé,” ông nói tiếp. “Hôm nọ tôi vừa chở một gã tự treo cổ chết dọc đường. Lão cũng là người Thụy Điển đấy.” “Treo cổ á! Vì Chúa, tại sao chứ?” tôi kêu lên. Ông vẫn đăm đăm nhìn ra ngoài đầy cảnh giác. “Ai mà biết được? Chắc bị nắng đánh cho lú lẫn, hoặc có lẽ vì cái xứ sở này.”
Cuối cùng chúng tôi cũng tiến vào một khúc sông. Một vách đá dựng đứng hiện ra, những đụn đất bị đào bới nằm ngổn ngang bên bờ, những ngôi nhà trên đồi, số khác lợp mái tôn, nằm giữa một vùng hoang tàn của những công trường đào bới, hoặc bám víu vào sườn dốc cheo leo. Tiếng róc rách liên hồi của những ghềnh thác phía trên bao trùm lấy khung cảnh tàn phá có người ở này. Rất nhiều người, hầu hết là da đen và trần truồng, di chuyển lăng xăng như kiến. Một cây cầu cảng nhô ra giữa dòng sông. Ánh nắng chói chang đôi khi nhấn chìm tất cả trong một đợt bùng phát lóa mắt đột ngột. “Trạm của Công ty anh kìa,” viên người Thụy Điển nói, chỉ tay về phía ba tòa nhà gỗ trông giống như doanh trại nằm trên sườn dốc đá. “Tôi sẽ cho người chuyển đồ đạc của anh lên. Bốn kiện đúng không? Được rồi. Vĩnh biệt.”
Tôi bắt gặp một chiếc lò hơi đang nằm vật vã giữa đám cỏ, rồi tìm thấy một con đường mòn dẫn ngược lên đồi. Nó uốn lượn tránh những tảng đá lớn, và cả một chiếc xe goòng đường sắt cỡ nhỏ đang nằm ngửa bụng với bốn bánh chổng ngược lên trời. Một chiếc bánh đã bị văng đi mất. Vật thể đó trông chết chóc chẳng khác nào xác một con thú nào đó. Tôi tiếp tục chạm trán thêm nhiều mảnh máy móc đang mục rữa, một đống đường ray rỉ sét. Phía bên trái, một cụm cây tạo thành một bóng râm nhỏ, nơi những bóng đen dường như đang cựa quậy yếu ớt. Tôi nheo mắt, con đường dốc đứng. Tiếng còi vang lên ở phía bên phải, và tôi thấy những người da đen đang hộc tốc chạy. Một tiếng nổ đục ngầu nặng nề làm rung chuyển mặt đất, một cuộn khói bật ra từ vách đá, và thế là hết. Chẳng có chút thay đổi nào xuất hiện trên bề mặt vách đá. Họ đang làm đường sắt. Vách đá nào có vướng víu gì đâu; nhưng cái công việc nổ mìn vô mục đích này lại chính là toàn bộ công việc đang diễn ra.
Tiếng lanh lảnh nhẹ nhàng phía sau khiến tôi quay đầu lại. Sáu người đàn ông da đen nối đuôi nhau tiến bước, nhọc nhằn leo lên con đường mòn. Họ đi thẳng người và chậm rãi, trên đầu cân bằng những chiếc giỏ nhỏ đựng đầy đất, và tiếng lanh lảnh vang lên nhịp nhàng theo bước chân họ. Những mảnh giẻ rách màu đen được quấn quanh thắt lưng, phần tà ngắn đằng sau cứ ve vẩy qua lại như những cái đuôi. Tôi có thể nhìn thấy từng chiếc xương sườn, các khớp xương trên chân họ trông giống như những nút thắt trên sợi thừng; mỗi người đều mang một chiếc vòng cổ bằng sắt, và tất cả được nối liền với nhau bằng một sợi xích với những đoạn chùng đung đưa ở giữa, va vào nhau kêu lanh lảnh nhịp nhàng. Một tiếng nổ nữa từ vách đá khiến tôi bất chợt liên tưởng đến chiếc chiến hạm mà tôi từng thấy đang nã pháo vào một lục địa. Đó cũng là thứ âm thanh mang điềm gở tương tự; thế nhưng những con người này dẫu có tưởng tượng cách mấy cũng không thể bị gọi là kẻ thù. Họ được gọi là tội phạm, và luật pháp bị tổn thương, giống như những quả đạn pháo phát nổ, đã giáng xuống đời họ như một ẩn số không thể giải đáp từ biển cả. Tất cả những lồng ngực gầy giơ xương cùng phập phồng, những cánh mũi phồng rộp dữ dội rung lên, đôi mắt trân trân nhìn ngược lên đồi. Họ sượt qua tôi chỉ cách nửa gang tay, chẳng thèm liếc lấy một cái, với sự dửng dưng hoàn toàn, lạnh lẽo như cái chết của những kẻ khốn khổ. Đi sau đám phế thải thô sơ này là một kẻ đã được cải tạo, sản phẩm của những thế lực mới đang hành động, đang ung dung thả bộ tay lăm lăm khẩu súng trường ở giữa thân. Hắn mặc chiếc áo khoác đồng phục bị đứt mất một cúc, và khi nhìn thấy một người da trắng trên đường mòn, liền nhanh chóng xốc vũ khí lên vai. Đây chỉ là sự cẩn trọng đơn thuần, người da trắng ở khoảng cách xa trông rất giống nhau nên hắn không thể phân biệt nổi tôi là ai. Hắn nhanh chóng được trấn an, và với một nợ cười toe toét rộng toét đầy vẻ bất lương, cùng cái liếc mắt về phía những kẻ đang bị kìm kẹp dưới tay, hắn có vẻ như muốn lôi kéo tôi vào liên minh với nhiệm vụ cao cả của mình. Rốt cuộc thì, tôi cũng là một phần trong đại nghĩa của những thủ tục cao cả và công bằng này.
Thay vì đi lên, tôi rẽ hướng và đi xuống phía bên trái. Ý định của tôi là để cho đám người mang xiềng xích ấy khuất tầm mắt trước khi tôi leo lên đồi. Các cậu biết đấy, tôi không phải là kẻ quá mềm mỏng; tôi từng phải ra đòn và phải né đỡ. Tôi từng phải chống trả và thỉnh thoảng phải tấn công — đó chỉ là một cách chống trả — mà chẳng cần tính toán chi li cái giá phải trả, tùy theo nhu cầu của kiểu đời sống mà tôi lỡ dấn thân vào. Tôi từng chứng kiến con quỷ của bạo lực, và con quỷ của lòng tham, và con quỷ của dục vọng bùng cháy; thế nhưng, thề có các vì sao! đó đều là những con quỷ cường tráng, vạm vỡ, mắt đỏ ngầu, từng khuấy đảo và sai khiến con người — những con người bằng xương bằng thịt, tôi nói cho các cậu biết đấy. Thế nhưng khi đứng trên sườn đồi này, tôi tiên cảm rằng dưới ánh nắng chói chang của xứ sở ấy, tôi sẽ được diện kiến một con quỷ nhão nhoét, giả tạo, mắt lờ đờ của sự tham lam và tàn nhẫn không chút xót thương. Nó có thể hiểm độc đến nhường nào, thì phải vài tháng sau và cách đó hàng ngàn dặm tôi mới thực sự ngộ ra. Trong khoảnh khắc, tôi đứng chết sững, tựa như vừa nhận được một lời cảnh báo. Cuối cùng, tôi đi chếch xuống sườn đồi, hướng về phía những lùm cây mà tôi vừa nhìn thấy.
Tôi tránh một cái hố nhân tạo khổng lồ nào đó mà ai đó đã đào trên sườn dốc, mục đích của nó là gì thì tôi hoàn toàn không thể đoán nổi. Dù sao thì nó cũng chẳng phải là một mỏ đá hay một hầm cát. Nó chỉ đơn thuần là một cái hố. Có lẽ nó gắn liền với mong muốn nhân đạo là tìm việc gì đó cho đám tội phạm làm chăng. Tôi chẳng rõ nữa. Rồi tôi suýt ngã nhũi vào một khe núi vô cùng hẹp, hầu như chẳng khác nào một vết sẹo trên sườn đồi. Tôi phát hiện ra rằng rất nhiều ống thoát nước được nhập về cho khu định cư đã bị ném lăn lóc xuống đó. Chẳng có lấy một ống nào còn nguyên vẹn. Đó là một sự phá hoại vô lối. Cuối cùng tôi cũng lết được vào dưới tán cây. Mục đích của tôi là tạt vào bóng râm trong chốc lát; thế nhưng vừa bước chân vào, tôi có cảm giác như thể mình vừa bước vào vòng tròn u ám của một tầng Địa ngục nào đó. Những ghềnh thác ở ngay gần, và một âm thanh tuôn chảy ào ạt, đơn điệu, không đứt đoạn đã lấp đầy sự tĩnh mịch thê lương của lùm cây, nơi chẳng một ngọn gió lay, chẳng một chiếc lá rung, bằng một thứ âm thanh huyền bí — tựa như thể nhịp điệu xé gió của một trái đất đang lao đi bỗng chốc trở nên nghe được rõ mồn một.
Những bóng đen đang co ro, nằm dài, ngồi xổm giữa những thân cây dựa lưng vào thân, bám chặt lấy mặt đất, nửa hiện nửa ẩn trong ánh sáng mờ ảo, với đủ mọi tư thế của sự đau đớn, bị bỏ rơi và tuyệt vọng. Một tiếng nổ mìn khác trên vách đá lại vang lên, theo sau là một cú rung chấn nhẹ của lớp đất dưới chân tôi. Công việc vẫn đang tiếp diễn. Công việc cơ chứ! Và đây chính là nơi mà một vài kẻ trợ thủ đã lui về để chờ chết.
Họ đang chết từ từ — điều đó quá ư rõ ràng. Họ không phải là kẻ thù, họ không phải là tội phạm, họ chẳng còn là sinh vật trần thế nào nữa — chẳng là gì ngoài những chiếc bóng đen còm cõi vì bệnh tật và đói khát, nằm ngổn ngang trong bóng râm ngả màu xanh lục. Được đưa đến từ mọi ngóc ngách của bờ biển theo đúng tính pháp lý của các hợp đồng thời hạn, lạc lõng giữa môi trường xa lạ, bị nhồi nhét những thứ thức ăn xa lạ, họ ngã bệnh, trở nên vô dụng, và rồi được phép lết đi để tìm chỗ nghỉ ngơi. Những bóng ma hấp hối ấy tự do như gió — và cũng gầy mòn gần bằng gió. Tôi bắt đầu nhận ra những tia sáng lấp lánh từ đôi mắt ẩn dưới vòm cây. Rồi, khi cúi xuống, tôi nhìn thấy một gương mặt gần sát bàn tay mình. Bộ xương đen đúa nằm ngả dài với một bên vai tựa vào gốc cây, và mí mắt từ từ hé mở, đôi mắt trũng sâu ngước nhìn lên tôi, to lớn và trống rỗng, một dạng chớp sáng trắng đục ngầu nằm sâu trong hốc mắt, rồi lịm tắt dần một cách chậm chạp. Người đàn ông trông còn rất trẻ — suýt soát tuổi thiếu niên — nhưng các cậu biết đấy, với bọn họ thì thật khó mà đoán định. Tôi chẳng tìm được việc gì khác để làm ngoài việc đưa cho hắn một chiếc bánh quy tàu của lão người Thụy Điển tốt bụng mà tôi lút túi. Những ngón tay từ từ khép lại cầm lấy nó — chẳng có cử động nào khác và cũng chẳng có cái nhìn nào khác. Hắn thắt một mẩu len trắng quanh cổ — Tại sao chứ? Hắn vớ lấy nó ở đâu cơ chứ? Đó là một thứ phù hiệu — một món đồ trang trang trí — một tấm bùa hộ mệnh — hay một hành động xoa dịu? Có chút ý nghĩ nào liên quan đến nó hay không? Trông nó thật chói mắt quanh chiếc cổ đen đúa ấy, mẩu chỉ trắng đến từ bên kia đại dương.
Gần gốc cây đó, thêm hai bọc xương xẩu với đôi chân co quắp đang ngồi ngất ngưởng. Một kẻ, với chiếc cằm tì lên đầu gối, đang trân trân nhìn vào khoảng không theo một cách vô cùng khó chịu và kinh hoàng: kẻ đồng cảnh ngộ với hắn thì cúi gằm trán xuống, như thể bị kiệt quệ bởi một nỗi mệt mỏi khôn cùng; và xung quanh đó, những kẻ khác đang rải rác trong đủ mọi tư thế quằn quại đổ gục, hệt như trong một bức tranh tả cảnh thảm sát hay dịch bệnh. Trong lúc tôi còn đang đứng chết sững vì kinh hãi, một sinh vật trong số đó chống tay quỳ gối, rồi lết bằng cả tứ chi về phía dòng sông để uống nước. Hắn bụm nước húp bằng tay, rồi ngồi bệch xuống dưới ánh nắng, vắt chéo cẳng chân trước ngực, và một lúc sau thả rơi cái đầu bù xù tóc xoăn xuống lồng ngực.
Tôi chẳng muốn la cà thêm trong bóng râm nữa, và vội vã rảo bước về hướng trạm. Khi đến gần các tòa nhà, tôi chạm trán một người da trắng, với vẻ bảnh bao vượt quá sức tưởng tượng đến mức trong khoảnh khắc đầu tiên tôi tưởng hắn là một dạng ảo ảnh. Tôi nhìn thấy một chiếc cổ áo cao được ươn cứng, cổ tay áo trắng tinh, chiếc áo khoác nhẹ bằng vải alpaca, chiếc quần dài trắng muốt, chiếc cà vạt sạch sẽ và đôi giày đánh vec-ni. Không đội mũ. Tóc rẽ ngôi, chải chuốt, bôi pomade, ẩn dưới một chiếc ô màu xanh ngự trị trong một bàn tay trắng trẻo to bè. Hắn trông thật kinh ngạc, và giắt một ống đựng bút sau tai.
Tôi bắt tay với vị thần kỳ tích này, và được biết hắn chính là viên kế toán trưởng của Công ty, và toàn bộ công tác sổ sách đều được thực hiện tại trạm này. Hắn bước ra ngoài trong chốc lát, theo lời hắn nói, là “để hít thở chút không khí trong lành.” Cụm từ ấy nghe mới lạ lùng làm sao, với cái ý vị gợi nhắc đến cuộc sống bàn giấy tĩnh tại. Tôi đã chẳng thèm nhắc đến gã này với các cậu nếu như không phải chính từ đôi môi của hắn, tôi lần đầu tiên được nghe đến cái tên gắn chặt không thể tách rời với những ký ức của khoảng thời gian ấy. Hơn nữa, tôi dành sự tôn trọng cho gã này. Phải; tôi tôn trọng những chiếc cổ áo của hắn, những cổ tay áo rộng thênh thang của hắn, mái tóc được chải chuốt gọn gàng. Diện mạo của hắn quả thực giống hệt một ma-nơ-canh ở tiệm cắt tóc; nhưng giữa chốn hoang tàn vô đạo đức của vùng đất này, hắn vẫn duy trì được phong độ bề ngoài của mình. Đó chính là bản lĩnh. Những chiếc cổ áo được ươn cứng và ngực áo là lượt phẳng phiu của hắn chính là những thành tựu của nhân cách. Hắn đã bám trụ ở đây gần ba năm; và sau này, tôi không tài nào kìm được tò mò phải hỏi hắn làm sao mà giữ cho những món đồ vải vóc ấy trắng tinh đến thế. Hắn thẹn thùng đỏ mặt thoáng qua, và khiêm nhường đáp: “Tôi đang dạy cho một người phụ nữ bản xứ quanh trạm cách giặt giũ. Thật khó khăn đấy. Cô ta tỏ ra ác cảm với công việc này.” Cứ như thế, gã đàn ông này thực sự đã hoàn thành được một điều gì đó. Và hắn rất tận tụy với những cuốn sổ sách của mình, chúng lúc nào cũng được sắp xếp gọn gàng ngăn nắp theo kiểu táo héo.
Mọi thứ khác trong trạm đều nham nhở, hỗn độn — đầu óc, đồ đạc, nhà cửa. Những nhóm người da đen bám đầy bụi bặm với đôi chân bè ra liên tục đến rồi đi; một dòng chảy hàng hóa được sản xuất công nghiệp, vải cotton rẻ tiền, hạt cườm, và dây đồng thau được tống sâu vào lòng dạ của bóng tối, và đổi lại là một dòng chảy tí hon ngà voi quý giá.
Tôi phải ở lại trạm này mười ngày — một khoảng thời gian dài đằng đẵng như vĩnh cửu. Tôi ở trong một túp lều trong sân, nhưng để tránh xa sự hỗn loạn, thỉnh thoảng tôi lại tạt vào phòng làm việc của viên kế toán. Nó được dựng bằng nhữngh thanh ván nằm ngang, lắp ráp cẩu thả đến mức khi hắn cúi người xuống bàn làm việc cao, cơ thể hắn từ cổ tới gót chân bị cắt ngang bởi những vệt nắng chiếu hẹp. Chẳng cần phải mở cánh chớp lớn ra để nhìn. Trong phòng cũng rất nóng; những con ruồi to xác vo ve một cách tàn độc, không đốt mà châm chích đau điếng. Tôi thường ngồi bệt xuống sàn, trong khi với vẻ ngoài hoàn hảo (và thậm chí thoang thoảng mùi thơm), perched trên một chiếc ghế cao, hắn cặm cụi viết, viết liên hồi. Thỉnh thoảng hắn đứng dậy để vận động gân cốt. Khi một chiếc giường xếp có bệnh nhân nằm trên (một viên chức ốm yếu nào đó từ thượng nguồn) được chuyển vào trong đó, hắn tỏ vẻ khó chịu nhẹ. “Tiếng rên rỉ của con người đau ốm này,” hắn nói, “đang làm xao lãng sự tập trung của tôi. Mà nếu không có chuyện đó thì việc phòng ngừa sai sót sổ sách trong cái khí hậu này cũng đã vô cùng khó khăn rồi.”
Một hôm, hắn nhận xét mà không thèm ngẩng đầu lên, “Khi vào trong nội địa, chắc chắn anh sẽ gặp ông Kurtz.” Khi tôi hỏi ông Kurtz là ai, hắn đáp đó là một nhân viên hạng nhất, và khi thấy sự thất vọng của tôi trước thông tin ấy, hắn chậm rãi nói thêm, đặt cây bút xuống, “Ông ấy là một nhân vật rất đáng chú ý.” Những câu hỏi tiếp theo gặng ra từ hắn rằng ông Kurtz hiện đang phụ trách một trạm thương mại, một trạm vô cùng quan trọng, nằm ở vùng đất ngà voi chính hiệu, ở “tận cùng cái xó xỉnh dưới kia. Gửi về lượng ngà voi nhiều bằng tất cả những trạm khác cộng lại...” Hắn lại cắm cúi viết tiếp. Người bệnh quá yếu nên chẳng thể rên rỉ nổi. Bọn ruồi vo ve trong một bầu không gian yên bình đến lạ lùng.
Đột nhiên có tiếng dội lên ngày một lớn của những giọng nói và tiếng bước chân rầm rập. Một đoàn caravan vừa mới kéo đến. Một mớ âm thanh hỗn độn chát chúa bùng lên ở phía bên kia bức vách ván. Tất cả những kẻ mang vác đều nói nhao nhao cùng lúc, và giữa khung cảnh ồn ào ấy, tiếng than vãn của viên quản lý trưởng lại vang lên “buông xuôi” trong nước mắt lần thứ hai mươi trong ngày hôm đó.... Hắn chậm rãi đứng dậy. “Thật là một cái chợ chiều huyên náo khủng khiếp,” hắn nói. Hắn nhẹ nhàng bước qua căn phòng để nhìn người bệnh, và khi quay trở lại, bảo với tôi, “Hắn chẳng còn nghe thấy gì nữa rồi.” “Sao cơ? Chết rồi à?” tôi giật mình hỏi. “Không, chưa đâu,” hắn đáp với vẻ vô cùng bình thản. Rồi, hất đầu ám chỉ đám đông hỗn loạn ngoài sân trạm, “Khi người ta buộc phải ghi chép sổ sách cho chính xác, người ta sẽ đâm ra căm ghét lũ da đen ấy — căm ghét đến tận xương tủy.” Hắn trầm ngâm trong giây lát. “Khi anh gặp ông Kurtz,” hắn nói tiếp, “hãy chuyển lời giúp tôi rằng mọi thứ ở đây” — hắn liếc nhìn mặt bàn — “đều vô cùng thỏa đáng. Tôi không thích viết thư cho ông ấy — với cái đám giao liên của chúng ta, chẳng thể biết chắc ai sẽ là kẻ tóm được bức thư của anh — ở cái Trạm Trung tâm đó đâu.” Hắn đăm đăm nhìn tôi trong giây lát với đôi mắt hiền từ lồi ra. “Ồ, ông ấy sẽ tiến xa, rất xa đấy,” hắn bắt đầu lại. “Chẳng mấy chốc nữa ông ấy sẽ là một nhân vật có tiếng tăm trong Chính quyền. Bọn họ ở trên thượng tầng — Hội đồng ở Châu Âu ấy, anh biết đấy — có ý định đặt kỳ vọng vào ông ấy.”
Hắn quay trở lại với công việc. Tiếng ồn ào bên ngoài đã dứt, và lát sau khi bước ra ngoài, tôi dừng lại ở cửa. Trong tiếng ruồi vo ve đều đều, viên đại lý chuẩn bị về nước đang nằm bất tỉnh nhân sự; kẻ còn lại, cặm cụi bên những trang sổ sách, đang ghi chép chính xác những giao dịch hoàn toàn chính xác; và cách ngưỡng cửa năm mươi thước, tôi có thể nhìn thấy những ngọn cây tĩnh lặng của khu rừng chết.
Hôm sau, cuối cùng tôi cũng rời khỏi trạm đó, cùng đoàn caravan gồm sáu mươi người, bắt đầu chặng đường đi bộ dài hai trăm dặm.
Chẳng ích gì khi kể cho các cậu nghe nhiều về chặng đường đó. Đường mòn, đường mòn, đâu đâu cũng là đường mòn; một mạng lưới đường mòn bị giẫm nát trải dài khắp vùng đất hoang vắng, xuyên qua những thảm cỏ dài, qua những đám cỏ cháy xém, qua những bụi rậm, lên xuống những khe núi lạnh buốt, lên xuống những ngọn đồi đá cuội bốc lửa; và một sự cô độc, một sự cô độc tột cùng, chẳng có bóng người, chẳng có lấy một túp lều. Cư dân đã dọn đi từ lâu lắm rồi. Chà, nếu một đám người da đen bí ẩn mang theo đủ loại vũ khí đáng sợ bỗng nhiên đổ xô ra đi lại trên con đường giữa Deal và Gravesend, bắt cóc dân quê trái phải để khiêng những gánh nặng trĩu vai cho chúng, tôi đoán là mọi trang trại và ngôi nhà ở quanh vùng đó sẽ sớm trống không nhanh chóng thôi. Chỉ có điều ở đây, những mái nhà cũng biến mất luôn. Dù vậy, tôi vẫn đi qua vài ngôi làng hoang phế. Có một nét gì đó ngây thơ đến đáng thương trong những tàn tích của bức tường tranh vách đất. Ngày qua ngày, với tiếng bước chân nện thịch và lê lết của sáu mươi đôi chân trần phía sau lưng, mỗi đôi chân phải gánh trên vai trọng lượng sáu mươi cân. Cắm trại, nấu nướng, ngủ nghỉ, nhổ trại, hành quân. Thỉnh thoảng lại có một phu phen kiệt sức bỏ mạng giữa đường, nằm bất động trong đám cỏ dài ven lối đi, với chiếc bầu đựng nước rỗng và cây gậy dài nằm lăn lóc bên cạnh. Một sự tĩnh mịch bao la trùm lên xung quanh và phía trên. Có lẽ vào một đêm thanh vắng nào đó, văng vẳng tiếng rung chuyển của những tiếng trống từ xa xôi, lúc chìm lúc nổi, một tiếng rung mênh mông, yếu ớt; một âm thanh kỳ dị, khẩn thiết, gợi mở và hoang dã — và có lẽ mang một ý nghĩa sâu sắc chẳng kém gì tiếng chuông nhà thờ ở một xứ sở Thiên Chúa giáo. Có lần, một người da trắng mặc chiếc áo khoác mở cúc, cắm trại dọc đường với đoàn hộ tống vũ trang gồm những gã người Zanzibar gầy guộc, vô cùng hiếu khách và tưng bừng — phải nói là say mèm. Hắn tuyên bố là đang trông coi việc bảo dưỡng con đường. Tôi chẳng thấy có con đường nào hay việc bảo dưỡng nào cả, ngoại trừ cái xác của một người da đen trung niên, với một lỗ đạn ngay giữa trán, mà tôi suýt vấp phải ở cách đó ba dặm, có lẽ được coi là một cải tiến vĩnh viễn. Tôi cũng có một người đồng hành da trắng, không phải là gã tồi, nhưng có cái tật quá ư béo ú và thói quen ngất xỉu đầy bực dọc trên những sườn đồi nóng như đổ lửa, cách xa dù chỉ một chút bóng râm và nước uống. Các cậu biết đấy, thật là phiền phức làm sao khi phải dùng chiếc áo khoác của chính mình làm ô che nắng cho một gã trong lúc hắn đang hồi tỉnh. Có lần tôi không kìm được phải hỏi hắn có ý gì khi lặn lội đến cái xứ quái quỷ này. “Để kiếm tiền chứ sao. Anh tưởng gì nữa?” hắn khinh bỉ đáp. Rồi hắn bị sốt rét, và phải được khiêng trên một chiếc võng mắc ngang đòn gánh. Vì hắn nặng tới mười sáu thạch nên tôi đã có vô số trận cãi vã với đám phu phen. Bọn chúng trở chứng ngạnh cổ, bỏ trốn, lén lút cuỗm theo hàng hóa tẩu thoát trong đêm — một cuộc nổi loạn thực sự. Thế là vào một buổi tối, tôi tung ra một bài diễn văn bằng tiếng Anh kèm theo các cử động cơ thể, và chẳng có lấy một cử chỉ nào lọt ngoài tầm mắt của sáu mươi cặp mắt đang đăm đăm nhìn tôi, để rồi sáng hôm sau tôi cho chiếc võng lên đầu đoàn xuôi xẻo xuất phát. Một tiếng đồng hồ sau, tôi bắt gặp toàn bộ cơ sự nằm bẹp dí đống bùn trong bụi rậm — người, võng, tiếng rên rỉ, chăn màn, những thứ kinh hoàng. Chiếc đòn gánh nặng trịch đã làm xước toét cái mũi tội nghiệp của hắn. Hắn vô cùng tha thiết muốn tôi bắn chết quách ai đó đi, nhưng xung quanh chẳng có bóng dáng một tên phu khuân vác nào. Tôi nhớ lại lời vị bác sĩ già — “Sẽ rất thú vị cho khoa học khi quan sát những biến đổi tâm lý của từng cá nhân ngay tại hiện trường.” Tôi cảm thấy bản thân mình đang trở nên cực kỳ thú vị về mặt khoa học. Tuy nhiên, tất cả những chuyện đó đều vô nghĩa. Đến ngày thứ mười lăm, tôi lại bắt gặp dòng sông lớn và lết thân vào Trạm Trung tâm. Nó nằm trên một khúc sông cạn bao quanh bởi bụi rậm và rừng già, với một đường viền xinh xắn bằng thứ bùn bốc mùi hôi thối ở một bên, còn ba mặt kia được bao bọc bởi một hàng rào sậy ọp ẹp. Một khoảng trống bị bỏ quên chính là chiếc cổng duy nhất của nó, và cái nhìn đầu tiên vào nơi này cũng đủ để bạn thấy rằng con quỷ nhão nhoét kia đang điều hành cái show diễn này. Những người da trắng tay cầm gậy dài uể oải bước ra từ giữa các tòa nhà, lững thững đến ngó nghiêng tôi, rồi lại rút lui vào đâu đó khuất tầm mắt. Một gã trong số họ, một gã béo tốt dễ kích động với bộ ria mép đen, vừa thấy tôi xưng danh liền tuôn ra một tràng dài lê thê với đủ mọi lời lẽ huyên thuyên và lan man rằng chiếc tàu thủy của tôi đã chìm nghỉm dưới đáy sông. Tôi chết sững người. Cái gì, thế nào, tại sao cơ chứ? Ồ, mọi chuyện đều “ổn cả.” “Chính ngài quản lý” đang ở đó. Mọi thứ hoàn toàn chính xác. “Mọi người đã cư xử tuyệt vời! tuyệt vời!” — “anh phải,” hắn kích động nói, “đến gặp ngay tổng quản lý! Ngài ấy đang đợi đấy!” Tôi không nhận thức được ngay ý nghĩa thực sự của vụ đắm tàu đó. Tôi tưởng tượng giờ thì mình đã hiểu, nhưng tôi không chắc — hoàn toàn không chắc. Quả thực vụ việc quá đỗi ngớ ngẩn — khi ngẫm lại — để có thể coi là hoàn toàn tự nhiên. Dù sao đi nữa... Nhưng vào lúc ấy, nó hiện lên đơn giản như một phiền toái chết tiệt. Con tàu đã bị đánh chìm. Họ đã khởi hành từ hai ngày trước trong một cơn vội vã đột ngột ngược dòng sông với viên quản lý ở trên tàu, dưới quyền chỉ huy của một gã thuyền trưởng tình nguyện nào đó, và chưa đầy ba tiếng đồng hồ sau khi xuất phát, bọn họ đã xé toác đáy tàu vào mấy mỏm đá và nó chìm nghỉm ngay gần bờ nam. Tôi tự hỏi mình phải làm gì ở đây, khi chiếc tàu của mình đã tiêu đời. Thực tế là tôi có khối việc phải làm trong việc vớt chiếc tàu dưới sông lên. Tôi đã phải bắt tay vào làm ngay vào ngày hôm sau. Công việc đó, cộng với việc sửa chữa khi tôi kéo được các mảnh vỡ về trạm, ngốn mất vài tháng trời.
Cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi với viên quản lý thật kỳ lạ. Ông ta không mời tôi ngồi xuống sau chặng đường đi bộ hai mươi dặm sáng hôm đó. Ông ta có nước da, đường nét gương mặt, tác phong và giọng nói đều tầm thường như bao người. Ông ta có chiều cao trung bình và vóc dáng bình thường. Đôi mắt màu xanh lam bình thường của ông ta có lẽ mang một vẻ lạnh lùng đáng kể, và ông ta hoàn toàn có thể khiến cái nhìn của mình giáng xuống người đối diện sắc bén và nặng nề như một lưỡi rìu. Thế nhưng ngay cả trong những khoảnh khắc đó, phần còn lại trên cơ thể ông ta dường như lại chối bỏ ý định ấy. Ngoài ra, chỉ còn sót lại một biểu hiện không thể định nghĩa, phảng phất nơi khóe môi, một thứ gì đó lén lút — một nụ cười — không hẳn là nụ cười — tôi nhớ nó, nhưng tôi không thể giải thích nổi. Nó rất vô thức, nụ cười ấy, dường như chỉ đậm lên trong chốc lát ngay sau khi ông ta vừa thốt ra điều gì đó. Nó xuất hiện ở cuối những câu nói của ông ta giống như một con dấu được đóng lên câu chữ để khiến ý nghĩa của những cụm từ thông thường nhất trở nên hoàn toàn khó lường. Ông ta chỉ là một thương gia bình thường, từ thời niên thiếu đã được thuê mướn làm việc ở những vùng đất này — chẳng hơn không kém. Ông ta được tuân lệnh, thế nhưng ông ta không khơi gợi tình yêu lẫn sự sợ hãi, hay thậm chí là sự tôn trọng. Ông ta khơi gợi sự bất an. Chính là nó! Sự bất an. Không phải là một sự hoài nghi rạch ròi — chỉ là sự bất an — chẳng hơn thế nữa. Các cậu không thể tưởng tượng được một năng lực... năng lực như thế có thể hiệu quả đến nhường nào đâu. Ông ta không có khiếu tổ chức, thiếu sự chủ động, hay thậm chí là thiếu cả sự ngăn nắp. Điều đó hiển hiện rõ qua những thứ như tình trạng tồi tệ đến đáng thương của trạm. Ông ta chẳng có học thức, cũng chẳng có chút thông minh nào. Vị thế của ông ta rơi vào tay ông ta — tại sao chứ? Có lẽ bởi vì ông ta chẳng bao giờ ngã bệnh... Ông ta đã phục vụ ba nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ ba năm ở ngoài đó... Bởi vì một sức khỏe cường tráng giữa chốn tàn lụi chung của các thể trạng chính là một thứ quyền lực tự thân. Khi về nước nghỉ phép, ông ta ăn chơi trác táng trên quy mô lớn — một cách phô trương. Jack sa cơ lỡ vận — nhưng có một sự khác biệt — chỉ ở vẻ bề ngoài mà thôi. Người ta có thể nhận ra điều này qua những câu chuyện phiếm bâng quơ của ông ta. Ông ta chẳng sáng tạo ra bất cứ thứ gì, ông ta chỉ duy trì được guồng quay công việc thường nhật — thế thôi. Nhưng ông ta rất vĩ đại. Ông ta vĩ đại nhờ một điểm nhỏ nhặt này là người ta hoàn toàn không thể đoán định được điều gì có thể điều khiển nổi một con người như thế. Ông ta chưa bao giờ để lộ bí mật đó ra ngoài. Có lẽ bên trong ông ta chẳng có gì cả. Sự nghi ngờ ấy khiến người ta phải chùng xuống — bởi vì ngoài ấy chẳng có bất kỳ sự kìm kẹp ngoại tại nào. Có lần, khi các căn bệnh nhiệt đới quật ngã hầu như mọi “đại lý” trong trạm, người ta nghe thấy ông ta nói rằng: “Những kẻ đến vùng đất này không nên mang theo ruột gan.” Ông ta đóng ấn lời phát biểu đó bằng nụ cười quen thuộc của mình, hệt như một cánh cửa mở ra hướng về bóng tối mà ông ta đang gìn giữ. Bạn cứ tưởng mình đã nhìn thấy mọi thứ — nhưng con dấu đã được đóng sập lại. Khi bị làm phiền trong bữa ăn bởi những trận cãi vã liên miên giữa mấy tên da trắng về chuyện địa vị thứ bậc, ông ta ra lệnh đóng một chiếc bàn tròn khổng lồ, và một căn nhà riêng phải được dựng lên để kê nó. Đây chính là phòng ăn chung của trạm. Vị trí ông ta ngồi chính là chỗ cao nhất — còn lại tất cả đều chẳng là gì cả. Người ta cảm nhận đây là một niềm tin bất diệt của ông ta. Ông ta không lịch sự cũng chẳng vô lễ. Ông ta tĩnh lặng. Ông ta dung túng cho “cậu nhóc” của mình — một tên da đen béo phì đến từ vùng bờ biển — đối xử với những gã da trắng ngay trước mắt mình bằng một thái độ xấc xược đầy khiêu khích.
Ông ta bắt đầu cất lời ngay khi vừa nhìn thấy tôi. Tôi đã lê la trên đường quá lâu. Ông ta không thể chờ đợi được nữa. Buộc phải lên đường mà không có tôi. Các trạm trên thượng nguồn cần được tiếp viện. Đã có quá nhiều sự chậm trễ xảy ra đến mức ông ta chẳng biết ai còn sống ai đã chết, và họ xoay sở ra sao — v.v. và v.v.. Ông ta chẳng mảy may chú ý đến những lời giải thích của tôi, vừa nghịch một thỏi sáp niêm phong vừa lặp lại vài lần rằng tình hình là “vô cùng nghiêm trọng, vô cùng nghiêm trọng.” Có những lời đồn thổi rằng một trạm vô cùng quan trọng đang gặp nguy hiểm, và người đứng đầu trạm ấy, ông Kurtz, đang lâm bệnh. Hy vọng là không đúng sự thật. Ông Kurtz là... Tôi cảm thấy mệt mỏi và cáu kỉnh. Mặc xác Kurtz đi, tôi thầm nghĩ. Tôi ngắt lời ông ta bằng cách nói rằng tôi đã nghe danh ông Kurtz ở vùng bờ biển. “À! Hóa ra bọn chúng bàn tán về ông ấy ở dưới đó sao,” ông ta lầm bầm một mình. Rồi ông ta lại bắt đầu, quả quyết với tôi rằng ông Kurtz là nhân viên giỏi nhất mà ông ta có, một nhân vật xuất chúng, có tầm quan trọng tối quan trọng đối với Công ty; do đó tôi có thể hiểu được sự lo lắng của ông ta. Ông ta nói rằng mình “vô cùng, vô cùng bất an.” Quả thực ông ta ngọ nguậy trên ghế khá nhiều, thốt lên, “À, ông Kurtz!” rồi làm gãy thỏi sáp niêm phong và tỏ ra chết trân vì tai nạn đó. Điều tiếp theo ông ta muốn biết là “sẽ mất bao lâu để”... Tôi lại ngắt lời ông ta. Các cậu biết đấy, vì đang đói bụng và bị bắt đứng quá lâu. Tôi đang nổi đóa lên. “Sao tôi biết được chứ?” tôi nói. “Tôi thậm chí còn chưa thấy chiếc tàu đắm nữa — chắc phải mất vài tháng chứ chẳng chơi.” Tất cả những lời lẽ này đối với tôi quá ư vô nghĩa. “Vài tháng,” ông ta nói. “Chà, cứ cho là ba tháng đi chúng ta mới có thể khởi hành được. Vâng. Thế là ổn thỏa rồi đấy.” Tôi hậm hực bước ra khỏi túp lều của ông ta (ông ta sống lủi thủi một mình trong một túp lều đất sét có dạng hiên nhà) vừa lầm bầm phàn nàn về nhận định của tôi đối với ông ta. Ông ta đúng là một gã ngốc hoa ngôn xảo ngữ. Về sau tôi đã phải rút lại lời nói ấy khi nhận ra một cách đầy kinh ngạc rằng ông ta đã ước tính chuẩn xác đến từng ly từng tí khoảng thời gian cần thiết cho “vụ việc” đó.
Tôi bắt tay vào làm việc vào ngày hôm sau, có thể nói là quay lưng lại với cái trạm đó. Chỉ bằng cách đó tôi mới cảm thấy mình có thể bám giữ lấy những thực tế cứu rỗi của cuộc đời. Dù vậy, đôi khi người ta vẫn phải ngó nghiêng xung quanh; và rồi tôi lại nhìn thấy cái trạm này, đám người đang lững thững đi lang thang vô định dưới ánh nắng sân trạm. Thỉnh thoảng tôi lại tự hỏi tất cả những điều này có nghĩa là gì. Bọn họ lang thang khắp nơi tay cầm những cây gậy dài ngớ ngẩn, hệt như một lũ hành hương bất tín bị bỏ bùa bên trong một chiếc hàng rào mục nát. Từ “ngà voi” vang lên trong không khí, được thì thầm, được thở dài. Cứ như thể họ đang cầu nguyện với nó vậy. Một thứ hơi hám của lòng tham đần độn phảng phất qua tất cả, hệt như một luồng khí bốc ra từ một cõi xác chết nào đó. Thề có Chúa! Tôi chưa từng chứng kiến điều gì phi thực tế đến thế trong đời. Và bên ngoài, chốn hoang dã câm lặng bao quanh khoảng không gian đã được phát quang này hiện lên trong tôi thật vĩ đại và bất khả chiến bại, giống như cái ác hay sự thật, đang kiên nhẫn chờ đợi sự tiêu vong của cuộc xâm lược hoang đường này.
Ồ, những tháng ngày đó! Thôi nào, miễn bàn đi. Vô số chuyện đã xảy ra. Vào một buổi tối, một túp lều tranh chứa đầy vải chéo calico, vải in hoa cotton, hạt cườm, và chẳng biết thứ gì khác nữa, bỗng nhiên bùng cháy dữ dội đến mức bạn sẽ nghĩ rằng trái đất vừa nứt ra để cho một ngọn lửa báo thù thiêu rụi toàn bộ đống rác rưởi ấy. Tôi đang lặng lẽ hút tẩu thuốc bên chiếc tàu thủy đã bị tháo dỡ của mình và chứng kiến bọn họ nhảy múa nhăng cuội trong ánh lửa, với đôi tay giơ cao, thì gã béo tốt có bộ ria mép hộc tốc chạy nhào xuống sông, tay cầm một chiếc xô thiếc, quả quyết với tôi rằng mọi người đều đang “cư xử tuyệt vời, tuyệt vời,” rồi múc tầm một lít nước rồi lại lao ngược đi mất. Tôi nhận thấy dưới đáy xô của hắn có một cái thủng.
Tôi thong thả bước lên. Chẳng có gì phải vội vàng cả. Các cậu thấy đấy, mọi chuyện đã bốc cháy hệt như một hộp diêm. Nó đã vô vọng ngay từ phút ban đầu. Ngọn lửa bùng lên cao ngút, đẩy lùi tất cả mọi người, chiếu sáng rực mọi thứ — rồi sụp đổ. Túp lều giờ đây chỉ còn là một đống tro tàn đang bừng sáng dữ dội. Một gã da đen đang bị đánh đập ở gần đó. Người ta bảo hắn đã gây ra vụ cháy bằng cách nào đó; dù thế nào đi nữa, hắn cũng đang tru tréo một cách vô cùng thảm thiết. Vài ngày sau, tôi vẫn nhìn thấy hắn ngồi trong một góc râm mát với vẻ mặt phờ phạc đang cố gắng hồi sức; sau đó hắn đứng dậy và bước đi — và chốn hoang dã vô thanh vô thức lại ôm trọn hắn vào lòng. Khi tôi tiến đến gần đốm sáng từ bóng tối, tôi phát hiện mình đang đứng đằng sau hai người đàn ông đang trò chuyện. Tôi nghe thấy cái tên Kurtz được thốt lên, rồi đến cụm từ, “tận dụng cơ hội không may này.” Một trong hai người đàn ông chính là viên quản lý. Tôi chào ông ta một tiếng chúc buổi tối tốt lành. “Anh đã từng thấy điều gì tương tự thế này chưa — ồ? Thật không thể tin nổi,” ông ta nói, rồi bước đi. Người đàn ông còn lại ở lại. Hắn là một nhân viên hạng nhất, trẻ tuổi, mang phong thái quý tộc, hơi kín đáo một chút, với một bộ râu chẻ hai nho nhỏ và chiếc mũi khoằm. Hắn giữ khoảng cách với các nhân viên khác, và ở chiều ngược lại, bọn họ bảo hắn là gián điệu của viên quản lý cài cắm để theo dõi họ. Về phần tôi, tôi hầu như chưa từng nói chuyện với hắn bao giờ. Chúng tôi bắt đầu trò chuyện, và lát sau thì tản bộ rời xa những đống đổ nát vẫn còn xì xèo. Rồi hắn mời tôi vào phòng của mình, nằm trong tòa nhà chính của trạm. Hắn chẹt một que diêm, và tôi nhận ra rằng vị quý tộc trẻ tuổi này không chỉ có một bộ đồ đựng đồ trang điểm bọc bạc mà còn sở hữu cả một cây nến nguyên vẹn dành riêng cho mình hắn. Ngay vào thời điểm đó, viên quản lý là người duy nhất được cho là có quyền sử dụng nến. Những chiếc chiếu bản xứ che phủ các bức tường đất sét; một bộ sưu tập gồm giáo, lao, khiên, dao được treo lên như những chiến lợi phẩm. Công việc được giao phó cho gã này là làm gạch — theo như tôi được thông báo; thế nhưng chẳng có lấy một mảnh gạch nào xuất hiện ở bất cứ xó xỉnh nào trong trạm, trong khi hắn đã ở đây hơn một năm — chỉ để chờ đợi. Dường như hắn không thể làm gạch nếu thiếu một thứ gì đó, tôi chẳng biết là gì — có lẽ là rơm. Dù sao đi nữa, thứ đó không thể tìm thấy ở đây và vì nó chẳng đời nào được gửi từ Châu Âu sang, nên tôi chẳng thấy rõ lý do vì sao hắn cứ mòn mỏi chờ đợi. Có lẽ là chờ một phép mầu sáng thế chăng. Tuy nhiên, tất cả bọn họ đều đang chờ đợi — toàn bộ mười sáu hay hai mươi kẻ hành hương ấy — cho một thứ gì đó; và thề có Chúa, qua cách họ đón nhận nó thì đó có vẻ không phải là một công việc quá ư chán ngắt, mặc dù thứ duy nhất từng đến với họ chính là bệnh tật — theo như những gì tôi có thể thấy. Bọn họ tiêu khiển thời gian bằng cách nói xấu sau lưng và âm mưu chống lại nhau theo một cách ngớ ngẩn nào đó. Có một bầu không khí mưu mô bao trùm trạm đó, nhưng tất nhiên chẳng đi đến đâu cả. Nó ảo ảnh hệt như mọi thứ khác — hệt như cái vẻ ngụy biện nhân đạo của toàn bộ hệ thống, hệt như những lời nói của họ, hệt như sự cai quản của họ, hệt như cái vẻ bày đặt làm việc của họ. Cảm xúc duy nhất có thật chính là mong muốn được bổ nhiệm đến một trạm thương mại nơi có ngà voi, để họ có thể kiếm được phần trăm hoa hồng. Bọn họ âm mưu, vu khống và căm ghét lẫn nhau chỉ vì lý do đó — chứ còn bảo nhấc nổi một ngón tay để làm việc cho ra hồn thì — ồ, không đời nào. Thề có Chúa! Dù sao thì trên đời này vẫn có một nghịch lý cho phép một kẻ ăn cắp con ngựa trong khi kẻ khác thậm chí không được phép nhìn vào dây cương. Cứ ăn cắp trọn con ngựa đi. Tốt thôi. Hắn đã làm thế rồi. Có lẽ hắn biết cưỡi. Nhưng có những cách nhìn vào dây cương khiến ngay cả vị thánh nhân từ bi nhất cũng phải nổi giận tung cước. Tôi chẳng hiểu tại sao hắn lại muốn tỏ ra thân thiện, nhưng trong lúc chúng tôi trò chuyện ở trong đó, tôi chợt nhận ra gã này đang cố moi thông tin từ tôi — thực chất là đang khai thác tôi. Hắn liên tục nhắc đến Châu Âu, đến những người mà tôi được cho là quen biết ở đó — đặt ra những câu hỏi mang tính dẫn dắt về các mối quan hệ của tôi trong thành phố mồ mả ấy, v.v.. Đôi mắt nhỏ xíu của hắn lấp lánh như những mảnh mica — chan chứa sự tò mò — mặc dù hắn vẫn cố gắng duy trì một vẻ bề trên trịch thượng. Ban đầu tôi vô cùng ngạc nhiên, nhưng rất nhanh sau đó tôi lại trở nên tò mò tột độ muốn xem hắn sẽ moi được gì từ tôi. Tôi hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi trong mình lại có thứ gì đáng giá để hắn nhọc công đến thế. Thật thú vị làm sao khi chứng kiến cách hắn tự làm khó chính mình, bởi vì thực chất cơ thể tôi chỉ toàn những cơn ớn lạnh, và đầu óc tôi chẳng chứa thứ gì ngoài cái vụ tàu thủy khốn khổ kia. Hiển nhiên là hắn coi tôi là một kẻ nói dối trơ trẽn hoàn toàn không biết xấu hổ. Cuối cùng hắn nổi giận, và để che đậy một cử chỉ bực bội phát cuồng, hắn ngáp dài. Tôi đứng dậy. Lúc đó tôi chú ý đến một bức tranh sơn dầu nhỏ trên một tấm gỗ mỏng, vẽ một người đàn ông hay phụ nữ nhỉ — một người phụ nữ, mặc áo choàng che mắt, đang tay cầm một ngọn đuốc cháy sáng. Phông nền tối sậm — gần như đen kịt. Chuyển động của người phụ nữ mang nét uy nghi, và hiệu ứng ánh đuốc chiếu lên gương mặt toát lên vẻ đầy ám ảnh.
Nó thu hút sự chú ý của tôi, và hắn đứng bên cạnh một cách lịch sự, tay cầm một chai champagne nửa pint trống rỗng (đồ bồi bổ y tế) cắm ngược cây nến vào trong đó. Trước câu hỏi của tôi, hắn đáp rằng ông Kurtz đã vẽ bức tranh này — ngay tại chính trạm này hơn một năm về trước — trong lúc đang chờ đợi phương tiện để đến trạm thương mại của ông ta. “Làm ơn cho tôi biết,” tôi nói, “ông Kurtz này rốt cuộc là ai?”
“Người đứng đầu Trạm Nội địa,” hắn đáp bằng một giọng cụt lủn, quay mặt đi nơi khác. “Đa tạ,” tôi mỉm cười nói. “Và anh chính là tay thợ làm gạch của Trạm Trung tâm. Ai mà chẳng biết điều đó.” Hắn im lặng trong giây lát. “Ông ấy là một kỳ tài,” cuối cùng hắn thốt lên. “Ông ấy là một sứ giả của lòng trắc ẩn, khoa học và tiến bộ, và Chúa mới biết còn thứ gì khác nữa. Chúng ta cần,” hắn bắt đầu tuôn ra một tràng diễn ngãnh, “để dẫn dắt cho đại nghĩa được trao phó bởi Châu Âu, có thể nói như vậy, những trí tuệ bậc cao, sự đồng cảm bao la, một sự nhất quán trong mục đích.” “Ai nói thế?” tôi hỏi. “Rất nhiều người,” hắn đáp. “Thậm chí có kẻ còn viết ra điều đó; và vì thế ông ấy đến đây, một sinh vật đặc biệt, như lẽ ra anh phải biết chứ.” “Tại sao tôi lại phải biết cơ chứ?” tôi ngắt lời, thực sự ngạc nhiên. Hắn chẳng mảy may đếm xỉa. “Phải. Hôm nay ông ấy là trạm trưởng trạm xuất sắc nhất, năm tới ông ấy sẽ là trợ lý quản lý, hai năm nữa và... nhưng tôi dám cá là anh thừa biết hai năm nữa ông ấy sẽ là gì rồi. Anh thuộc phe cánh mới — phe cánh của sự đức hạnh. Chính những kẻ đã cử ông ấy đến đây một cách đặc biệt cũng đồng thời giới thiệu anh đấy thôi. Ồ, đừng có chối. Tôi có đôi mắt của riêng mình để tin tưởng cơ mà.” Ánh sáng bừng lên trong đầu tôi. Những mối quan hệ có thế lực của người dì thân yêu của tôi đang tạo ra một hiệu ứng bất ngờ đối với gã thanh niên này. Tôi suýt phì cười. “Anh có đọc thư từ bảo mật của Công ty không vậy?” tôi hỏi. Hắn cứng họng chẳng nói được lời nào. Thật là một trò hề thú vị. “Khi ông Kurtz,” tôi tiếp tục với giọng nghiêm nghị, “trở thành Tổng quản lý, anh sẽ chẳng còn cơ hội đó nữa đâu.”
Hắn đột ngột thổi tắt ngọn nến, và chúng tôi bước ra ngoài. Trăng đã lên cao. Những bóng đen lững thững đi lại dạo bước, hắt nước lên những đốm tro tàn, từ đó phát ra tiếng xì xèo; hơi nước bốc lên dưới ánh trăng, tiếng gã da đen bị đánh rên rỉ văng vẳng đâu đó. “Cái thứ vũ phu đó làm cái quái gì mà ồn ào thế!” gã man dã mang bộ ria mép không biết mệt mỏi xuất hiện ở gần chúng tôi lên tiếng. “Đáng kiếp lắm. Phạm tội — trừng phạt — bòm! Vô tình, tàn nhẫn. Đó mới là con đường duy nhất. Việc này sẽ ngăn chặn mọi vụ hỏa hoạn trong tương lai. Tôi vừa mới bảo với viên quản lý rằng...” Hắn nhận ra người đồng hành của tôi, và bỗng chốc trở nên ủ rũ. “Vẫn chưa đi ngủ cơ à,” hắn nói với một giọng vồn vã mang vẻ khom lưng uốn gối; “thật là tự nhiên. Hả! Nguy hiểm — náo động.” Hắn biến mất. Tôi tiếp tục đi về phía bờ sông, và gã kia lẽo đẽo theo sau. Tôi nghe thấy một tiếng thì thầm cay độc vang lên sát tai mình, “Lũ ngu ngốc — cút đi.” Đám người hành hương tụm năm tụm ba đang khua tay múa chân gesticulation, tranh luận sôi nổi. Vẫn còn vài kẻ kè kè cây gậy trong tay. Tôi thực sự tin rằng bọn chúng mang cả những cây gậy đó lên giường đi ngủ cùng. Vượt qua hàng rào, khu rừng sừng sững hiện lên ma quái dưới ánh trăng, và qua màn sương chuyển động lờ mờ ấy, qua những âm thanh yếu ớt của cái khoảng sân thê lương ấy, sự tĩnh mịch của vùng đất thấm sâu vào tận đáy lòng — sự huyền bí của nó, sự vĩ đại của nó, thực tại kinh ngạc về đời sống ẩn giấu của nó. Gã da đen bị thương rên rỉ yếu ớt đâu đó ở gần, rồi trút ra một tiếng thở dài não nề khiến tôi phải rảo bước nhanh hơn rời xa chốn đó. Tôi cảm thấy một bàn tay luồn vào khuỷu tay mình. “Anh bạn thân mến,” gã kia cất lời, “tôi không muốn bị hiểu lầm, đặc biệt là bởi một người sẽ gặp lại ông Kurtz trước cả khi tôi có được vinh hạnh đó. Tôi không muốn ông ấy có cái nhìn sai lệch về tính cách của tôi....”
Tôi mặc cho hắn tuôn trảy, cái tên Mephistopheles làm bằng giấy bồi này, và tôi có cảm giác rằng nếu mình muốn thì có thể chọc thủng ngón trỏ xuyên qua người hắn, và sẽ chẳng tìm thấy gì bên trong ngoài một ít đất cát lỏng lẻo mà thôi. Các cậu thấy đấy, hắn đã lên kế hoạch để mai này leo lên làm trợ lý quản lý dưới quyền của gã hiện tại, và tôi thừa sức nhận ra sự xuất hiện của cái tên Kurtz kia đã làm xáo trộn cả hai bọn chúng không ít. Hắn huyên thuyên không ngừng nghỉ, và tôi chẳng thèm cố gắng ngăn hắn lại. Tấm lưng tôi tì vào xác chiếc tàu thủy bị đắm của mình, bị kéo lên sườn dốc hệt như xác một con thú lớn dưới sông. Mùi bùn nhão, mùi bùn nguyên thủy, thề có Chúa! đang xộc thẳng vào cánh mũi tôi, sự tĩnh lặng cao ngạo của khu rừng nguyên thủy đang phơi bày trước mắt tôi; có những vệt lấp lánh trên con lạch đen ngòm. Ánh trăng đã bao trùm lên vạn vật một lớp bạc mỏng manh — lên thảm cỏ dại, lên lớp bùn nhão, lên bức tường thảm thực vật đan xen dày đặc cao hơn cả tường thành của một ngôi đền, lên dòng sông lớn mà tôi có thể nhìn thấy qua một khe hở u ám đang lấp lánh, lấp lánh khi nó lững lờ chảy trôi cuồn cuộn không một tiếng động. Tất cả những điều đó thật vĩ đại, đầy mong đợi, câm lặng, trong khi gã đàn ông kia vẫn cứ huyên thuyên về bản thân mình. Tôi tự hỏi liệu sự tĩnh mịch hiện hữu trên khuôn mặt của cõi mênh mông đang nhìn chằm chằm vào hai chúng tôi mang ý nghĩa là một lời thỉnh cầu hay một lời đe dọa. Chúng tôi là ai mà lại lạc trúng vào chốn này? Liệu chúng tôi có thể sai khiến được thứ câm lặng ấy, hay chính nó sẽ sai khiến chúng tôi? Tôi cảm thấy thứ đó lớn lao làm sao, lớn lao một cách khốn khiếp làm sao, thứ không biết nói năng và có lẽ cũng điếc đặc ấy. Có gì ẩn giấu trong đó cơ chứ? Tôi có thể nhìn thấy một ít ngà voi trồi ra từ đó, và tôi từng nghe nói ông Kurtz đang ở trong đó. Chúa biết là tôi đã nghe quá đủ về nó rồi! Thế nhưng không hiểu sao nó chẳng gợi lên bất kỳ hình ảnh nào trong đầu — chẳng khác nào việc có ai đó bảo với tôi rằng có một thiên thần hay một con quỷ đang trú ngụ trong đó. Tôi tin điều đó theo cách mà một trong số các cậu có thể tin rằng có sự sống trên hành tinh Mars vậy. Tôi từng quen một tay thợ làm buồm người Scotland, kẻ chắc như đinh đóng cột rằng có con người ở sao Hỏa. Nếu cậu gặng hỏi hắn xem bọn chúng trông ra sao và cư xử thế nào, hắn sẽ ngượng ngùng lầm bầm vài câu về việc “đi bằng cả tứ chi.” Chỉ cần cậu mỉm cười nhẹ thôi là — dẫu đã ở tuổi sáu mươi — hắn cũng sẵn sàng lao vào tẩn cậu. Tôi có lẽ không đến mức điên cuồng vì Kurtz để mà thượng cẳng chân hạ cẳng tay, nhưng tôi đã tiến đến gần một lời nói dối để bảo vệ hắn. Các cậu biết đấy, tôi căm ghét, tởm lợm và không tài nào chịu đựng nổi lời nói dối, không phải vì tôi ngay thẳng hơn phần còn lại của chúng ta, mà đơn giản vì nó làm tôi khiếp sợ. Luôn có một dư vị chết chóc, một hương vị của sự hoại tử ẩn giấu trong những lời dối trá — đó chính xác là những gì tôi căm ghét và tởm lợm trên thế giới này — những gì tôi muốn lãng quên. Nó khiến tôi khổ sở và phát bệnh, giống như cắn phải một thứ gì đó đã thối rữa vậy. Chắc là do bản tính. Chà, tôi đã suýt dính vào nó khi để cho gã khờ trẻ tuổi kia tự do tưởng tượng bất cứ điều gì hắn thích về tầm ảnh hưởng của tôi ở Châu Âu. Tôi bỗng chốc trở thành một kẻ giả tạo chẳng khác gì đám người hành hương bị bỏ bùa kia. Tất cả chỉ vì tôi mang trong đầu một ý nghĩ rằng dường như điều đó sẽ hữu ích đối với cái tên Kurtz mà vào thời điểm đó tôi còn chưa hề gặp mặt — các cậu hiểu chứ. Hắn đối với tôi chỉ là một cái tên. Tôi chẳng nhìn thấy con người đằng sau cái tên đó cũng giống như các cậu vậy. Các cậu có nhìn thấy hắn không? Các cậu có nhìn thấy câu chuyện không? Các cậu có nhìn thấy điều gì không? Dường như tôi đang cố kể cho các cậu nghe một giấc mơ — một nỗ lực trong vô vọng, bởi vì bất kỳ lời kể nào về giấc mơ cũng không thể truyền tải nổi cảm giác thực sự của giấc mơ ấy, sự pha trộn giữa vẻ phi lý, ngạc nhiên và hoang mang trong một cơn run rẩy của sự phản kháng đang giãy giụa, cái ý niệm bị bắt cóc bởi những điều phi lý vốn là bản chất cốt lõi của những giấc mơ....” Anh im lặng trong giây lát.
“... Không, điều đó là bất khả thi; thật bất khả thi để truyền tải cảm giác sống của bất kỳ thời điểm nào trong sự tồn tại của một con người — thứ làm nên chân lý của nó, ý nghĩa của nó — bản chất tinh tế và thấm đẫm của nó. Thật bất khả thi. Chúng ta sống, cũng hệt như khi chúng ta mơ — đơn độc một mình....”
Anh lại dừng lời như đang ngẫm nghĩ, rồi nói thêm:
“Tất nhiên trong câu chuyện này các cậu nhìn nhận được nhiều hơn những gì tôi có thể thấy vào lúc đó. Các cậu nhìn thấy tôi, người mà các cậu đã tường tận....”
Trời đã tối đen như mực đến mức những người lắng nghe như chúng tôi hầu như chẳng thể nhìn rõ mặt nhau. Từ nãy đến giờ, khi ngồi tách biệt một mình, đối với chúng tôi anh chẳng còn là gì ngoài một giọng nói. Chẳng một ai cất lên nửa lời. Những người khác có lẽ đã chìm vào giấc ngủ, nhưng tôi thì vẫn thức. Tôi lắng nghe, tôi chăm chú lắng nghe để chờ đợi câu nói, từ ngữ sẽ trao cho tôi chìa khóa giải mã nỗi bất an mơ hồ khởi nguồn từ câu chuyện kể dường như tự hình thành không cần đến đôi môi con người trong bầu không khí đặc quánh về đêm của dòng sông.
“... Phải — tôi cứ để mặc hắn huyên thuyên,” Marlow bắt đầu lại, “và nghĩ bất cứ điều gì hắn thích về những thế lực đứng đằng sau tôi. Tôi đã làm thế đấy! Trong khi chẳng có bất kỳ thế lực nào đằng sau tôi cả! Chẳng có gì ngoài chiếc tàu hơi nước khốn khổ, cũ kỹ, rách nát mà tôi đang tựa lưng vào lúc hắn đang tuôn trảy những lời lẽ về ‘sự cần thiết của mỗi người phải vươn lên.’ ‘Và khi một người ra đến xứ này, các cậu hình dung đấy, không phải để ngắm trăng ngắm hoa.’ Ông Kurtz là một ‘thiên tài vạn năng,’ nhưng ngay cả một thiên tài cũng sẽ thấy dễ dàng hơn khi làm việc với ‘những công cụ tương xứng — những con người thông minh.’ Hắn không đóng gạch — tóm lại là có một sự bất khả thi về mặt thể chất ngáng đường — như tôi thừa biết; và nếu hắn làm công việc thư ký cho viên quản lý, đó là bởi vì ‘chẳng có kẻ khổng lồ nào lại dại dột khước từ sự tin tưởng của các cấp trên.’ Tôi có hiểu không? Tôi hiểu chứ. Tôi còn muốn gì hơn nữa cơ chứ? Thứ mà tôi thực sự cần chính là những chiếc đinh tán, thề có Chúa! Đinh tán. Để tiếp tục công việc — để bịt kín lỗ thủng. Tôi cần đinh tán. Có những thùng đinh tán dưới bờ biển — những thùng — chất đống — vỡ toác — nứt nẻ! Bạn đá phải một chiếc đinh tán lỏng lẻo ở từng bước chân thứ hai trong cái sân trạm trên sườn đồi ấy. Đinh tán lăn lóc cả vào khu rừng chết. Bạn có thể bốc đầy túi đinh tán chỉ bằng công cúi người xuống — thế nhưng chẳng thể tìm thấy lấy một chiếc đinh tán ở nơi cần đến nó. Chúng tôi có những tấm vỏ tàu dùng được, nhưng lại chẳng có thứ gì để gắn kết chúng lại. Và hàng tuần, gã giao liên, một tên da đen cao kều, vai đeo túi thư tay cầm gậy, lại rời trạm chúng tôi đi về phía bờ biển. Và vài lần một tuần, đoàn caravan từ bờ biển lại kéo đến mang theo hàng hóa thương mại — vải calico bóng loáng ghê rợn khiến bạn chỉ nhìn thôi cũng thấy rùng mình, hạt cườm thủy tinh trị giá chừng một xu một vạ, những chiếc khăn tay cotton lốm đốm chết tiệt. Ấy thế mà chẳng có lấy một chiếc đinh tán. Ba kẻ khuân vác là có thể mang đủ tất cả những thứ cần thiết để hạ thủy chiếc tàu thủy ấy rồi.”
Hắn lúc này đã bắt đầu trở nên tâm sự, nhưng tôi đoán là thái độ hờ hững của tôi cuối cùng đã khiến hắn phát điên, nên hắn thấy cần thiết phải thông báo cho tôi biết rằng hắn chẳng sợ Chúa hay quỷ sứ nào hết, chứ đừng nói đến mấy tên người phàm đơn thuần. Tôi đáp rằng tôi hoàn toàn nhận ra điều đó, nhưng thứ tôi cần chính là một số lượng đinh tán nhất định — và đinh tán mới thực sự là thứ ông Kurtz cần, nếu như ông ta biết điều đó. Giờ thì thư từ vẫn được gửi ra bờ biển mỗi tuần.... “Anh bạn thân mến,” hắn thốt lên, “tôi viết theo lời đọc đấy.” Tôi đòi đinh tán. Sẽ có cách — đối với một kẻ thông minh. Hắn thay đổi thái độ; trở nên vô cùng lạnh lùng, và bỗng nhiên bắt đầu bàn về một con hà mã; tự hỏi liệu việc ngủ lại trên tàu (tôi bám trụ công việc vớt tàu cả ngày lẫn đêm) có bị làm phiền hay không. Có một con hà mã già có thói quen xấu là bò lên bờ và lang thang vào ban đêm quanh khu vực trạm. Đám người hành hương thường tụ tập thành bầy và nã sạch tất cả những khẩu súng có trong tay vào nó. Vài kẻ thậm chí còn thức thâu đêm để rình bắn nó. Thế nhưng bao nhiêu năng lượng ấy đều đổ xuống sông xuống biển. “Con vật đó có bùa phép che chở,” hắn nói; “nhưng anh chỉ có thể nói điều đó về lũ thú vật ở xứ này thôi. Chẳng có con người nào — anh hiểu ý tôi chứ? — chẳng có con người nào ở đây được bùa phép bảo vệ đâu.” Hắn đứng đó trong giây lát dưới ánh trăng với chiếc mũi khoằm thanh tú hơi lệch sang một bên, và đôi mắt mica lấp lánh không chớp, rồi với một lời Chúc ngủ ngon cụt lủn, hắn sải bước bỏ đi. Tôi có thể thấy hắn đang bồn chồn và vô cùng khó hiểu, điều đó khiến tôi cảm thấy hy vọng hơn bất cứ lúc nào trong suốt những ngày qua. Thật là một sự an khi ủi lớn lao khi được quay lưng từ gã đó để trở về với người bạn đầy thế lực của tôi, chiếc tàu thủy thiếc tơi tả, méo mó, tàn tạ. Tôi trèo lên tàu. Nó vang lên dưới chân tôi hệt như một chiếc hộp bánh quy Huntley & Palmer trống rỗng bị đá văng dọc rãnh nước; cấu trúc của nó chẳng có lấy một chút gì là rắn rỏi, và hình dáng lại càng kém phần xinh xắn, thế nhưng tôi đã dồn vào nó đủ mồ hôi công sức để có thể đem lòng yêu mến nó. Chẳng có người bạn có thế lực nào có thể phục vụ tôi tốt hơn thế. Nó đã cho tôi cơ hội để bước ra ngoài ánh sáng một chút — để khám phá xem bản thân có thể làm được những gì. Không, tôi không thích làm việc. Tôi thích lười biếng vẩn vơ và mơ mộng về tất cả những điều tốt đẹp có thể được thực hiện hơn. Tôi không thích làm việc — chẳng ai thích cả — nhưng tôi thích những gì ẩn chứa bên trong công việc — cơ hội để khám phá chính mình. Thực tại của chính bạn — cho chính bạn, chứ không phải cho những người khác — điều mà không một ai khác có thể thấu hiểu được. Họ chỉ nhìn thấy cái vẻ bề ngoài đơn thuần, và chẳng bao giờ có thể thấu tỏ ý nghĩa thực sự của nó.
Tôi không mấy ngạc nhiên khi nhìn thấy ai đó đang ngồi ở đuôi tàu, trên boong, với đôi chân đung đưa lơ lửng trên bãi bùn. Các cậu thấy đấy, tôi khá thân thiết với vài thợ máy hiếm hoi ở trạm đó, những kẻ mà đám người hành hương đương nhiên khinh bỉ — có lẽ vì tác phong chưa hoàn thiện của họ. Đây chính là đốc công — thợ làm lò hơi chuyên nghiệp — một người thợ lành nghề. Ông ta là một gã đàn ông gầy guộc, xương xẩu, da vàng vợt, với đôi mắt to tràn đầy nhiệt huyết. Vẻ ngoài của ông ta tất bật lo âu, và cái đầu thì nhẵn thín như lòng bàn tay tôi; nhưng mái tóc có vẻ như rụng xuống đã bám lại ở cằm, và phát triển tươi tốt ở vùng đất mới, bởi vì bộ râu của ông ta dài thòng thòng xuống tận thắt lưng. Ông ta là một gã đàn ông góa vợ với sáu đứa con nhỏ (ông để chúng cho người em gái chăm sóc để lặn lội sang tận đây), và niềm đam mê lớn nhất cuộc đời ông ta là nuôi chim bồ câu. Ông ta là một kẻ cuồng tín và là một chuyên gia sành sỏi. Ông ta có thể huyên thuyên không dứt về bồ câu. Sau giờ làm việc, thỉnh thoảng ông ta lại tạt qua lúp xúp từ túp lều của mình sang để trò chuyện về lũ trẻ và đàn chim bồ câu; khi làm việc, lúc phải bò lết trong bùn dưới gầm tàu thủy, ông ta sẽ buộc túm bộ râu của mình lại bằng một chiếc khăn ăn màu trắng mà ông ta mang theo chuyên cho mục đích đó. Nó có hai quai để tròng qua tai. Vào buổi chiều, người ta có thể bắt gặp ông ta ngồi xổm bên bờ sông cẩn thận giặt giũ chiếc khăn bọc ấy trong con lạch, rồi trang nghiêm phơi nó lên một bụi cây cho khô.
Tôi vỗ mạnh vào lưng ông ta và hét lên: “Chúng ta sắp có đinh tán rồi!” Ông ta lồm cồm bò dậy kêu lên: “Không! Đinh tán cơ á!” cứ như thể không dám tin vào tai mình. Rồi bằng một giọng thì thầm: “Cậu... hả?” Tôi chẳng hiểu sao lúc đó chúng tôi lại cư xử như những kẻ mất trí. Tôi đưa ngón tay lên sát cánh mũi và nháy mắt đầy bí ẩn. “Tốt cho cậu đấy!” ông ta kêu lên, búng tay lách tách trên đầu, nhấc một chân lên. Tôi thử nhảy điệu jig. Chúng tôi nhảy nhót tưng bừng trên boong sắt. Một thứ tiếng động khủng khùng phát ra từ cái xác tàu ấy, và khu rừng nguyên thủy ở bờ bên kia con lạch liền dội lại nó thành một tiếng vang sấm sét dội ngược vào trạm đang chìm trong giấc ngủ. Chắc chắn nó đã làm cho vài kẻ hành hương phải giật mình ngồim bật dậy trong những túp lều rách nát của họ. Một bóng đen che khuất ô cửa sáng rực của túp lều quản lý, biến mất, rồi chừng một giây sau, chính ô cửa đó cũng biến mất theo. Chúng tôi dừng lại, và sự tĩnh lặng bị xua đuổi bởi tiếng bước chân giậm thình thịch lại từ từ tràn về từ những thẳm sâu của vùng đất. Bức tường thảm thực vật khổng lồ, một khối hỗn độn sum suê vướng víu gồm thân cây, cành lá, nhánh cây, dây leo, bất động dưới ánh trăng, trông giống như một cuộc xâm lăng cuồng nộ của sự sống không tiếng động, một con sóng cuồn cuộn của cây cỏ, chất chồng lên nhau, có mào sóng, sẵn sàng đổ ập xuống con lạch, quét sạch từng con người nhỏ bé chúng tôi ra khỏi sự tồn tại nhỏ nhoi của mình. Ấy vậy mà nó vẫn bất động. Một tiếng ùm ì và khì khì dội đến từ xa, như thể một con quái vật ichthyosaurus đang tắm táp dưới ánh trăng lấp lánh trên dòng sông lớn. “Xét cho cùng,” viên thợ nồi nói bằng một giọng điệu rất phải lẽ, “tại sao chúng ta lại không thể lấy được đinh tán cơ chứ?” Quá đúng chứ còn gì nữa! Tôi chẳng tìm ra lý do nào để không làm được cả. “Chúng sẽ đến trong ba tuần nữa,” tôi tự tin tuyên bố.
Nhưng chúng đã chẳng đến. Thay vì đinh tán, thứ kéo đến lại là một cuộc xâm lăng, một tai họa, một sự viếng thăm. Nó kéo dài từng đợt trong suốt ba tuần tiếp theo, mỗi đợt dẫn đầu là một con lừa chở theo một người da trắng mặc quần áo mới tinh và giày da bò, vừa đi vừa cúi đầu chào sang hai trái sang phải trước đám hành hương đang ngơ ngác ấn tượng. Một đám đông da đen cáu kỉnh mệt mỏi vì đi bộ bám sát gót con lừa; nào lều bạt, ghế xếp, hộp thiếc, thùng trắng, kiện nâu cứ thế được ném phịch xuống sân trạm, và bầu không khí bí ẩn lại càng trở nên đậm đặc hơn đôi chút giữa mớ hỗn độn của trạm. Năm đợt như thế đã kéo đến, với cái vẻ lố bịch của một cuộc trốn chạy hỗn loạn mang theo chiến lợi phẩm từ vô số cửa hàng trang thiết bị và kho lương thực, khiến người ta có cảm giác rằng sau một vụ cướp bóc, chúng đang tha lôi tất cả vào chốn hoang dã để chia chác công bằng. Đó là một mớ bòng bong không thể gỡ ra nổi gồm những thứ tự thân rất đàng hoàng nhưng bị sự ngu ngốc của con người làm cho trông hệt như chiến tích của phường trộm cắp.
Băng nhóm tận tụy này tự gọi mình là Viễn chinh Thám hiểm Eldorado, và tôi tin rằng bọn họ đã thề độc giữ kín bí mật. Tuy nhiên, những câu chuyện phiếm của bọn chúng lại là thứ ngôn ngữ của đám hải tặc bần tiện: liều lĩnh nhưng chẳng có sự gan lỳ, tham lam nhưng thiếu đi sự táo bạo, và tàn ác nhưng lại hèn nhát; chẳng có lấy một nguyên tử tầm nhìn xa trông rộng hay ý định nghiêm túc nào trong cả cái đám người đó, và bọn chúng dường như chẳng hề hay biết rằng những thứ đó mới là điều cần thiết cho công việc của thế giới. Bới móc báu vật từ trong ruột gan của vùng đất chính là khát vọng của bọn chúng, với mục đích đạo đức đằng sau chẳng khác gì mấy tên trộm cắp đột nhập vào két sắt. Ai là kẻ chi trả chi phí cho chiến dịch cao cả đó thì tôi chịu chết không biết; nhưng ngài chú của viên quản lý chúng tôi chính là thủ lĩnh của cái đám đó.
Về bề ngoài, ông ta trông giống như một tay đồ tể ở khu ổ chuột và đôi mắt mang một vẻ ranh mãnh đầy buồn ngủ. Ông ta kiêu hãnh ưỡn cái bụng phệ trên đôi chân ngắn củn cỡn, và trong suốt thời gian băng nhóm của ông ta quần thảo ở trạm, ông ta chẳng thèm mở miệng nói chuyện với bất kỳ ai ngoại trừ đứa cháu trai của mình. Người ta có thể nhìn thấy hai gác này lững thững lang thang suốt cả ngày trời với phần đầu áp sát vào nhau trong những cuộc thì thầm bất tận.
Tôi đã từ bỏ việc tự hành hạ bản thân vì chuyện đinh tán. Khả năng chịu đựng cái trò ngốc nghếch ấy của con người có giới hạn hơn các cậu tưởng đấy. Tôi thốt lên Xác mịa nó đi! — và cứ để mọi chuyện trôi theo dòng. Tôi có thừa thời gian để ngẫm nghĩ, và thỉnh thoảng tôi lại dành chút tâm trí cho Kurtz. Tôi không mấy hứng thú với hắn cho lắm. Không. Mặc dù vậy, tôi vẫn tò mò muốn xem liệu con người này, kẻ từng bước ra đi được trang bị những lý tưởng đạo đức kiểu gì đó, rốt cuộc có leo lên được đỉnh cao hay không và hắn sẽ bắt đầu công việc ở đó ra sao.