Xứ Sở Của Những Kẻ Mù Và Những Câu Chuyện Khác

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii. — Viên Vi Khuẩn Bị Đánh Cắp.

❊ ❊ ❊

"Cái này cũng vậy," nhà vi khuẩn học nói, luồn một phiến kính dưới thấu kính hiển vi, "thực ra... đây là một mẫu nuôi cấy vi khuẩn tả—mầm bệnh tả."

Người đàn ông có khuôn mặt tái mét cúi xuống nhìn vào kính hiển vi. Dường như ông ta không quen với việc này, tay phải giữ một chiếc khăn trắng mềm mại che bên mắt không nhìn. "Tôi chẳng thấy gì mấy," ông ta nói.

"Hãy vặn con ốc này," nhà vi khuẩn học bảo; "có lẽ tiêu cự kính chưa phù hợp với mắt anh. Mắt mỗi người mỗi khác mà. Chỉ nhích một chút xíu sang bên này hoặc bên kia thôi."

"À! Giờ thì tôi thấy rồi," người khách lên tiếng. "Rốt cuộc thì cũng chẳng có gì nhiều để xem. Chỉ là mấy vệt với mảnh màu hồng nhỏ xíu. Thế mà những hạt bụi ấy, những hạt li ti ấy, lại có thể nhân lên và tàn phá cả một thành phố! Thật kỳ diệu!"

Ông ta đứng thẳng người lên, nhấc phiến kính ra khỏi kính hiển vi rồi giơ lên hướng về phía cửa sổ. "Hầu như chẳng thấy gì," ông ta nói, săm soi mẫu vật. Rồi ông ngập ngừng. "Chúng... còn sống chứ? Giờ chúng có nguy hiểm không?"

"Chúng đã được nhuộm màu và làm chết rồi," nhà vi khuẩn học đáp. "Phần tôi, ước gì chúng ta có thể tiêu diệt và nhuộm màu từng sinh vật như vậy trên cõi đời này."

"Tôi đoán rằng," người đàn ông da tái nhợt nói với một nụ cười nhẹ, "ông hầu như chẳng thích giữ những thứ như thế ở trạng thái... còn sống—trạng thái đang hoạt động bên mình chứ?"

"Trái lại là đằng khác, chúng tôi buộc phải làm thế," nhà vi khuẩn học nói. "Chẳng hạn như ở đây—" Ông bước ngang qua phòng và cầm lấy một trong số vài ống nghiệm được hàn kín. "Đây là sinh vật còn sống. Đây là một mẫu nuôi cấy vi khuẩn gây bệnh thực sự đang sống." Ông chần chừ đôi chút. "Nói một cách hình tượng thì đây chính là bệnh tả đóng chai."

Một thoáng hài lòng hiện lên trên khuôn mặt người đàn ông tái mét. "Mang theo thứ nguy hiểm này bên mình quả là liều lĩnh," ông ta nói, dán chặt mắt vào ống nghiệm nhỏ. Nhà vi khuẩn học quan sát vẻ thích thú bệnh hoạn trên nét mặt của vị khách. Người đàn ông này, đến gặp ông chiều hôm đó với bức thư giới thiệu của một người bạn cũ, đã thu hút sự chú ý của ông chính bởi sự đối lập trong tính cách. Mái tóc đen xám xịt, đôi mắt xám sâu thẳm, vẻ hốc hác cùng tác phong căng thẳng, và sự quan tâm lúc chập chờn lúc sắc sảo của vị khách mang đến một làn gió mới, khác hẳn sự điềm đạm, thản nhiên của những đồng nghiệp làm khoa học thông thường mà nhà vi khuẩn học vẫn hay giao du. Có lẽ, khi đối diện với một người tỏ ra dễ bị kích động trước tính chất chết chóc của đề tài như vậy, ông tự nhiên lại muốn trưng ra khía cạnh ấn tượng nhất của vấn đề.

Ông đăm chiêu cầm ống nghiệm trên tay. "Đúng vậy, dịch bệnh đang bị giam cầm ở đây. Chỉ cần làm vỡ một ống nghiệm nhỏ thế này vào nguồn nước sinh hoạt—hãy tưởng tượng những hạt sự sống bé nhỏ đến mức người ta buộc phải nhuộm màu và soi dưới kính hiển vi có độ phóng đại lớn nhất mới thấy được, những thứ vừa không màu lại chẳng có mùi vị gì—hãy bảo chúng rằng: 'Hãy đi đi, hãy sinh sôi nảy nở và làm đầy các bể chứa,' thì cái chết—một cái chết kỳ lạ, không thể truy nguyên, một cái chết chớp nhoáng và kinh hoàng, đầy đau đớn và nhục nhã—sẽ được thả lỏng xuống thành phố này, lang thang khắp nơi để tìm kiếm nạn nhân. Ở đây, nó sẽ cướp người chồng khỏi vòng tay người vợ, ở kia là đứa con khỏi mẹ, lôi người chính khách khỏi công việc và người lao động khỏi nỗi nhọc nhằn. Nó sẽ luồn lách theo các đường ống dẫn nước, bò dọc các con phố, chọn lựa và trừng phạt từng ngôi nhà ở nơi người ta không đun sôi nước uống, len lỏi vào các giếng nước của những xưởng sản xuất nước khoáng, bám trên rau sống và nằm ẩn mình trong những ly kem. Nó sẽ chực chờ trong các máng nước cho ngựa uống, và ở những đài phun nước công cộng nơi trẻ nhỏ vô ý uống phải. Nó sẽ ngấm vào lòng đất, để rồi trồi lên qua các mạch nước ngầm và giếng nước ở hàng nghìn nơi không ngờ tới. Chỉ cần thả nó vào nguồn nước, và trước khi chúng ta kịp vây bắt lại, nó đã có thể tiêu diệt một phần mười dân cư của đô thị này rồi."

Ông chợt dừng lại. Người ta từng bảo sự khoa trương là điểm yếu của ông.

"Nhưng ở đây thì nó hoàn toàn an toàn—hoàn toàn an toàn mà."

Người đàn ông mặt tái gật đầu. Mắt ông ta sáng lên. Ông hắng giọng. "Mấy tên... vô chính phủ khốn kiếp ấy," ông ta nói, "thật là ngu ngốc, những kẻ ngu muội đui mù—lại đi dùng bom trong khi thứ như thế này nằm trong tầm tay. Tôi nghĩ rằng——"

Một tiếng gõ nhẹ, chỉ là cái chạm khẽ của móng tay vang lên ngoài cửa. Nhà vi khuẩn học mở cửa. "Đợi một phút nhé anh yêu," vợ ông thì thầm.

Khi ông bước trở lại phòng thí nghiệm, vị khách của ông đang xem đồng hồ. "Tôi không ngờ mình lại làm mất của ông tới một tiếng đồng hồ," ông ta nói. "Đã bốn giờ kém mười hai phút. Lẽ ra tôi phải rời đi từ lúc ba giờ rưỡi rồi. Nhưng những thứ ở đây thú vị quá. Không, dứt khoát tôi không thể nán lại thêm phút nào nữa. Tôi có một cuộc hẹn lúc bốn giờ."

Ông ta bước ra khỏi phòng, miệng không ngừng lặp lại lời cảm ơn. Nhà vi khuẩn học tiễn khách ra cửa, rồi đăm chiêu bước dọc hành lang trở về phòng thí nghiệm. Ông đang suy ngẫm về nguồn gốc chủng tộc của vị khách. Chắc chắn người đàn ông đó không mang nét điển hình của người Teutonic hay gốc Latinh phổ thông. "Dù sao đi nữa, có lẽ hắn cũng là một sản phẩm bệnh hoạn," nhà vi khuẩn học tự nhủ. "Trông hắn thèm thuồng làm sao trước những mẫu nuôi cấy mầm bệnh ấy!" Một ý nghĩ bất an chợt lóe lên trong đầu. Ông quay ngoắt lại chiếc bàn cạnh lò hơi, rồi chạy rất nhanh về phía bàn làm việc. Sau đó, ông hoảng hốt lục lọi trong các túi áo rồi lao vội ra cửa. "Biết đâu mình đã để nó trên bàn ở tiền sảnh," ông lẩm bẩm.

"Minnie!" ông gào lên khàn đặc ở sảnh.

"Vơi, anh yêu," tiếng trả lời vọng lại từ xa.

"Lúc nãy vừa nói chuyện với em, anh có cầm thứ gì trên tay không em?"

Khoảng lặng.

"Không có gì đâu anh, vì em nhớ là——"

"Tiêu đời rồi!" nhà vi khuẩn học kêu lên, bất chấp tất cả lao vội ra cửa trước, phóng qua mấy bậc thềm xuống đường.

Minnie nghe thấy tiếng cửa sập mạnh liền hốt hoảng chạy ra cửa sổ. Dưới đường, một người đàn ông mảnh khảnh đang bước lên xe ngựa. Nhà vi khuẩn học, đầu trần, chân đi dép đi trong nhà, đang vừa chạy vừa khua tay múa chân điên cuồng về phía chiếc xe. Một chiếc dép tuột ra nhưng ông chẳng màng dừng lại. "Anh ấy phát điên mất rồi!" Minnie thốt lên; "tại cái môn khoa học chết tiệt kia đấy"; và cô toan mở cửa sổ để gọi với theo. Người đàn ông mảnh khảnh bất chợt ngoái nhìn, hình như cũng nhận ra dấu hiệu tâm thần bất ổn ấy. Ông ta vội chỉ tay về phía nhà vi khuẩn học, nói gì đánh xe ngựa, tấm bạt che xe sập xuống, tiếng roi quật vút qua, tiếng móng ngựa khua lộc cộc, và chỉ trong chớp mắt, chiếc xe ngựa cùng nhà vi khuẩn học đang hộc tốc bám đuổi phía sau đã khuất dạng ở cuối con đường.

Minnie vẫn rướn người qua khung cửa sổ dõi theo thêm một phút nữa. Sau đó, cô rụt đầu lại. Cô hoàn toàn chết lặng. "Dĩ nhiên anh ấy vốn kỳ quặc," cô thầm nghĩ. "Nhưng lại đi lông nhông khắp London—lại vào đúng mùa cao điểm nữa chứ—mà lại đi tất chân!" Một ý kiến hay chợt lóe lên. Cô vội vội vàng vàng đội mũ, vớ lấy đôi giày của chồng, chạy ra tiền sảnh, nhấc chiếc mũ phớt và chiếc áo khoác nhẹ trên móc xuống, bước ra bậc thềm cửa và vẫy một chiếc xe ngựa vừa lúc đi ngang qua. "Đưa tôi dọc con đường này vòng qua Havelock Crescent, xem có tìm thấy một người đàn ông mặc áo khoác nhung kẻ mà không đội mũ không."

"Áo nhung kẻ, thưa phu nhân, lại không mũ. Rõ rồi ạ." Và người đánh xe lập tức quất roi chạy đi với vẻ mặt tỉnh bơ như thể ngày nào hắn cũng nhận cái địa chỉ quái đản này.

Vài phút sau, nhóm đánh xe và mấy kẻ lang thang tụ tập quanh trạm chờ ở Haverstock Hill được một phen giật mình khi thấy một chiếc xe ngựa kéo bởi con ngựa gầy guộc lao đi với tốc độ chóng mặt phóng qua.

Họ im lặng nhìn theo, rồi khi chiếc xe đã đi xa—"Đấy là lão 'Arry 'Icks. Hắn chở gì thế nhỉ?" gã đàn ông mập mạp nổi tiếng với cái tên Lão Tootles cất lời.

Gã nhân viên chuồng ngựa tiếp lời: "Hắn đang quất roi kìa, quất thật lực ấy chứ."

Lão Tommy Byles khốn khổ lẩm bẩm: "Hả! Lại thêm một thằng điên khốn kiếp nữa kìa. Sợ thật chứ lại."

Lão Tootles nói: "Lão George đấy chứ ai, mà hắn đang chở một thằng điên, đúng như chú mày nói. Nhìn lão ta kìa, có đang nhoài người ra ngoài xe không cơ chứ? Tự hỏi không biết lão có đang đuổi theo thằng 'Arry 'Icks không nhỉ?"

Đám đông quanh trạm chờ bỗng trở nên hào hứng. Đồng thanh reo hò: "Cố lên, George!" "Đang đua đấy." "Bắt kịp chúng đi!" "Quất roi vào!"

Gã nhân viên chuồng ngựa trầm trồ: "Con ngựa đó chạy bốc phết đấy chứ!"

Lão Tootles hét lên: "Trời đánh thánh vật! Này! Tao sắp chịu thua rồi đấy. Lại có đứa nữa kìa. Sáng nay lũ xe ngựa ở Hampstead này phát rồ cả lũ rồi hay sao ấy!"

Gã nhân viên chuồng ngựa bảo: "Lần này là đàn bà."

Lão Tootles nói: "Cô ta đang bám theo hắn. Thường thì toàn ngược lại."

"Trên tay ả cầm cái gì thế?"

"Trông giống cái mũ phớt cao."

Gã nhân viên chuồng ngựa cười hô hố: "Vui vãi chưởng! Cược ba ăn một cho lão George nhé! Tiếp theo nào!"

Minnie lướt qua trong tiếng reo hò rền vang. Dù chẳng lấy gì làm thích thú, nhưng cô biết mình đang làm tròn bổn phận, liền tiếp tục lao vút xuống Haverstock Hill và Camden Town High Street, đôi mắt không rời cái bóng lưng đang nhún nhảy đầy hoạt bát của lão George—người đang chở ông chồng trăng hoa của cô đi theo một hướng khó hiểu.

Người đàn ông trên chiếc xe ngựa đi đầu ngồi co ro ở góc xe, hai tay khoanh chặt trước ngực, bàn tay nắm chặt ống nghiệm chứa đựng tiềm năng tàn phá to lớn. Tâm trạng ông ta là sự pha trộn kỳ lạ giữa sợ hãi và hưng phấn. Nỗi sợ lớn nhất là bị tóm trước khi hoàn thành tâm nguyện, nhưng ẩn sau đó là một nỗi sợ mơ hồ và lớn lao hơn về sự khủng khiếp do tội ác của mình gây ra. Dẫu vậy, sự hưng phấn vẫn lấn át nỗi sợ. Chưa từng có tên vô chính phủ nào trước ông ta đạt tới tầm vóc này. Ravachol, Vaillant, tất cả những nhân vật lừng lẫy mà ông từng ghen tị giờ đây đều trở nên tầm thường trước mặt ông. Ông chỉ cần chắc chắn về nguồn nước, rồi đập vỡ ống nghiệm xuống một hồ chứa. Kế hoạch của ông mới hoàn hảo làm sao, từ việc làm giả thư giới thiệu để lọt vào phòng thí nghiệm cho đến cách chớp lấy thời cơ cực kỳ thông minh! Cuối cùng thì thế giới cũng phải biết đến tên tuổi ông. Tất cả những kẻ từng khinh miệt ông, hắt hủi ông, ưu ái người khác hơn ông, coi thường sự hiện diện của ông, rốt cuộc cũng phải nhìn nhận ông. Cái chết, cái chết, cái chết! Họ luôn coi ông chẳng ra gì. Cả thế giới đã hùa nhau vùi dập ông. Ông sẽ cho họ biết thế nào là hậu quả của việc cô lập một con người. Con phố quen thuộc này là gì đây? Chắc chắn là Great Saint Andrew's Street rồi! Cuộc rượt đuổi ra sao rồi nhỉ? Ông nhoài người ra khỏi xe. Nhà vi khuẩn học cách đó chưa đầy năm mươi thước. Quá tệ. Kiểu gì ông ta cũng sẽ bắt kịp và ngăn chặn mình cho mà xem. Ông thò tay vào túi tìm tiền và chạm phải một đồng nửa sovereign. Ông liền nhét nó qua ô cửa trỏ trên nóc xe vào mặt người đánh xe. "Thêm nữa," ông quát lên, "nếu chúng ta trốn thoát được."

Số tiền bị giật phăng khỏi tay. "Rõ rồi ngài," người đánh xe đáp, ô cửa trỏ sập xuống, ngọn roi quất dọc theo sườn con ngựa đang ướt đẫm mồ hôi. Chiếc xe tròng trành, và tên vô chính phủ, trong tư thế nửa đứng dưới ô cửa, đành tì bàn tay đang cầm ống nghiệm kính lên thành xe để giữ thăng bằng. Ông ta cảm thấy vật dễ vỡ ấy nứt ra, và mảnh vỡ của nó rơi lảng phảng xuống sàn xe với tiếng kêu lanh lảnh. Ông ngả người ngã quỵ xuống ghế, miệng chửi rủa và thừ người nhìn chằm chằm vào hai ba giọt nước đọng trên thành xe.

Ông ta rùng mình.

Chà, chắc mình sẽ là nạn nhân đầu tiên đây. Phù! Dù sao thì mình cũng sẽ trở thành một vị tử đạo. Thế cũng đáng. Nhưng mà đây lại là một cái chết nhơ nhớp. Không biết nó có đau đớn như lời đồn không nhỉ.

Ngay sau đó, một ý nghĩ chợt lóe lên—ông khua khoắng tìm kiếm dưới sàn. Vẫn còn một giọt nhỏ đọng ở phần đuôi ống bị vỡ, và ông liền uống cạn nó để cho chắc ăn. Cứ chắc chắn cho lành. Dù sao thì ông cũng không thể thất bại được.

Lúc bấy giờ, ông nhận ra rằng mình không còn cần phải trốn chạy nhà vi khuẩn học nữa. Đến phố Wellington, ông bảo người đánh xe dừng lại và bước xuống. Chân ông hụt bước ở bậc thềm, và đầu óc bắt đầu quay cuồng. Thứ độc tố bệnh tả này ngấm thật nhanh. Ông vung tay ra hiệu cho người đánh xe đi khuất mắt, rồi đứng chết trân trên vỉa hè với hai tay khoanh trước ngực chờ đợi sự xuất hiện của nhà vi khuẩn học. Tư thế của ông có gì đó thật bi tráng. Cảm giác cái chết cận kề mang lại cho ông một vẻ đường hoàng nhất định. Ông đón chào kẻ bám đuổi bằng một nụ cười đầy thách thức.

"Vive l'Anarchie! Anh đến muộn rồi, bạn tôi ơi, tôi đã uống nó rồi. Bệnh tả đã lan ra rồi đấy!"

Nhà vi khuẩn học ngồi trên xe ngựa tò mò nheo mắt nhìn ông qua cặp kính cận. "Anh đã uống nó rồi ư! Một kẻ vô chính phủ! Giờ thì tôi hiểu rồi." Ông toan nói thêm điều gì đó nhưng lại thôi. Một nụ cười vương bên khóe miệng. Ông đẩy tấm bạt che xe ra như muốn bước xuống, khiến tên vô chính phủ vung tay chào từ biệt theo kiểu kịch nghệ rồi sải bước hướng về phía cầu Waterloo, cẩn thận quẹt cơ thể đã bị nhiễm trùng của mình vào càng nhiều người càng tốt. Nhà vi khuẩn học bị ám ảnh bởi hình ảnh đó đến nỗi ông chẳng mờ tỏ chút ngạc nhiên nào khi thấy Minnie xuất hiện trên vỉa hè cùng với chiếc mũ, đôi giày và áo khoác của ông. "Cảm ơn em đã mang đồ đến hộ anh nhé," ông nói, rồi lại đờ đẫn dõi theo bóng dáng tên vô chính phủ đang đi khuất dần.

"Em mau lên xe đi," ông nói tiếp, mắt vẫn đăm đăm nhìn theo. Minnie lúc này hoàn toàn đinh ninh rằng chồng mình đã phát điên, bèn tự quyết định ra lệnh cho người đánh xe quay về nhà. "Đi giày vào ư? Chắc chắn rồi em," ông đáp khi chiếc xe bắt đầu quay đầu, che khuất bóng dáng gã đàn ông đen đúa đang ưỡn ngực bước đi giờ đã thu nhỏ lại phía xa. Rồi bỗng nhiên, một điều nực cười vụt qua tâm trí khiến ông phì cười. Kế đó, ông lầm bầm: "Tuy nhiên, chuyện này thực ra rất nghiêm trọng đấy em ạ.

"Em thấy đấy, gã đàn ông đó đến nhà tìm anh để thăm quan, và hắn là một kẻ vô chính phủ. Không—em đừng ngất nhé, bằng không anh chẳng thể kể tiếp được đâu. Mà anh thì lại muốn làm hắn ngạc nhiên, khi ấy anh đâu biết hắn là vô chính phủ, nên đã tiện tay cầm lấy một mẫu nuôi cấy loài vi khuẩn mới mà anh vừa kể với em—loài vi khuẩn hoành hành và hình như là nguyên nhân gây ra các mảng màu xanh trên nhiều loài khỉ; và rồi, như một thằng ngốc, anh lại bảo đó là bệnh tả châu Á. Thế là hắn cuống cuồng vơ lấy nó để đầu độc nguồn nước của thành phố London, và quả thực hắn suýt chút nữa đã biến thành phố văn minh này thành một màu xanh thảm hại. Giờ thì hắn đã nuốt nó rồi. Dĩ nhiên, anh không dám chắc chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng em biết đấy, nó từng làm con mèo con chuyển sang màu xanh, rồi ba con chó con—mỗi con một mảng xanh, và cả con chim sẻ nữa—xanh lè luôn. Nhưng phiền nỗi là anh lại phải mất công sức và tiền bạc để chuẩn bị một mẻ khác rồi đây.

"Mặc áo khoác vào giữa cái ngày nóng nực này á? Tại sao chứ? Bởi vì nhỡ chúng ta gặp bà Jabber thì sao. Em yêu ạ, bà Jabber có phải là gió lùa đâu cơ chứ. Nhưng sao anh lại phải mặc áo khoác giữa trời nóng chỉ vì bà... Ơi! Thôi được rồi."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.