Bên ngoài những khung cửa sổ của phòng thí nghiệm là một màn sương xám đục đượm hơi nước, còn bên trong là cái ấm áp ngột ngạt cùng thứ ánh sáng vàng rọi ra từ những ngọn đèn gas có chao đèn màu xanh lá, đặt cứ hai ngọn một bàn dọc theo căn phòng hẹp. Trên mỗi bàn có vài chiếc lọ thủy tinh đựng những tàn tích băm nát của loài tôm hùm đất, vẹm, ếch và chuột lang mà các sinh viên đang dùng để thực hành; dọc theo bức tường phía đối diện cửa sổ là những chiếc kệ bày các tiêu bản ngâm cồn đã phác trắng, bên trên là một hàng tranh vẽ giải phẫu được thực hiện vô cùng tinh xảo lồng trong khung gỗ trắng, che khuất phía trên một hàng tủ cá nhân hình khối vuông. Tất cả các cánh cửa của phòng thí nghiệm đều được lắp ốp bảng đen, trên đó còn hằn lại những sơ đồ bị xóa dở từ buổi học hôm trước. Phòng thí nghiệm vắng ngắt, ngoại trừ người trợ giảng đang ngồi gần cửa phòng chuẩn bị, và tĩnh mịch, ngoại trừ một tiếng rì rầm đều đặn nhỏ khẽ cùng tiếng lách cách của chiếc máy cắt lát siêu mỏng (microtome) mà anh ta đang vận hành. Thế nhưng, rải rác khắp căn phòng là dấu vết của rất nhiều sinh viên: túi xách, hộp đựng dụng cụ sáng loáng, có chỗ là một bức vẽ lớn được phủ tờ báo lên, chỗ khác lại là một cuốn sách đóng bìa xinh xắn mang tựa đề Tin tức từ chốn không đâu (News from Nowhere), một cuốn sách trông lạc lõng đến kỳ lạ giữa chốn này. Những món đồ ấy đã được vội vã đặt xuống khi các sinh viên đến nơi và nhanh chóng tản đi để giữ chỗ ở giảng đường bên cạnh. Bị chặn lại bởi cánh cửa đóng kín, giọng điệu đều đều của vị giáo sư vọng lại chỉ như một thứ âm thanh lầm bầm không rõ hình thù.
Chẳng mấy chốc, thoảng qua những ô cửa sổ đóng kín là tiếng đồng hồ nhà nguyện Oratory điểm mười một giờ. Tiếng lách cách của chiếc máy cắt lát ngưng bặt, người trợ giảng ngẩng lên nhìn đồng hồ, đứng dậy, đút tay vào túi quần và thong thả bước dọc phòng thí nghiệm về phía cửa giảng đường. Anh đứng lắng nghe một lát, rồi ánh mắt chợt bắt gặp tập sách nhỏ của William Morris. Anh nhặt nó lên, liếc nhìn nhan đề, mỉm cười, mở ra, xem cái tên ở trang lót, lật lướt qua các trang bằng một tay, rồi đặt xuống. Gần như ngay lập tức, tiếng lầm bầm đều đặn của giảng viên vụt tắt, có một đợt tiếng bút chì lách cách vang lên đột ngột trên những chiếc bàn ở giảng đường, tiếng xôn xao, tiếng lê giày, và rất nhiều giọng nói cùng cất lên. Tiếp đó, một bước chân vững chãi tiến đến cánh cửa, cánh cửa bắt đầu hé mở và dừng lại ở độ mở hờ, khi một câu hỏi nghe không rõ tiếng chặn chân người mới đến lại.
Người trợ giảng quay người, chậm rãi bước ngược qua chỗ chiếc máy cắt lát, rồi rời khỏi phòng thí nghiệm bằng cánh cửa dẫn vào phòng chuẩn bị. Vừa lúc đó, hết sinh viên này đến sinh viên khác mang theo vở ghi chép lần lượt bước từ giảng đường vào phòng thí nghiệm, tỏa ra các bàn nhỏ hoặc đứng tụm lại quanh khung cửa ra vào. Đó là một nhóm sinh viên vô cùng đa dạng, bởi trong khi Oxford và Cambridge vẫn còn rụt rè trước viễn cảnh đầy ngượng ngùng của những lớp học chung nam nữ, thì Cao đẳng Khoa học đã đi trước cả nước Mỹ về vấn đề này từ nhiều năm trước — lại còn đa dạng cả về thành phần xã hội nữa, vì uy tín của trường rất cao, và các suất học bổng không giới hạn độ tuổi của trường thậm chí còn vớt sâu hơn cả những trường đại học ở Scotland. Lớp học có tổng cộng hai mươi mốt người, nhưng một số vẫn ở lại giảng đường để đặt câu hỏi cho giáo sư, chép lại những sơ đồ trên bảng đen trước khi chúng bị xóa đi, hoặc quan sát những mẫu vật đặc biệt mà ông mang ra minh họa cho bài giảng ngày hôm đó. Trong số chín người đã bước vào phòng thí nghiệm, có ba nữ sinh; một người trong số họ là một phụ nữ thấp, tóc vàng nhạt, đeo kính và mặc trang phục màu xanh xám, đang dán mắt qua ô cửa sổ ngắm màn sương mù, trong khi hai người kia đều là những nữ sinh mặt mũi phàm phu nhưng trông khỏe khoắn, đang tháo cuộn và mặc những chiếc tạp dề bằng vải thô màu nâu dùng khi mổ xẻ. Về phía nam sinh, có hai người đi về phía bàn của mình ở cuối phòng: một người xanh xao, râu đen rậm, từng làm thợ may; người kia là một thanh niên đôi mươi có khuôn mặt dễ nhìn, hồng hào, mặc bộâu phục màu nâu vừa vặn; đó là Wedderburn trẻ tuổi, con trai của Wedderburn, chuyên gia nhãn khoa nổi tiếng. Những người khác tụm lại thành một nhóm nhỏ gần cửa giảng đường. Một người trong nhóm ấy, vóc dáng còi cọc, đeo kính và bị gù lưng, ngồi trên chiếc ghế gỗ uốn cong; hai người khác, một cậu thiếu niên thấp, da ngăm và một thanh niên tóc lanh, da đỏ hồng, đứng tựa vai vào nhau bên bồn rửa bằng đá phiến; trong khi người thứ tư đứng đối diện và giữ phần lớn câu chuyện.
Người cuối cùng này tên là Hill. Cậu ta là một thanh niên có vóc người vạm vỡ, bằng tuổi Wedderburn; cậu có khuôn mặt trắng bệch, đôi mắt xám sẫm, mái tóc màu sắc không rõ ràng và những đường nét thô kệch, nổi bật. Cậu ta nói lớn tiếng hơn mức cần thiết và thừng đút sâu hai tay vào túi quần. Cổ áo của cậu bị sờn và ngả màu xanh do xà phòng của một tiệm giặt ủi cẩu thả, quần áo rõ là đồ may sẵn, và bên má giày gần mũi có một miếng vá. Khi nói chuyện hay lắng nghe người khác, thỉnh thoảng cậu lại ngước nhìn về phía cửa giảng đường. Họ đang bàn tán về phần kết luận đầy chán nản của bài giảng vừa nghe, cũng là bài giảng cuối cùng trong khóa học nhập môn động vật học. "Từ trứng cho đến trứng chính là cái đích của loài động vật có xương sống bậc cao," vị giảng viên đã cất lên bằng giọng điệu ảm đạm như thế, qua đó khép lại một cách gọn gàng bức tranh giải phẫu so sánh mà ông vừa triển khai. Gã sinh viên gù lưng đeo kính đã lặp lại câu nói ấy với vẻ thích thú ồn ào, buông lơ lửng nó về phía cậu sinh viên tóc vàng với ý đồ khiêu khích rõ mệt, rồi châm ngòi cho một trong những cuộc tranh luận lan man, mơ hồ về những vấn đề chung chung — thứ mà sinh viên khắp thế giới chẳng hiểu sao lại vô cùng yêu thích.
Cậu sinh viên tóc vàng đứng lên đón nhận lời khiêu chiến: "Đó có lẽ là đích đến của chúng ta — tôi thừa nhận điều đó, xét trên phương diện khoa học. Nhưng vẫn có những thứ đứng cao hơn khoa học."
Hill tự tin đáp: "Khoa học chính là kiến thức có hệ thống. Những ý tưởng không nằm trong hệ thống — thì dù sao đi nữa — cũng chỉ là những ý tưởng lỏng lẻo." Cậu ta không chắc đó là một câu nói thông minh hay ngớ ngẩn cho đến khi những người nghe đón nhận nó một cách nghiêm túc.
Gã gù lưng lớn giọng chen vào: "Điều tôi không thể hiểu nổi là rốt cuộc Hill có phải là một kẻ theo chủ nghĩa duy vật hay không."
Hill nhanh chóng đáp lời, cảm thấy lần này mình có một câu trả lời bén ngọt hơn; đồng thời cũng nhận ra sự hiện diện của ai đó ở khung cửa phía sau, nên cậu hơi nâng cao giọng để cô ta nghe thấy: "Và có một thứ đứng trên vật chất, đó là sự ảo tưởng rằng có một thứ gì đó đứng trên vật chất."
Cậu sinh viên tóc vàng nói: "Cuối cùng thì chúng ta cũng nghe được thứ tôn giáo của anh rồi nhỉ. Tất cả chỉ là ảo tưởng phải không? Cả những khát vọng hướng tới một cuộc sống ý nghĩa hơn loài chó, cả những nỗ lực vì bất cứ điều gì vượt lên trên bản thân chúng ta. Nhưng hãy nhìn sự mâu thuẫn của anh xem. Lấy chủ nghĩa xã hội của anh làm ví dụ chẳng hạn. Tại sao anh phải bận tâm đến lợi ích của nhân sinh? Tại sao anh lại quan tâm đến kẻ ăn mày ở xó chợ? Tại sao anh lại cứ phải nhọc công cho mượn cuốn sách đó —" cậu ta hất đầu ra hiệu về phía cuốn sách của William Morris "— cho tất cả mọi người trong phòng thí nghiệm?"
Gã gù lưng lắp bắp: "Con gái đấy," rồi tội lỗi liếc qua vai.
Cô gái mặc đồ nâu với đôi mắt nâu đã bước vào phòng thí nghiệm, đứng ở phía bên kia chiếc bàn đằng sau hắn, một tay cầm chiếc tạp dề đã cuộn tròn, vừa ngoái đầu nhìn vừa lắng nghe cuộc tranh cãi. Cô không để ý đến gã gù lưng, vì ánh mắt đang dời từ Hill sang người đối thoại với cậu. Ý thức của Hill về sự hiện diện của cô chỉ bộc lộ qua việc cậu cố tình phớt lờ điều đó; nhưng cô hiểu rõ điều ấy, và điều đó làm cô hài lòng. Cậu nói: "Tôi chẳng thấy lý do gì mà một con người phải sống như loài cầm thú chỉ vì hắn không biết gì ngoài vật chất và không mong mình còn tồn tại sau đây một trăm năm."
Cậu sinh viên tóc vàng hỏi: "Sao lại không chứ?"
Hill đáp: "Tại sao lại phải thế?"
"Anh ta có động lực gì cơ chứ?"
"Tất cả các anh theo đạo đều thế cả. Lúc nào cũng là chuyện động lực. Chẳng lẽ một người không thể mưu cầu sự chính trực chỉ vì bản thân sự chính trực sao?"
Có một khoảng lặng. Cậu sinh viên tóc vàng đáp lại bằng một thứ âm thanh đệm lót để kéo dài thời gian: "Nhưng mà... anh thấy đấy... động lực... khi tôi nói động lực..." Rồi gã gù lưng liền nhảy vào giải cứu và ném ra một câu hỏi. Gã là một nhân vật đáng sợ trong câu lạc bộ tranh luận với những câu hỏi của mình, và chúng luôn đi theo một mô típ duy nhất — đòi định nghĩa. Gã gù lưng nhân cơ hội này lên tiếng: "Định nghĩa của anh về sự chính trực là gì?"
Hill bỗng thấy sự tự đắc của mình bay biến trước câu hỏi này, nhưng ngay khi nó vừa được thốt lên thì sự giải thoát đã xuất hiện dưới hình hài của Brooks, nhân viên phòng thí nghiệm, người bước vào qua cửa phòng chuẩn bị với một đám chuột lang vừa bị giết còn đang xách ngược chân sau. Cậu thiếu niên nãy giờ chưa lên tiếng liền nói: "Đây là mẻ nguyên liệu cuối cùng của học kỳ này rồi." Brooks tiến sâu vào phòng thí nghiệm, thảy phịch một cặp chuột lang lên mỗi bàn. Phần còn lại của lớp học, đánh hơi thấy con mồi từ đằng xa, ùa vào qua cửa giảng đường, và cuộc tranh luận vụt tắt đột ngột khi những sinh viên chưa có chỗ ngồi vội vã ùa về chỗ mình để giành lấy con vật ưng ý. Tiếng chìa khóa lách cách trên vòng kim loại vang lên khi các tủ được mở ra và dụng cụ mổ xẻ được lấy ra. Hill đã đứng sẵn bên bàn của mình, và chiếc hộp đựng dao mổ của cậu đang nhô ra khỏi túi áo. Cô gái mặc đồ nâu bước đến gần cậu một bước, nghiêng người qua bàn và dịu dàng hỏi: "Anh có thấy là em đã trả sách cho anh chưa, anh Hill?"
Trong suốt khung cảnh vừa rồi, cả cô và cuốn sách đều hiện diện vô cùng sống động trong tâm trí cậu; nhưng cậu lại làm ra vẻ ngớ ngẩn nhìn vào cuốn sách như thể lần đầu tiên nhìn thấy nó. Cầm cuốn sách lên, cậu đáp: "Ơ, vâng. Tôi thấy rồi. Cô thích nó chứ?"
"Em muốn hỏi anh vài điều về nó... vào một lúc nào đó."
Hill đáp: "Được chứ. Tôi rất sẵn lòng." Cậu ngập ngừng một cách vụng về. "Cô thích nó chứ?"
"Đó là một cuốn sách tuyệt vời. Chỉ có điều có vài thứ em không hiểu."
Rồi đột nhiên phòng thí nghiệm chìm vào im lặng bởi một âm thanh lè nhè kỳ lạ. Đó là tiếng của người trợ giảng. Anh ta đang đứng bên tấm bảng đen sẵn sàng bắt đầu bài học trong ngày, và thói quen của anh ta là đòi hỏi sự tĩnh lặng bằng một âm thanh nửa giống tiếng "Ơ" giao tiếp thông thường, nửa giống tiếng kèn đồng trỗi dậy. Cô gái mặc đồ nâu lùi nhanh về chỗ ngồi của mình: vị trí ấy nằm ngay trước bàn của Hill, và Hill, lập tức quên bẵng sự hiện diện của cô, bèn kéo một cuốn vở từ ngăn kéo bàn ra, lật giật các trang, rút một cây bút chì mụt lủ từ trong túi và chuẩn bị ghi chép thật đầy đủ cho bài giảng sắp tới. Bởi vì các buổi thực hành và bài giảng chính là văn bản thánh thiêng của sinh viên trường Cao đẳng. Sách vở, ngoại trừ sách của chính vị Giáo sư, thì các trò có thể — thậm chí được khuyến khích là — phớt lờ.
Hill là con trai của một người thợ giày ở Landport, được vớt lên bởi một tờ giấy xanh tình cờ mà nhà trường đã tung ra cho Cao đẳng Kỹ thuật Landport. Cậu tự tằn tiện chi phí sinh hoạt ở London bằng khoản trợ cấp một guinea một tuần của mình, và nhận ra rằng nếu biết cẩn thận, số tiền đó cũng vừa đủ cho cả tiền quần áo, tức là thêm mấy chiếc cổ áo vải không thấm nước thỉnh thoảng mua dùng; cùng mực, kim, chỉ và những thứ lặt vặt khác của một thanh niên thị thành. Đây là năm học đầu tiên và học kỳ đầu tiên của cậu, nhưng ông cụ da nâu ở Landport đã kịp khiến thiên hạ ghé mặt ở khối quán rượu khi cứ khoe khoang về cậu con trai "Giáo sư" của mình. Hill là một thanh niên cường tráng, mang trong mình sự khinh bỉ điềm tĩnh đối với giới giáo sĩ thuộc mọi giáo phái và một hoài bão lớn lao muốn tái thiết thế giới. Cậu coi suất học bổng của mình là một cơ hội rực rỡ. Cậu đã bắt đầu biết đọc từ năm lên bảy, và từ đó đến nay vẫn miệt mài ngấu nghiến bất cứ thứ gì rơi vào tay mình, hay dở tốt xấu đều đọc tuốt. Vòn kinh nghiệm trần thế của cậu chỉ loanh quanh trên hòn đảo Portsea, thu lượm chủ yếu từ xưởng đóng giày đại trà nơi cậu từng làm việc ban ngày sau khi đã qua lớp bảy của trường phổ thông hội đồng. Cậu có năng khiếu hùng biện đáng kể, điều mà Câu lạc bộ Tranh luận của trường — họp giữa những cỗ máy nghiền và mô hình mỏ trong phòng học luyện kim ở tầng dưới — đã sớm công nhận — công nhận bằng những tiếng đập bàn rầm rầm mỗi khi cậu đứng lên phát biểu. Và cậu đang ở độ tuổi đầy cảm xúc tuyệt đẹp ấy, khi cuộc đời mở ra ở cuối một con đường hẹp như một thung lũng rộng lớn ngay dưới chân, tràn ngập hứa hẹn về những phát hiện kỳ diệu và những thành tựu vĩ đại. Trừ việc biết mình chẳng biết gì về tiếng Latin hay tiếng Pháp, mọi giới hạn của bản thân đều hoàn toàn xa lạ với cậu.
Ban đầu, sự quan tâm của Hill chia đều khá ngang ngửa giữa công việc sinh học ở trường Cao đẳng và những lý thuyết về xã hội học lẫn thần học — một công việc mà cậu dồn hết tâm huyết đến chết đi sống lại. Vào ban đêm, khi thư viện bảo tàng lớn không mở cửa, cậu ngồi trên chiếc giường trong căn phòng trọ ở Chelsea, mặc nguyên áo khoác và quàng khăn, chép lại các ghi chú bài giảng và ôn lại sổ tay mổ xẻ, cho đến khi Thorpe huýt sáo gọi — bà chủ nhà rất ghét việc phải mở cửa đón khách đến gác mái — rồi hai kẻ đó sẽ lang thang qua những con phố chập choạng bóng tối, lấp lánh ánh đèn gas, vừa đi vừa trò chuyện hệt như cái mẫu chuyện vừa rồi về ý niệm Chúa Trời, về Sự chính trực, về Carlyle và về Công cuộc Tái tổ chức Xã hội. Và giữa những lúc đó, Hill, tranh cãi không chỉ vì Thorpe mà còn vì bất kỳ kẻ qua đường tình cờ nào, sẽ đánh rơi mất mạch luận điểm khi liếc nhìn một gương mặt phấn son xinh xắn nào đó đang liếc mắt đưa tình với cậu. Khoa học và Sự chính trực! Thế nhưng, dạo gần đây đã có vài lần xuất hiện dấu hiệu cho thấy một sự quan tâm thứ ba đang len lỏi vào cuộc đời cậu, khiến cậu nhận ra tâm trí mình cứ lơ đễnh trôi đi khỏi số phận của các thể xo trung bì hay ý nghĩa tiềm tàng của lỗ nguyên thủy, để nghĩ về cô gái có đôi mắt nâu ngồi ở chiếc bàn ngay trước mặt cậu.
Cô là một sinh viên đóng học phí; cô đã hạ mình từ những tầng lớp xã hội cao vời vợi không thể tưởng tượng nổi chỉ để trò chuyện với cậu. Nghĩ đến nền giáo dục cô từng thụ hưởng và những tài nghệ mà cô hẳn phải sở hữu, tâm hồn Hill bỗng trở nên hèn mọn tận cùng. Cô bắt chuyện với cậu lần đầu tiên vì một rắc rối quanh phần xương bướm thái dương của hộp sọ thỏ, và cậu nhận ra rằng, ít nhất là trong môn sinh học, cậu chẳng có lý do gì phải tự ti. Rồi từ đó, theo thói quen của người trẻ bắt đầu từ bất kỳ điểm xuất phát nào, họ chuyển sang những vấn đề chung chung; và trong khi Hill tấn công cô bằng câu hỏi về chủ nghĩa xã hội — một bản năng mách bảo cậu hãy tha cho cô một đòn chí mạng nhằm thẳng vào tôn giáo — thì cô lại đang gom góp quyết tâm để thực hiện cái gọi là sự giáo dục thẩm mỹ cho cậu. Cô lớn hơn cậu một hoặc hai tuổi, dù ý nghĩ đó chưa từng xuất hiện trong đầu cậu. Việc cho mượn cuốn Tin tức từ chốn không đâu chính là khởi đầu cho một loạt những lần mượn sách qua lại. Theo một nguyên lý ngớ ngẩn nào đó của mình, Hill chưa từng "lãng phí thời gian" cho thơ ca, và điều đó trong mắt cô quả là một sự thiếu sót kinh hoàng. Một lần vào giờ ăn trưa, khi tình cờ bắt gặp cậu đơn độc trong bảo tàng nhỏ nơi trưng bày các bộ xương, đang xấu hổ nhai chiếc bánh mì ngọt vốn là bữa trưa của mình, cô liền rút lui rồi quay lại, mang theo với một vẻ lén lút nhẹ nhàng, một tập thơ của Browning. Cậu đứng nghiêng người sang một bên và đón lấy cuốn sách một cách khá vụng về, bởi tay kia cậu vẫn đang cầm chiếc bánh. Và trong hồi ức của cậu, giọng nói khi ấy thiếu đi sự trong trẻo vui tươi mà cậu hằng mong muốn.
Chuyện đó xảy ra sau kỳ thi giải phẫu so sánh, vào đúng ngày trước khi trường Cao đẳng đóng cửa nghỉ lễ Giáng sinh, sinh viên tỏa về các ngả và các quan chức niêm phong trường lại cẩn thận. Sự hồi hộp khi nhồi nhét kiến thức cho cuộc đọ sức đầu tiên đã có lúc lấn át Hill, khiến cậu bỏ quên những mối quan tâm khác. Trong những dự đoán về kết quả mà ai nấy đều bàn tán rôm rả, cậu ngạc nhiên khi thấy chẳng ai coi mình là một ứng viên tiềm năng cho Huy chương Tưởng niệm Harvey — giải thưởng mà kỳ thi này và hai kỳ thi tiếp theo sẽ định đoạt. Cũng chính khoảng thời gian này, Wedderburn — kẻ bấy lâu nay vẫn sống lặng lẽ ở rìa ngoài nhận thức của Hill — bắt đầu mang hình hài của một vật cản. Theo một thỏa thuận ngầm, những buổi lang thang ban đêm cùng Thorpe bị đình lại trong ba tuần trước kỳ thi, và bà chủ nhà trọ chỉ ra rằng bà thực sự không thể cung cấp ngần ấy dầu đốt đèn với mức giá đó được. Cậu đi bộ đến trường và ngược về nhà với những mẩu giấy ghi nhớ nhỏ xíu trên tay, chẳng hạn như danh sách các phần phụ của tôm hùm đất, xương sọ thỏ và dây thần kinh động vật có xương sống, và trở thành một nỗi phiền toái thực sự cho những người đi bộ theo hướng ngược lại.
Thế nhưng, theo một phản ứng tự nhiên, Thơ ca và cô gái mắt nâu đã thống trị kỳ nghỉ Giáng sinh. Kết quả thi cử sắp công bố trở thành một thứ yếu đến mức Hill phải tự ngạc nhiên trước sự phấn khích của cha mình. Dù có muốn đi chăng nữa, ở Landport cũng chẳng có sách giải phẫu so sánh nào để mà đọc, và cậu lại quá nghèo để mua sách, thế nhưng kho tàng thơ ca trong thư viện thì vô cùng đồ sộ, và cuộc công hãm của Hill được duy trì một cách vô cùng tráng lệ. Cậu đắm mình trong nhịp điệu trôi chảy của Longfellow và Tennyson, tự trang bị cho mình tấm khiên Shakespeare; tìm thấy một tâm hồn đồng điệu ở Pope, một bậc thầy ở Shelley, đồng thời nghe theo rồi trốn chạy những tiếng gọi giăng bẫy của Eliza Cook cùng bà Hemans. Thế nhưng cậu không đọc thêm thơ Browning nữa, bởi cậu nuôi hy vọng sẽ được cô Haysman cho mượn những tập sách khác khi quay lại London.
Cậu đi bộ từ phòng trọ đến trường với tập thơ Browning đó trong chiếc túi da màu đen bóng loáng, đầu óc tràn ngập những mệnh đề chung tuyệt vời nhất về thơ ca. Thậm chí, cậu còn soạn sẵn hết câu nói này đến câu nói khác để làm sang cho lúc trả sách. Buổi sáng hôm ấy vô cùng dễ chịu đối với một nơi như London; trời lạnh buốt, khô ráo và có một khoảng trời xanh không thể chối cãi, một lớp sương mù mỏng làm mềm đi mọi đường nét, và những luồng nắng ấm áp chiếu xuyên qua các dãy nhà, biến sườn phố ngập nắng thành một màu hổ phách và vàng rực. Tại sảnh của trường Cao đẳng, cậu kéo găng tay ra và ký tên bằng những ngón tay lạnh cóng đến mức nét gạch chân đặc trưng dưới chữ ký mà cậu dày công luyện tập đã biến thành một đường ngoằn ngoèo run rẩy. Cậu tưởng tượng ra cô Haysman ở khắp mọi nơi quanh mình. Cậu quay người ở chân cầu thang, và ở đó, ngay phía dưới, cậu thấy một đám đông đang chen chúc dưới chân bảng thông báo. Rất có thể đây chính là danh sách môn sinh học. Cậu quên bâng quơ chuyện về Browning và cô Haysman, liền nhập cuộc chen lấn. Và cuối cùng, với má áp chặt vào tay áo của kẻ đứng trên bậc thang cao hơn mình, cậu đọc danh sách —
HẠNG I H. J. Somers Wedderburn William Hill
và tiếp sau đó là hạng hai — thứ nằm ngoài sự quan tâm của chúng ta lúc này. Điều đặc biệt là cậu chẳng bận tâm tìm kiếm tên Thorpe trên bảng vật lý, mà lùi ra khỏi đám đông ngay lập tức, rồi trong một trạng thái cảm xúc kỳ lạ giữa niềm kiêu hãnh của một kẻ hạng hai bình thường và nỗi thất vọng tràn trề trước thành công của Wedderburn, cậu tiếp tục bước lên lầu. Ở trên tầng thượng, khi đang treo áo khoác ở lối đi, vị trợ giảng môn động vật học — một thanh niên đến từ Oxford, kẻ thầm coi cậu là một mọt sách huênh hoang hạng nặng — đã ngỏ lời chúc mừng nồng nhiệt nhất.
Ngay trước cửa phòng thí nghiệm, Hill dừng lại một giây để lấy lại hơi thở rồi bước vào. Cậu nhìn thẳng vào trong và thấy cả năm nữ sinh đang túm tụm ở chỗ ngồi của họ, còn Wedderburn — kẻ vốn dĩ rụt rè ngày nào — đang duyên dáng tựa người vào khung cửa sổ, nghịch chiếc tua rua của tấm rèm và trò chuyện với cả năm cô nàng. Giờ đây, Hill có thể nói chuyện hùng hồn, thậm chí trịch thợ với một cô gái, và cậu cũng có thể diễn thuyết trước cả phòng đầy nữ sinh, thế nhưng cái trò đứng thong thả thưởng thức, đối đáp, tung hứng và trả đũa nhanh như chớp giữa một nhóm người như thế này thì quả thật, cậu biết thừa là nó vượt quá khả năng của mình. Lúc bước lên cầu thang, tình cảm cậu dành cho Wedderburn vẫn còn rất cao thượng, có lẽ là một chút ngưỡng mộ, một sự sẵn sàng bắt tay thật chặt và rõ ràng như một kẻ mới chỉ đấu xong hiệp đầu tiên. Thế nhưng trước Giáng sinh, Wedderburn chưa bao giờ bén mảng lên tận góc phòng đó để trò chuyện. Trong chớp mắt, làn sương phấn khích mơ hồ trong lòng Hill vụt ngưng đọng thành một sự ghét bỏ mãnh liệt dành cho Wedderburn. Rất có thể nét mặt cậu đã thay đổi. Khi cậu tiến về chỗ ngồi, Wedderburn hờ hững gật đầu chào, còn những người khác thì liếc nhìn. Cô Haysman nhìn cậu rồi lại quay đi, ánh mắt lướt qua nhanh đến mức mong manh nhất. Cô nói: "Tôi không thể đồng ý với anh được đâu, anh Wedderburn."
Cô gái đeo kính mặc đồ xanh quay người lại, rạng rỡ nhìn cậu: "Tôi phải chúc mừng anh vì tấm vé hạng nhất nhé, anh Hill."
Hill đáp: "Có gì đâu," mắt dán chặt vào Wedderburn và cô Haysman đang trò chuyện với nhau, lòng vô cùng sốt ruột muốn biết họ đang nói gì.
Cô gái đeo kính nói: "Tụi nghèo khổ tụi tôi ở hạng hai thì không nghĩ thế đâu."
Wedderburn đang nói cái gì thế nhỉ? Hình như là về William Morris! Hill không đáp lại cô gái đeo kính, nụ cười tắt ngúm trên khuôn mặt cậu. Cậu không thể nghe thấy gì, và cũng chẳng biết làm thế nào để chen mồm vào. Khỉ thật cái gã Wedderburn này! Cậu ngồi xuống, mở túi ra, chần chừ không biết có nên trả ngay cuốn Browning trước mặt tất cả mọi người hay không, rồi thay vào đó, cậu lôi ra những cuốn vở mới cho khóa học ngắn hạn môn thực vật học sắp bắt đầu và sẽ kết thúc vào tháng Hai. Đúng lúc ấy, một gã mập mạp, nặng nề, mặt trắng bệch, mắt xám nhợt — Bindon, giáo sư thực vật học, người từ Kew lên dạy vào tháng Giêng và tháng Hai — bước vào qua cửa giảng đường, vừa xoa hai tay vừa mỉm cười, đi dọc phòng thí nghiệm với vẻ thân thiện lặng thầm.
Trong sáu tuần tiếp theo, Hill đã trải qua những diễn biến cảm xúc hết sức nhanh chóng và phức tạp đến kỳ lạ. Hầu hết thời gian, cậu đều coi Wedderburn là tâm điểm ngắm bắn — một thực tế mà cô Haysman chưa từng mờ hồ nhận ra. (Bởi trong không gian tương đối riêng tư của bảo tàng, cô trò chuyện với cậu rất nhiều về chủ nghĩa xã hội, về Browning và những vấn đề chung chung) cô từng kể với Hill rằng cô đã gặp Wedderburn ở nhà một số người quen, và rằng: "Cậu ta thừa hưởng sự thông minh từ gia đình; vì cha cậu ấy, anh biết đấy, là một chuyên gia nhãn khoa lớn."
"Cha tôi là thợ giày," Hill đáp lại một cách vô duyên hết sức, và nhận ra sự thiếu phẩm giá ngay khi thốt lên. Thế nhưng tia ghen tuông ấy không làm cô phật lòng. Cô tự coi mình là cội nguồn sâu xa của nó. Cậu đau đớn chịu đựng cảm giác bất công mà Wedderburn mang lại, đồng thời nhận thức rõ sự thua thiệt của bản thân. Nhìn xem, Wedderburn này vớ được một người cha có máu mặt, và thay vì bị trừ điểm vì lợi thế đó, nó lại được tính là điểm cộng cho sự chính trực của hắn! Và trong lúc Hill phải tự giới thiệu rồi vụng về trò chuyện với cô Haysman bên những bầy chuột lang bị băm nát trong phòng thí nghiệm, thì cái tên Wedderburn này, bằng thứ đường đi nước bước khuất tất nào đó, lại có lối đi vào tận những tầng lớp xã hội cao sang của cô, có thể đối đáp bằng thứ ngôn ngữ chát chúa, bóng bẩy mà Hill có lẽ hiểu đấy, nhưng lại thấy mình bất lực chẳng tài nào thốt lên lời. Tất nhiên không phải là cậu muốn thế. Rồi Hill lại thấy việc Wedderburn ngày này qua ngày khác xuất hiện với cổ áo không sờn, quần áo may đo gọn gàng, đầu tóc chải chuốt tỉ mỉ, hoàn hảo một cách tĩnh lặng — bản thân điều đó đã là một hành động thiếu lịch sự, mang màu sắc mỉa mai rồi. Hơn nữa, việc Wedderburn cư xử mờ nhạt trong một thời gian, ra điều khiêm tốn giả tạo, khiến Hill ngộ nhận rằng chính mình mới là nhân vật số một không thể bàn cãi của năm, rồi đột ngột phóng vút lên trước mặt cậu và cứ thế bành trướng theo cái cách này — quả là một hành động lén lút. Thêm vào đó, Wedderburn còn thể hiện xu hướng ngày càng gia tăng là thích sà vào bất kỳ nhóm trò chuyện nào có mặt cô Haysman, đồng thời bạo gan — và thực chất là luôn tìm cơ hội — để đưa ra những ý kiến hạ thấp chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa vô thần. Hắn chọc tức Hill bằng những nhát dao cá nhân gọn gàng, nông cạn và cực kỳ sắc bén nhắm vào các thủ lĩnh phe xã hội chủ nghĩa, cho đến khi Hill căm ghét cái tôi duyên dáng của Bernard Shaw, những ấn bản giới hạn cùng giấy dán tường xa hoa của William Morris, hay những người lao động lý tưởng đẹp đến mức ngớ ngẩn của Walter Crane — cũng nhiều ngang ngửa sự căm ghét của cậu dành cho Wedderburn. Những bài diễn thuyết trong phòng thí nghiệm từng là vinh quang của cậu ở học kỳ trước, nay trở thành một mối hiểm họa, thoái hóa thành những trận vật lộn không mấy vẻ vang với Wedderburn, và Hill vẫn cứ dính lấy chúng chỉ vì một ý thức mơ hồ rằng danh dự của mình đang bị đe dọa. Trong câu lạc bộ tranh luận, Hill biết rất rõ rằng giữa tiếng đập bàn rầm rầm như sấm dậy, cậu hoàn toàn có thể nghiền nát Wedderburn thành cám. Chỉ có điều Wedderburn chẳng bao giờ chịu đến câu lạc bộ tranh luận để mà bị nghiền nát, bởi vì — một thứ điệu bộ phát nôn! — hắn ta "dùng bữa tối muộn."
Bạn chớ nên tưởng tượng rằng những sự việc này hiện lên qua nhận thức của Hill một cách thô ráp như thế. Hill bẩm sinh là một kẻ thích khái quát hóa. Đối với cậu, Wedderburn không chỉ đơn thuần là một vật cản cá nhân mà là một kiểu mẫu, là góc nhọn của một tầng lớp. Những học thuyết kinh tế sau bao phen sôi sục đã định hình trong tâm trí Hill, nay bỗng trở nên cụ thể hóa khi chạm trán thực tế. Thế giới ngập tràn những gã Wedderburn phong nhã, bảnh bao, ăn mặc lịch lãm, mồm mép linh hoạt và rốt cuộc cũng nông cạn y hệt như thế: những Giám mục Wedderburn, những Nghị sĩ Wedderburn, những Giáo sư Wedderburn, những chủ nhà Wedderburn — tất cả đều mang cái khẩu hiệu rửa tay tách trà cùng những thành phố ẩn náu đầy châm ngôn để trốn tránh một kẻ tranh luận cường tráng. Và đối với trí tưởng tượng của Hill, bất cứ ai ăn mặc rách rưới hoặc tồi tàn, từ người thợ giày cho đến kẻ dắt xe thuê, đều là con người và là anh em, là những kẻ cùng chung số phận khổ đau. Thế nên cậu trở thành, có thể nói thế, một nhà vô địch của những kẻ lầm than áp bức, dẫu cho bề ngoài chỉ hiện lên như một kẻ kiêu ngạo, vô lễ, và là một nhà vô địch thất bại thảm hại. Hết lần này đến lần khác, một cuộc skirmish quanh bàn trà chiều mà các nữ sinh đã khởi xướng lại để lại cho Hill cặp má đỏ bừng cùng một tâm tính rách nát, và câu lạc bộ tranh luận thì nhận thấy một chất giọng cay độc mỉa mai hoàn toàn mới trong các bài phát biểu của cậu.
Giờ thì bạn sẽ hiểu tại sao Hill lại cần thiết phải đánh bại Wedderburn trong kỳ thi sắp tới — dẫu chỉ vì lợi ích của nhân loại — và lu mờ hắn trong mắt cô Haysman; và bạn cũng sẽ nhận ra cô Haysman đã vướng vào những ngộ nhận nữ tính thông thường như thế nào. Cuộc chiến Hill-Wedderburn — bởi vì theo cách kín đáo của mình, Wedderburn cũng đáp lại sự ganh đua được che đậy kém cỏi của Hill — đã trở thành một thứ cống vật dâng lên sức hút khó tả của cô; cô chính là Nữ hoàng Sắc đẹp trong một giải đấu bằng dao mổ và bút chì cùn. Đối với sự khó chịu thầm kín của cô bạn thân, điều đó thậm chí còn làm phiền lòng lương tâm cô, bởi cô là một cô gái tốt, và đau đớn nhận thức rõ từ Ruskin cùng văn học đương đại rằng mọi hoạt động của đàn ông đều hoàn toàn do thái độ của phụ nữ định đoạt. Và nếu Hill chẳng có lấy một lần nhắc đến chủ đề tình yêu với cô, cô chỉ ghi nhận cậu vì sự khiêm nhường cao đẹp hơn nhờ sự im lặng ấy. Thế rồi thời điểm cho kỳ thi thứ hai cũng đến, và sự xanh xao ngày càng tăng của Hill đã xác nhận lời đồn đại rộng rãi rằng cậu đang học tập rất vất vả. Tại tiệm bánh mì nướng gần ga South Kensington, người ta có thể bắt gặp cậu đang bẻ chiếc bánh ngọt và nhấp ngụm sữa, mắt đăm đăm dán vào tờ giấy ghi chú chằng chịt chữ. Trong phòng ngủ của cậu, những mệnh đề về chồi và thân cây được dán quanh chiếc gương soi, một sơ đồ để bắt lấy ánh mắt cậu nếu xà phòng lỡ tha cho nó, được treo ngay phía trên bồn rửa mặt. Cậu đã bỏ lỡ vài buổi họp của câu lạc bộ tranh luận, bù lại những cuộc chạm trán tình cờ với cô Haysman tại những sảnh đường rộng rãi của bảo tàng nghệ thuật bên cạnh, hay trong bảo tàng nhỏ trên tầng cao nhất của trường Cao đẳng, hoặc ngoài hành lang trường lại diễn ra thường xuyên hơn và đầy thư thái. Cụ thể hơn, họ thường gặp nhau ở một phòng trưng bày nhỏ đầy những rương và cổng sắt rèn, gần thư viện nghệ thuật, và ở đó Hill thường say sưa trò chuyện — dưới sự khích lệ dịu dàng từ ánh mắt chú ý đầy ngưỡng mộ của cô — về Browning và những hoài bão cá nhân của cậu. Một đặc điểm mà cô thấy rất đáng chú ý ở cậu chính là sự phóng khoáng, không màng danh lợi. Cậu hoàn toàn bình thản trước viễn cảnh sống cả đời với mức thu nhập chưa tới một trăm bảng một năm. Nhưng cậu quyết tâm phải trở thành người nổi tiếng, phải làm cho thế giới trở nên đáng sống hơn bằng chính thực lực được công nhận của mình. Cậu coi Bradlaugh và John Burns là những thủ lĩnh và hình mẫu cho mình — những vĩ nhân nghèo khó, thậm chí túng quẫn. Thế nhưng cô Haysman lại cho rằng những cuộc đời như thế vẫn còn thiếu sót về mặt thẩm mỹ — mà ý cô muốn nói, dẫu chính cô cũng chẳng hay biết, chính là giấy dán tường và nội thất đẹp đẽ, sách vở xinh xắn, quần áo có gu, những buổi hòa nhạc, cùng các bữa ăn được nấu ngon lành và phục vụ trân trọng.
Cuối cùng thì ngày thi thứ hai cũng đến, và vị giáo sư thực vật học — một con người số sắng, tận tụy — đã sắp xếp lại tất cả các bàn trong một phòng thí nghiệm dài và hẹp nhằm ngăn chặn tình trạng gian lận, rồi đặt người trợ giảng lên một chiếc ghế đẩu trên bàn (nơi mà anh ta bảo là trông giống như một vị thần Hindu), để quan sát mọi hành vi gian lận, đồng thời dán một tấm thông báo ngoài cửa: "Cửa đóng," mà chẳng có bất kỳ lý do quái quỷ nào trên đời mà con người ta có thể tìm ra nổi. Và suốt cả buổi sáng từ mười giờ đến một giờ, ngòi bút lông ngỗng của Wedderburn kêu réo thách thức ngòi bút của Hill, còn ngòi bút của những người khác thì rượt đuổi sát gót như một bầy chó săn không biết mệt mỏi, và buổi chiều cũng diễn ra y như vậy. Wedderburn có vẻ trầm lặng hơn ngày thường một chút, còn mặt Hill nóng bừng suốt cả ngày, chiếc áo khoác phồng lên vì nhét đầy sách giáo khoa và vở ghi chép để ôn tập vào phút chót. Và ngày hôm sau, cả buổi sáng lẫn buổi chiều, là kỳ thi thực hành, khi các tiêu bản lát cắt phải được cắt và các lam kính phải được nhận dạng. Buổi sáng Hill thấy chán nản vì biết mình đã cắt một lát cắt quá dày, và đến buổi chiều thì sự cố bí ẩn kia xảy ra.
Đó đúng là kiểu trò mà vị giáo sư thực vật học vẫn hay làm. Giống như thuế thu nhập, nó tạo ra một món hời cho kẻ gian lận. Đó là một tiêu bản được đặt dưới kính hiển vi, một mảnh lam kính nhỏ, được giữ cố định trên bàn sa trượt của dụng cụ bằng những chiếc kẹp thép mảnh, và dòng chữ khắc trên đó ghi rõ là không được di chuyển lam kính. Mỗi sinh viên sẽ lần lượt bước tới chỗ nó, phác thảo lại, ghi vào sổ trả lời xem nó là cái gì, rồi quay về chỗ ngồi của mình. Giờ thì, việc dịch chuyển một lam kính như thế là điều hoàn toàn có thể làm được chỉ bằng một cử động vô tình của ngón tay, trong tích tắc của một phần giây. Lý do khiến vị giáo sư ban hành lệnh cấm di chuyển lam kính bắt nguồn từ việc đối tượng ông muốn họ nhận dạng là một đặc trưng của một thân cây cơm cháy nào đó. Ở vị trí được đặt sẵn, nó là một vật rất khó nhận ra, nhưng một khi lam kính đã bị xê dịch để đưa các phần khác của tiêu bản vào tầm nhìn, thì bản chất của nó trở nên quá rõ ràng.
Hill bước đến chiếc kính đó, mặt vẫn còn hầm hầm vì cuộc chiến với các thuốc thử nhuộm màu, ngồi xuống chiếc ghế đẩu nhỏ trước kính hiển vi, xoay gương để lấy ánh sáng tốt nhất, rồi theo một phản xạ thuần túy, cậu đẩy dịch lam kính đi. Ngay lập tức cậu nhớ lại lệnh cấm, và với một cử động gần như liền mạch của đôi bàn tay, cậu đẩy nó về chỗ cũ, rồi chết trân vì kinh hãi trước hành động của chính mình.
Rồi, chậm rãi, cậu quay đầu lại. Giáo sư không có trong phòng; người trợ giảng ngồi vắt vẻo trên bục tự chế của anh ta, đang đọc tạp chí Q. Jour. Mi. Sci.; những thí sinh còn lại đang cắm cúi bận rộn và quay lưng về phía cậu. Cậu có nên thú nhận tai nạn này ngay bây giờ không? Cậu biết rất rõ thứ đó là gì. Đó là một lỗ vỏ (lenticel), một tiêu bản đặc trưng của cây cơm cháy. Đôi mắt cậu đảo qua những bạn học đang cắm cúi, và Wedderburn chợt liếc qua vai cậu với một biểu cảm kỳ lạ trong mắt. Sự kích thích tinh thần từng giữ cho Hill ở mức độ sung sức bất thường suốt hai ngày qua bỗng nhường chỗ cho một sự căng thẳng thần kinh kỳ lạ. Cuốn sổ trả lời nằm ngay bên cạnh cậu. Cậu không ghi ra thứ đó là gì, mà với một mắt dán vào kính hiển vi, cậu bắt đầu phác họa vội vàng nó. Tâm trí cậu ngập tràn câu đố đạo đức quái gở vừa bất thình lình giáng xuống đầu cậu. Cậu có nên nhận dạng nó không? Hay nên để trống câu hỏi này? Trong trường hợp đó, Wedderburn rất có thể sẽ giành hạng nhất trong kết quả thứ hai. Làm sao lúc này cậu có thể biết chắc rằng mình có nhận dạng được nó hay không nếu không dịch chuyển lam kính? Tất nhiên vẫn có khả năng Wedderburn đã không nhận ra nó. Giả sử Wedderburn cũng dịch chuyển lam kính thì sao? Cậu ngẩng lên nhìn đồng hồ. Chỉ còn mười lăm phút để đưa ra quyết định. Cậu gom cuốn sổ trả lời cùng những cây bút chì màu vẫn dùng để minh họa câu trả lời lại rồi lững thững bước về chỗ ngồi.
Cậu đọc lại bản thảo của mình, rồi ngồi trầm ngâm cắn đốt ngón tay. Lúc này mà đứng lên thú nhận thì trông thật nực cười làm sao. Cậu phải đánh bại Wedderburn. Cậu quên bẵng đi những tấm gương sáng ngời như John Burns và Bradlaugh. Hơn nữa, cậu tự nhủ, cái thoáng nhìn thấy phần còn lại của lam kính rốt cuộc hoàn toàn chỉ là ngẫu nhiên, bị ép buộc bởi tình cờ, giống một thứ khải thị ơn trên hơn là một lợi thế không công bằng. Việc lợi dụng điều đó không hề gian lận bằng Broome — kẻ tin vào sự linh ứng của lời cầu nguyện, ngày nào cũng cầu xin cho được hạng nhất. Trợ giảng gấp báo lại và bắt đầu quan sát, hô lớn: "Còn năm phút nữa." Hill dán mắt vào kim đồng hồ cho đến khi chỉ còn hai phút; rồi cậu mở cuốn sổ trả lời ra, tai nóng bừng và mang một điệu bộ thản nhiên giả tạo, đặt tên cho bản vẽ lỗ vỏ của mình.
Khi bảng điểm thứ hai xuất hiện, thứ hạng trước đó của Wedderburn và Hill đã đảo ngược, và cô gái đeo kính mặc đồ xanh — người có quen biết với người trợ giảng ngoài đời thực (nơi anh ta tỏ ra hoàn toàn là một con người bình thường) — nói rằng gộp chung kết quả của cả hai kỳ thi lại thì Hill hơn một điểm — 167 so với 166 trên tổng số 200 điểm tối đa. Ai nấy đều ít nhiều ngưỡng mộ Hill, dẫu cho sự nghi ngờ về thói "mọt sách" vẫn đeo bám cậu. Thế nhưng những lời chúc mừng, sự đánh giá ngày càng cao của cô Haysman, và thậm chí cả sự xẹp xuống thấy rõ của cái tôi Wedderburn, lại bị vấy bẩn bởi một ký ức bất hạnh. Ban đầu, cậu cảm thấy một luồng năng lượng dâng trào kỳ lạ, và âm hưởng của một nền dân chủ đang tuần hành đến khúc khải hoàn lại quay trở lại trong các bài phát biểu ở câu lạc bộ tranh luận của cậu; cậu cặm cụi nghiên cứu môn giải phẫu so sánh với một sự nhiệt thành và hiệu quả khủng khiếp, đồng thời tiếp tục công cuộc giáo dục thẩm mỹ của mình. Thế nhưng xuyên suốt tất cả những điều đó, một bức tranh nhỏ bé sống động cứ liên tục hiện ra trước mắt tâm trí cậu — hình ảnh một kẻ tiểu nhân đang lén lút dịch chuyển lam kính.
Không một con người nào chứng kiến hành động đó, và cậu chắc như đinh đóng cột rằng chẳng có đấng tối cao nào tồn tại để mà nhìn thấy nó; thế nhưng mặc cho tất cả, nó vẫn làm cậu bứt rứt không yên. Ký ức không phải là những vật vô tri mà là sinh vật sống; chúng teo tóp đi khi không được dùng đến, nhưng lại đâm chồi và phát triển theo mọi hướng kỳ quái nếu cứ liên tục bị dằn vặt. Kỳ lạ thay, dẫu vào thời điểm đó cậu nhận thức rất rõ rằng việc dịch chuyển chỉ là tai nạn, nhưng khi những ngày tháng trôi qua, ký ức của cậu trở nên mờ mịt về điều đó, cho đến tận lúc cuối cùng cậu chẳng còn chắc chắn nữa — dù vẫn tự trấn an rằng mình chắc chắn — liệu cái hành động dịch chuyển ấy có hoàn toàn là vô thức hay không. Hơn nữa, có khả năng chế độ ăn uống của Hill là tác nhân dẫn đến sự chu đáo bệnh hoạn ấy: một bữa sáng thường ăn trong vội vã, một chiếc bánh mì ngọt bữa trưa, và vào những giờ sau năm giờ chiều nếu thấy tiện, là chút thịt tùy theo khả năng tài chính cho phép, thường là ở một quán thịt nướng nằm trong con hẻm phía sau đường Brompton. Thỉnh thoảng cậu tự thưởng cho mình những cuốn sách kinh điển giá ba xu hoặc chín xu, và chúng thường đánh đổi bằng việc phải nhịn khoai tây hoặc thịt nướng. Không thể chối cãi được rằng những đợt tự ti giày vò và hồi sinh cảm xúc có mối liên hệ rõ rệt với những giai đoạn túng quấn. Thế nhưng ngoài ảnh hưởng đó lên cảm xúc, trong con người Hill còn tồn tại một sự ác cảm rõ rệt với sự giả dối mà gã thợ giày Landport báng bổ đã nhồi sọ bằng roi vọt và ngôn từ từ những ngày thơ ấu. Về một sự thật đối với những kẻ tự nhận là vô thần, tôi hoàn toàn bị thuyết phục: bọn chúng có thể — và thường là thế — là những kẻ ngốc nghếch, thiếu tinh tế, những kẻ phỉ báng các thiết chế thần thánh, những kẻ ăn nói thô bạo và là bọn bất lương phá phách, nhưng chúng nói dối rất kém. Nếu không phải vậy, nếu chúng có dù chỉ một chút hiểu biết mỏng manh về khái niệm thỏa hiệp, thì chúng đã nghiễm nhiên trở thành những tín đồ giáo hội tự do rồi. Hơn nữa, ký ức này đã đầu độc cả sự quý mến của cậu dành cho cô Haysman. Bởi giờ đây cô thể hiện rõ rệt sự ưu ái dành cho cậu hơn Wedderburn, khiến cậu cảm thấy chắc chắn rằng mình thực sự quan tâm đến cô, và bắt đầu đáp lại sự săn sóc của cô bằng những dấu hiệu rụt rè đầy tình cảm cá nhân; thậm chí có lần cậu còn mua một bó hoa violet, giấu nó trong túi áo mang đi khắp nơi, rồi rút ra với một lời giải thích lắp bắp, khi nó đã héo rũ và chết khô trong phòng triển lãm sắt cổ. Nó cũng đầu độc cả những lời tố cáo sự bất lương của tư bản — thứ từng là một trong những niềm vui lớn trong đời cậu. Và cuối cùng, nó đầu độc cả niềm kiêu hãnh chiến thắng của cậu trước Wedderburn. Trước đó, trong mắt cậu, cậu vốn dĩ vượt trội hơn Wedderburn, và chỉ bực bội vì không được công nhận. Giờ đây, cậu bắt đầu dằn vặt trước nghi ngờ đen tối rằng bản thân mới thực sự kém cỏi. Cậu ngỡ mình tìm thấy những sự biện minh cho lập trường của mình trong thơ Browning, nhưng chúng lại tan biến khi đem ra phân tích. Cuối cùng — bị thúc đẩy, thật kỳ lạ làm sao, chính xác bởi những động lực từng dẫn đến hành vi gian lận của mình — cậu đã đến gặp Giáo sư Bindon, thành khẩn khai nhận toàn bộ sự việc. Do Hill là một sinh viên đóng học phí, Giáo sư Bindon không mời cậu ngồi, và cậu phải đứng trước bàn làm việc của vị giáo sư để thú tội.
Giáo sư Bindon chậm rãi nhận thức được sự việc phản chiếu ngược lại chính mình như thế nào, rồi để cơn giận bùng lên, ông nói: "Đó là một câu chuyện kỳ lạ — một câu chuyện hết sức đáng chú ý. Tôi không thể hiểu nổi sao anh lại làm thế, và tôi cũng chẳng thể hiểu nổi lời thú nhận này. Anh là một kiểu sinh viên mà... mấy cậu bên Cambridge không bao giờ dám mơ tới... Lẽ ra tôi phải nghĩ đến... sao anh lại đi gian lận chứ?"
Hill đáp: "Tôi không gian lận."
"Nhưng anh vừa mới bảo với tôi là anh làm đấy thôi."
"Tôi tưởng tôi đã giải thích..."
"Hoặc là anh gian lận, hoặc là anh không gian lận."
"Tôi đã nói hành động của tôi là vô thức cơ mà."
"Tôi không phải là nhà siêu hình học, tôi là người phục vụ khoa học — của thực tế. Anh được bảo là không được dịch chuyển lam kính. Anh đã dịch chuyển lam kính. Nếu đó không gọi là gian lận..."
Hill nói với giọng nghẹn ngào pha lẫn chút kích động thần kinh: "Nếu tôi là kẻ gian lận, đời nào tôi lại đến đây mà thú nhận chứ?"
Giáo sư Bindon nói: "Tất nhiên sự ăn năn của anh làm tôi ghi nhận, nhưng nó không làm thay đổi những sự thật ban đầu."
"Vâng, thưa ngài," Hill cúi đầu chịu đựng trong sự tự ti cùng cực.
"Ngay cả lúc này anh cũng gây ra một lượng rắc rối khổng lồ. Danh sách kết quả thi sẽ phải sửa đổi lại hết."
"Tôi đoán thế, thưa ngài."
"Đoán thế á? Dĩ nhiên là phải sửa lại rồi. Và tôi không hiểu làm thế nào mà mình lại có thể qua loa cho anh đậu được nữa."
Hill kêu lên: "Không cho tôi đậu ư? Đánh rớt tôi á?"
"Đó là quy tắc trong tất cả các kỳ thi. Nếu không thì chúng ta còn đứng ở đâu nữa? Chứ anh còn mong đợi cái gì khác chứ? Chẳng lẽ anh không muốn gánh chịu hậu quả từ chính những hành động của mình sao?"
Hill ngập ngừng: "Tôi tưởng, có lẽ..." rồi tiếp: "Đánh rớt tôi ư? Tôi tưởng, như tôi đã nói với ngài, ngài sẽ chỉ trừ đi số điểm dành cho cái lam kính đó thôi."
"Không thể nào!" Bindon phất tay. "Hơn nữa, làm thế thì anh ta vẫn đứng trên Wedderburn. Chỉ trừ điểm thôi á? Thật nực cười! Các quy định của Bộ đã quy định rõ ràng rằng..."
"Nhưng đây là sự tự thú của chính tôi cơ mà, thưa ngài."
"Các Quy định chẳng nói gì sất về cách thức mà sự việc bị phanh phui. Chúng chỉ quy định rằng..."
"Nó sẽ hủy hoại đời tôi mất. Nếu tôi rớt kỳ thi này, họ sẽ không gia hạn học bổng cho tôi đâu."
"Lẽ ra anh phải nghĩ đến điều đó trước chứ."
"Nhưng thưa ngài, hãy xem xét hoàn cảnh của tôi..."
"Tôi chẳng thể xem xét gì sất. Các giáo sư trong trường Cao đẳng này chỉ là những cỗ máy. Các Quy định thậm chí còn không cho phép chúng tôi đề cử sinh viên của mình vào các vị trí công tác. Tôi là một cỗ máy, và anh đã vận hành tôi. Tôi buộc phải làm..."
"Thật quá nhẫn tâm, thưa ngài."
"Có lẽ thế."
"Nếu tôi bị đánh rớt kỳ thi này, chắc tôi về quê quách cho rồi."
"Tùy anh thấy thế nào thì làm." Giọng Bindon dịu xuống đôi chút; ông nhận ra mình đã có phần bất công, và miễn là không mâu thuẫn với chính mình, ông cũng sẵn lòng cải thiện tình hình. Ông nói: "Xét trên tư cách cá nhân, tôi nghĩ lời thú nhận này của anh đã phần nào giảm nhẹ lỗi lầm rồi. Nhưng anh đã khởi động cỗ máy ấy lên, và giờ thì nó phải đi theo đúng tiến trình của nó. Tôi... tôi thực sự tiếc vì anh đã buông xuôi."
Một cơn sóng cảm xúc ngăn Hill lại không thể cất lời. Đột nhiên, vô cùng sống động, cậu nhìn thấy khuôn mặt hằn sâu nếp nhăn của ông thợ giày già ở Landport, cha cậu. Cậu thốt lên đầy giận dữ và đột ngột: "Lạy Chúa! Mình đúng là một thằng ngốc!"
Bindon nói: "Tôi hy vọng đó sẽ là một bài học cho anh."
Thế nhưng, kỳ lạ thay, họ lại chẳng hề nghĩ đến cùng một lỗi lầm.
Có một khoảng lặng.
Hill bước về phía cửa và nói: "Tôi muốn xin một suy nghĩ trong một ngày, thưa ngài, rồi tôi sẽ báo lại cho ngài — ý tôi là chuyện về quê ấy."
Ngày hôm sau, chỗ ngồi của Hill trống không. Cô gái đeo kính mặc đồ xanh, như thường lệ, là kẻ hớt hải mang tin tức đến đầu tiên. Wedderburn và cô Haysman đang bàn về một buổi biểu diễn vở Những bậc thầy ca xướng (The Meistersingers) thì cô ta bước tới chỗ họ.
Cô ta lên tiếng: "Hai người nghe tin gì chưa?"
Wedderburn hỏi: "Nghe tin gì cơ?"
"Có chuyện gian lận trong kỳ thi đấy."
Wedderburn giật nảy mặt, nóng bừng cả lên: "Gian lận! Sao cơ?"
"Cái lam kính ấy..."
"Dịch chuyển á? Không đời nào!"
"Có đấy. Cái lam kính mà chúng ta không được dịch chuyển ấy..."
Wedderburn gạt đi: "Vớ vẩn! Sao cơ chứ? Làm sao họ phát hiện ra được? Họ bảo ai làm...?"
"Chính là anh Hill."
"Hill á!"
"Anh Hill á!"
Wedderburn hoàn hồn lại, nói: "Không thể nào... chắc chắn không phải là một kẻ vô nhiễm như Hill chứ?"
Cô Haysman nói: "Tôi không tin đâu. Sao cô biết được?"
Cô gái đeo kính đáp: "Tôi đâu có biết. Nhưng giờ thì tôi biết chắc chắn rồi. Chính miệng anh Hill đã đến thú nhận với Giáo sư Bindon đấy."
Wedderburn thốt lên: "Trời đất quỷ thần ơi! Lại là Hill trong số tất cả mọi người cơ chứ. Nhưng tôi từ lâu đã luôn có xu hướng hoài nghi mấy cái thể loại nhà từ thiện theo nguyên tắc này rồi..."
Cô Haysman hỏi, giọng nghẹn lại: "Cô có chắc chắn không đấy?"
"Chắc chắn chứ. Ghê rợn thật đấy, phải không nào? Nhưng mà, cô biết đấy, anh ta vốn thế nào thì ra thế ấy thôi. Cha anh ta là thợ giày mà."
Khi ấy, cô Haysman đã khiến cô gái đeo kính phải sững sờ.
Cô đỏ bừng dưới làn da rám nắng ấm áp, quả quyết: "Tôi mặc kệ. Tôi sẽ không tin đâu. Tôi sẽ không đời nào tin cho đến khi chính miệng anh ấy nói với tôi điều đó — đối mặt trực tiếp. Mà cho dù lúc đó tôi cũng khó lòng mà tin nổi," rồi cô đột ngột quay lưng về phía cô gái đeo kính và bước thẳng về chỗ ngồi của mình.
Cô gái đeo kính vừa nhướng mắt nhìn theo vừa mỉm cười: "Dù sao thì đó cũng là sự thật."
Thế nhưng Wedderburn chẳng thèm đáp lại cô ta. Quả thực, cô ta đúng là một trong những kẻ sinh ra vốn dĩ chỉ để thốt ra những câu nói chẳng bao giờ nhận được lời hồi đáp.