Người thợ chính phụ trách ba cỗ máy phát điện đang kêu vo vo và lách cách ở Camberwell, chuyên cung cấp năng lượng cho tuyến đường sắt điện, là một người gốc Yorkshire tên là James Holroyd. Ông là một thợ điện thực thụ nhưng lại hảo rượu whisky, một kẻ cục mịch, tóc đỏ, răng khấp khểnh. Ông ta hoài nghi sự tồn tại của Chúa nhưng lại công nhận chu trình Carnot, từng đọc Shakespeare và thấy đại văn hào này kém về hóa học. Người phụ tá của ông ta đến từ phương Đông huyền bí, tên là Azuma-zi. Nhưng Holroyd gọi gã là Pooh-bah. Holroyd thích một gã phụ tá da đen vì gã chịu được những cú đá vốn là thói quen của hắn, lại không tò mò táy máy vào máy móc hay tìm hiểu cách thức vận hành của chúng. Những khả năng kỳ lạ tiềm ẩn trong tâm trí người da đen khi phải tiếp xúc đột ngột với đỉnh cao nền văn minh của chúng ta chưa bao giờ được Holroyd thấu hiểu trọn vẹn, dù cho tận đến phút cuối, hắn cũng láng mang lờ mờ nhận ra phần nào.
Việc định nghĩa Azuma-zi vượt quá tầm hiểu biết của nhân chủng học. Có lẽ gã giống người da đen hơn bất kỳ chủng tộc nào khác, dẫu cho tóc gã xoăn tít chứ không xù bông, và sóng mũi gã có sống cao. Hơn thế nữa, làn da gã ngăm nâu chứ không phải đen tuyền, còn lòng trắng mắt lại ngả vàng. Gò má rộng và chiếc cằm nhọn khiến khuôn mặt gã mang nét gì đó gợi liên tưởng đến chữ V của loài rắn độc. Đầu gã cũng bè ra ở phía sau, trong khi phần trán lại thấp và hẹp, tựa như bộ não đã bị vặn ngược chiều so với người châu Âu. Gã có vóc người thấp và vốn từ tiếng Anh còn thấp hơn thế. Trong giao tiếp, gã phát ra vô số âm thanh kỳ quặc chẳng có giá trị thương mại nào được biết đến, còn những từ ngữ thưa thớt của gã được đẽo gọt thành những hình thù kỳ dị mang phong cách huy hiệu. Holroyd từng cố tìm hiểu niềm tin tôn giáo của gã, và — nhất là sau khi đã uống rượu whisky — thường thuyết giảng cho gã nghe đả phá mê tín dị đoan và các nhà truyền giáo. Tuy nhiên, Azuma-zi luôn né tránh việc bàn luận về các vị thần của mình, dù cho gã có bị ăn đòn vì điều đó.
Azuma-zi đã đến London, khoác trên mình bộ y phục trắng nhưng thiếu thốn, bước ra từ hầm lò đốt than của con tàu Lord Clive, từ vùng Eo biển Mã Lai và những chốn xa xôi hơn thế. Ngay từ thời trẻ, gã đã nghe đồn về sự vĩ đại và giàu có của London, nơi tất cả phụ nữ đều trắng trẻo, xinh đẹp, thậm chí những kẻ ăn mày trên đường phố cũng trắng da, và gã đã đặt chân đến đây, với những đồng tiền vàng mới kiếm được trong túi, để hành hương tại chốn linh thiêng của văn minh. Ngày gã cập bến là một ngày ảm đạm; bầu trời xám xịt, một làn mưa lất phất bị gió quật tạt xuống những con đường nhơ nhớp mỡ dầu, nhưng gã vẫn lao đầu vào những chốn vui chơi của Shadwell, để rồi chẳng bao lâu sau lại dạt vào đây trong tình trạng sức khỏe tàn tạ, trang phục đã văn minh hơn, nhẵn túi, và — ngoại trừ những nhu cầu tối thiết nhất — gần như hóa thành một cỗ máy câm lặng, phải lao động vất vả cho James Holroyd và chịu đựng những trận hành hạ của hắn tại nhà xưởng máy phát ở Camberwell. Và đối với James Holroyd, việc ngược đãi người khác là một niềm vui thích khôn tả.
Ở Camberwell có ba cỗ máy phát điện gắn liền với động cơ của chúng. Hai cỗ máy đã có mặt ở đó từ thủa ban đầu là những cỗ máy nhỏ; chiếc lớn hơn thì mới hoàn toàn. Những cỗ máy nhỏ tạo ra tiếng ồn vừa phải; dây đai của chúng rít lên vo vo trên các tang trống, thỉnh thoảng chổi than lại xèo xèo đánh lửa, và không khí cứ thế bị khuấy đảo đều đặn, u.. u.. u.. giữa hai cực của chúng. Một cỗ máy bị lỏng bệ đỡ khiến cả gian xưởng rung bần bật. Thế nhưng cỗ máy phát điện lớn lại át hẳn những tiếng ồn nhỏ nhoi ấy bằng âm thanh trầm đục kéo dài từ lõi sắt của nó, thứ mà chẳng hiểu sao lại làm cho một phần kết cấu sắt thép ngân lên rền rĩ. Nơi đây khiến bất cứ vị khách nào ghé thăm cũng phải quay cuồng đầu óc bởi tiếng đập thình thịch, thình thịch, thình thịch của động cơ, tiếng quay của những chiếc bánh đà lớn, tiếng quay tít của các quả văng điều tốc, tiếng hơi nước xì ra thỉnh thoảng, và trùm lên tất cả là âm thanh trầm bổng, cuồn cuộn không dứt của cỗ máy khổng lồ. Tiếng ồn sau cùng này, xét từ góc độ kỹ thuật, là một điểm lỗi, nhưng Azuma-zi lại coi đó là minh chứng cho sự hùng mạnh và kiêu hãnh của quái vật sắt này.
Nếu có thể, chúng tôi ước gì âm thanh của gian xưởng ấy luôn vây quanh người đọc trong suốt quá trình thưởng thức, ước gì chúng tôi có thể kể toàn bộ câu chuyện của mình với thứ âm thanh đệm ấy. Đó là một dòng tiếng ồn liên tục, nơi tai người nghe có thể tách ra hết sợi âm thanh này đến sợi âm thanh khác; nào là tiếng khò khè, thở hồng hộc và sôi sục ngắt quãng của động cơ hơi nước, tiếng hút và đập thình lịch của pít-tông, tiếng đập u trầm vào không khí khi các nan hoa của những chiếc bánh đà lớn quay qua, âm thanh phát ra từ dây đai bằng da lúc căng lúc chùng, cùng với tiếng gầm thét đầy cáu kỉnh từ các cỗ máy phát điện; và trùm lên trên hết thảy, đôi khi chìm đi khi tai đã mỏi mệt rồi lại lẩn khuất bò về với các giác quan, chính là âm thanh tựa kèn trombone của cỗ máy lớn. Mặt sàn bên dưới chân không bao giờ có vẻ vững chãi và tĩnh lặng mà cứ rung lên bần bật và va đập lách cách. Đó là một nơi hỗn độn, bất ổn, đủ sức khiến tâm trí bất cứ ai bị giật cục thành những đường dích dắc kỳ quặc. Và suốt ba tháng, trong lúc cuộc đình chỉ công việc lớn của các kỹ sư diễn ra, Holroyd — kẻ phá rào đình công — và Azuma-zi — một kẻ da đen mạt hạng — chưa từng rời khỏi vòng xoáy náo động ấy, mà ăn ngủ ngay trong túp lều gỗ nhỏ nằm giữa nhà xưởng và cổng ra vào.
Holroyd đã giảng một bài thuyết giáo thần học lấy chủ đề từ cỗ máy lớn của hắn ngay sau khi Azuma-zi tới. Hắn phải hét lên mới mong người khác nghe thấy giữa tiếng ồn ào. "Nhìn cái đó đi," Holroyd nói; "thần tượng ngoại đạo của mày đâu mà bì được với ngài ấy?" Và Azuma-zi nhìn theo. Trong khoảnh khắc, giọng Holroyd bị tiếng ồn lấn át, rồi Azuma-zi nghe thấy: "Giết một trăm mạng người. Lợi nhuận mười hai phần trăm trên cổ phiếu phổ thông," Holroyd nói, "và thế mới đáng mặt một vị Thần chứ lỵ."
Holroyd rất đỗi tự hào về cỗ máy phát điện lớn của mình, hắn hết lời ca tụng kích thước và uy lực của nó cho Azuma-zi nghe, cho đến khi Chúa mới biết những luồng tư tưởng kỳ dị nào đã được nhen nhóm bên trong cái đầu sọ đen xoăn tít ấy bởi cỗ máy và tiếng gầm rú quay cuồng không dứt. Hắn sẽ giải thích bằng cách sinh động nhất khoảng chục cách mà một người có thể bị giết bởi cỗ máy này, và có lần hắn đã cho Azuma-zi nếm thử một cú giật điện như một mẫu thử về đẳng cấp của nó. Kể từ đó, trong những khoảng thời gian nghỉ ngơi giữa giờ làm việc — vốn là những công việc nặng nhọc, gánh vác phần của chính mình lẫn phần lớn của Holroyd — Azuma-zi thường ngồi ngắm nghía cỗ máy lớn. Thỉnh thoảng, chổi than lại lóe sáng và tóe ra những tia lửa xanh, khiến Holroyd phải chửi thề, nhưng tất cả phần còn lại đều mượt mà và nhịp nhàng như một nhịp thở. Băng tải chạy rít lên qua trục quay, và bất cứ lúc nào người ta đứng ngắm, phía sau lưng vẫn là tiếng pít-tông đập đều đặn đầy thỏa mãn. Cứ thế, nó sống suốt cả ngày trong gian xưởng rộng thoáng này, cùng với hắn và Holroyd hầu hạ bên cạnh; không bị giam cầm và nô lệ để đẩy tàu thuyền như những cỗ động cơ khác mà hắn từng biết — vốn chỉ là những con quỷ bị giam cầm của chúa Solomon xứ Anh — mà là một cỗ máy được tôn lên ngai vàng. Hai cỗ máy phát điện nhỏ hơn thì bị Azuma-zi coi thường do sự tương phản rõ rệt; còn chiếc lớn thì được hắn thầm phong cho cái tên Chúa tể của những cỗ máy điện. Chúng thì cáu kỉnh và thất thường, nhưng cỗ máy lớn thì vô cùng vững chãi. Nó vĩ đại làm sao! Hoạt động mới thanh thản và nhẹ nhàng làm sao! Thậm chí còn vĩ đại và điềm tĩnh hơn cả những bức tượng Phật mà hắn từng thấy ở Rangoon, mà lại không hề bất động, mà có sự sống! Những cuộn dây đen lớn cứ quay, quay, quay, các vòng khuyên chuyển động bên dưới chổi than, và âm thanh trầm vang từ cuộn dây của nó đã trấn an toàn bộ không gian. Nó tác động đến Azuma-zi một cách kỳ lạ.
Azuma-zi vốn không thích lao động. Hắn thường ngồi thừ ra ngắm nhìn Chúa tể của những cỗ máy điện trong lúc Holroyd bỏ đi tìm gã gác cổng để xin rượu whisky, mặc dù vị trí đúng ra của hắn không phải ở trong xưởng máy phát mà là đằng sau các động cơ, và hơn thế nữa, nếu bị Holroyd bắt gặp khi đang trốn việc, hắn sẽ bị đánh nhừ tử bằng một thanh đồng dày. Hắn sẽ đến đứng sát bên cỗ đại tượng ấy, ngẩng đầu nhìn dải băng da lớn đang chạy vắt vẻo trên đầu. Trên dải băng có một vết đen cứ quay vòng tròn, và giữa muôn vàn tiếng đinh tai nhức óc, hắn lại cảm thấy thích thú khi được ngắm nhìn vết tích ấy lặp đi lặp lại. Những ý nghĩ kỳ quặc cứ xoay tròn theo vòng quay của nó. Các nhà khoa học bảo rằng những kẻ dã man thường gán linh hồn cho đá và cây — và một cỗ máy thì có sức sống lớn gấp ngàn lần một hòn đá hay một cái cây. Và Azuma-zi thực ra vẫn là một kẻ dã man; lớp sơn vỏ bọc văn minh chẳng thấm sâu hơn bộ đồ bảo hộ lao động, những vết thâm tím, và lớp nhọ than trên mặt cùng đôi tay gã. Cha của gã trước kia từng tôn sùng một hòn đá thiên thạch, và biết đâu đấy, dòng máu có họ hàng ấy từng vấy máu lên những chiếc bánh xe khổng lồ của thần Juggernaut.
Hắn tận dụng mọi cơ hội mà Holroyd tạo ra để được chạm và sờ vào cỗ máy phát điện vĩ đại đang làm mình say mê. Hắn lau chùi và đánh bóng nó cho đến khi các bộ phận kim loại chói lọi dưới ánh mặt trời. Hắn cảm nhận được một thứ ý nghĩa phục tùng huyền bí khi làm việc này. Hắn sẽ tiến lại gần và nhẹ nhàng chạm vào những cuộn dây đang quay của nó. Những vị thần mà hắn từng tôn thờ đều đã ở tận phương xa. Người dân ở London thì giấu kín các vị thần của họ.
Cuối cùng, những cảm giác mơ hồ của gã dần trở nên rõ ràng hơn, hình thành nên những suy nghĩ, và rồi bộc lộ thành hành động. Khi bước vào gian xưởng đang gầm rú vào một buổi sáng nọ, hắn cúi đầu vái chào Chúa tể của những cỗ máy điện, rồi tranh thủ lúc Holroyd vắng mặt, hắn bước lại gần thầm thì với cỗ máy đang gầm thét rằng mình là tôi tớ của nó, cầu xin nó rủ lòng thương xót và cứu hắn khỏi tay Holroyd. Ngay lúc đó, một tia sáng hiếm hoi chiếu vào từ vòm cửa mở rộng của gian xưởng máy móc đang rung chuyển, và Chúa tể của những cỗ máy điện, trong lúc xoay tròn và gầm rú, rực rỡ một thứ ánh vàng nhạt. Khi ấy, Azuma-zi hiểu rằng sự phục tùng của mình đã được Chúa tể chấp nhận. Kể từ đó, hắn không còn cảm thấy cô đơn như trước nữa, mà thực ra hắn đã từng rất cô đơn ở London. Và ngay cả khi giờ làm việc đã kết thúc, vốn là chuyện hiếm hoi, hắn vẫn lảng vảng quanh gian xưởng.
Rồi đến lần tiếp theo Holroyd hành hạ hắn, Azuma-zi liền bước ngay đến chỗ Chúa tể của những cỗ máy điện và thì thầm: "Ngài thấy đấy, hỡi Chúa tể của con!" và tiếng vo vo giận dữ của máy móc dường như đã đáp lời hắn. Kể từ đó, hắn có cảm giác rằng mỗi khi Holroyd bước vào xưởng, âm thanh của cỗ máy phát điện lại mang một âm điệu khác hẳn. "Chúa tể của ta đang chờ thời," Azuma-zi tự nhủ trong lòng. "Tội ác của tên ngốc này hãy còn chưa chín muồi." Và hắn kiên nhẫn chờ đợi, ngóng trông ngày thanh toán. Một ngày nọ, có dấu hiệu đoản mạch xảy ra, và Holroyd, khi đang bất cẩn kiểm tra — lúc đó là buổi chiều — đã phải chịu một cú giật khá nặng. Azuma-zi đứng phía sau động cơ nhìn hắn nhảy dựng lên và chửi rủa cuộn dây tội lỗi.
"Hắn đã được cảnh báo," Azuma-zi tự nhủ. "Quả nhiên Chúa tể của ta rất đỗi kiên nhẫn."
Lúc đầu, Holroyd đã truyền cho "tên da đen" của mình những khái niệm sơ đẳng về cách vận hành của cỗ máy phát điện để hắn có thể tạm thời trông coi xưởng trong lúc vắng mặt. Nhưng khi nhận thấy thái độ Azuma-zi cứ lảng vảng quanh con quái vật ấy, hắn bắt đầu đâm nghi ngờ. Hắn lờ mờ nhận ra người phụ tá của mình đang "giở trò gì đây", và liên kết gã với việc thoa dầu vào các cuộn dây khiến lớp sơn cách điện ở một chỗ bị mục rữa, hắn liền ban hành một sắc lệnh, thét lên át cả tiếng ồn của máy móc: "Đừng có bén mảng tới gần cái cỗ máy phát điện lớn đó nữa, Pooh-bah, nếu không ông mày lột da mày ra đấy!" Thêm nữa, nếu Azuma-zi thích bén mảng gần cỗ máy lớn thì việc giữ gã tránh xa nó là một lẽ phải và sự đường hoàng hiển nhiên.
Lúc đó Azuma-zi vâng lời, nhưng sau đó hắn lại bị bắt quả tang đang quỳ lạy trước Chúa tể của những cỗ máy điện. Ngay lập tức, Holroyd vặn tay hắn và đá vào người hắn khi hắn quay lưng bước đi. Khi Azuma-zi đứng nấp sau động cơ và trừng trừng nhìn vào tấm lưng đáng ghét của Holroyd, những âm thanh của máy móc bỗng chuyển sang một nhịp điệu mới, nghe tựa như bốn từ bằng tiếng mẹ đẻ của hắn.
Thật khó để nói chính xác sự điên loạn là gì. Tôi mường tượng rằng Azuma-zi lúc ấy đã phát điên. Tiếng ồn ào và sự quay cuồng không dứt của gian xưởng máy phát có lẽ đã khuấy động kho tàng hiểu biết ít ỏi cùng kho tàng tưởng tượng mê tín khổng lồ của gã, cuối cùng biến thành một trạng thái gần như cuồng loạn. Dù thế nào đi nữa, khi ý định biến Holroyd thành vật tế dâng lên Thần linh Cỗ máy được gợi lên trong đầu, nó đã lấp đầy tâm trí gã bằng một niềm xúc cảm hỗn độn đầy hoan hỉ.
Đêm hôm đó, hai người đàn ông và những cái bóng đen của họ chỉ có một mình trong gian xưởng. Xưởng được thắp sáng bằng một ngọn đèn hồ quang lớn cứ chớp nháy và lóe lên thứ ánh sáng màu tím. Những cái bóng đổ đen sì đằng sau các cỗ máy phát điện, các quả văng điều tốc của động cơ quay tít từ vùng sáng sang vùng tối, và những chiếc pít-tông của chúng đập thình thịch đều đặn. Thế giới bên ngoài nhìn qua khung cửa mở của xưởng trông mờ ảo và xa xôi đến khó tin. Nó cũng hoàn toàn tĩnh lặng, bởi sự náo động của máy móc đã lấn át mọi âm thanh bên ngoài. Phía xa xa là hàng rào đen của bãi đất với những ngôi nhà xám xịt ẩn hiện phía sau, và bên trên là bầu trời xanh thẳm cùng những vì sao nhỏ nhợt nhạt. Azuma-zi bất ngờ bước ngang qua trung tâm gian xưởng nơi những dải băng da đang chạy vắt vẻo, và đi vào phần bóng tối cạnh cỗ máy phát điện lớn. Holroyd nghe thấy một tiếng cách, và vòng quay của phần ứng thay đổi.
Mày đang làm cái quái gì với cái công tắc thế?" hắn ngạc nhiên quát lớn. "Tao đã bảo mày là——"
Rồi hắn nhìn thấy vẻ mặt kiên định trong đôi mắt Azuma-zi khi gã người châu Á từ trong bóng tối bước về phía mình.
Ngay khoảnh khắc tiếp theo, hai người đàn ông lao vào ôm lấy nhau vật lộn dữ dội ngay trước cỗ máy phát điện khổng lồ.
Cái đồ đầu cà phê ngu ngốc này!" Holroyd thở hổn hển, một bàn tay nâu siết chặt lấy cổ họng gã. "Tránh xa mấy cái vòng tiếp điện đó ra." Chỉ một khoảnh khắc sau, hắn bị gạt chân và lảo đảo ngã ngửa về phía Chúa tể của những cỗ máy điện. Theo bản năng, hắn nới lỏng tay đang kìm kẹp đối thủ để tự cứu mình khỏi cỗ máy.
Người đưa tin được phái đến trong sự hốt hoảng từ trạm điều hành để tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra trong xưởng máy phát đã gặp Azuma-zi tại nhà gác cổng ngay lối ra vào. Azuma-zi cố giải thích điều gì đó, nhưng người đưa tin chẳng thể hiểu nổi thứ tiếng Anh ngọng ngịu của kẻ da đen, liền vội vã chạy thẳng vào xưởng. Các cỗ máy vẫn đang hoạt động ầm ầm và không có vẻ gì là bị xáo trộn. Tuy nhiên, lại có một mùi kỳ lạ của tóc cháy khét. Rồi hắn nhìn thấy một khối nhàu nát kỳ dị đang bám vào mặt trước của cỗ máy phát điện lớn, và khi đến gần, hắn bàng hoàng nhận ra đó là tàn tích biến dạng của Holroyd.
Gã đàn ông trân trân nhìn và chần chừ trong giây lát. Rồi hắn nhìn thấy khuôn mặt ấy, và nhắm nghiền đôi mắt lại vì sợ hãi. Hắn quay gót trước khi mở mắt ra để không phải nhìn thấy Holroyd lần nữa, rồi chạy khỏi gian xưởng để tìm kiếm sự trợ giúp và lời khuyên.
Khi chứng kiến Holroyd chết trong cái ôm siết của Cỗ máy Vĩ đại, Azuma-zi từng có chút hoảng sợ về hậu quả từ hành động của mình. Thế nhưng gã lại cảm thấy vô cùng phấn khích, và biết rằng ân huệ của Chúa tể Cỗ máy đang ở bên mình. Kế hoạch của gã đã được định đoạt từ trước khi chạm mặt người đàn ông chạy đến từ trạm điều hành, và vị quản lý kỹ thuật nhanh chóng có mặt tại hiện trường đã vội vàng kết luận ngay rằng đó là một vụ tự sát. Vị chuyên gia này hầu như chẳng để ý đến Azuma-zi, ngoại trừ việc đặt vài câu hỏi. Gã có thấy Holroyd tự sát không? Azuma-zi giải thích rằng hắn đứng khuất tầm nhìn ở lò đốt động cơ cho đến khi nghe thấy sự khác biệt trong tiếng ồn phát ra từ cỗ máy phát điện. Đó không phải là một cuộc thẩm vấn khó khăn, bởi nó hoàn toàn không bị vấy bẩn bởi sự nghi ngờ.
Tàn tích biến dạng của Holroyd, được người thợ điện gỡ ra khỏi cỗ máy, nhanh chóng được người gác cổng phủ lên một chiếc khăn trải bàn vấy bẩn màu cà phê. Ai đó, với một ý tưởng lóe lên thật may mắn, đã đi gọi bác sĩ. Vị chuyên gia chủ yếu sốt sắng muốn khởi động lại cỗ máy, bởi vì bảy hoặc tám đoàn tàu đã phải dừng lại giữa chừng trong những đường hầm ngột ngạt của tuyến đường sắt điện. Azuma-zi, khi đang trả lời hoặc hiểu lầm những câu hỏi từ những kẻ vì có thẩm quyền hay vì mặt dày mà xông vào xưởng, liền bị vị quản lý kỹ thuật tống cổ trở lại hầm lò đốt than. Tất nhiên là một đám đông đã tụ tập bên ngoài cổng xưởng — một đám đông chẳng vì lý do gì cụ thể, vẫn luôn vạ vật quanh hiện trường một cái chết bất đắc kỳ tử ở London trong suốt một hoặc hai ngày — hai hoặc ba phóng viên đã lách được vào trong xưởng động cơ, và thậm chí một người còn tiếp cận được Azuma-zi; nhưng vị chuyên gia kỹ thuật đã đuổi tống họ ra ngoài, bởi bản thân hắn cũng là một nhà báo nghiệp dư.
Chẳng mấy chốc cái thi thể đã được khiêng đi, và sự quan tâm của công chúng cũng trôi tuột theo nó. Azuma-zi vẫn lặng lẽ làm việc bên lò đốt của mình, trong những hòn than hồng, hắn cứ nhìn thấy hết lần này đến lần khác hình ảnh một bóng người quằn quại dữ dội rồi trở nên bất động. Chỉ một giờ sau vụ án mạng, bất cứ ai bước vào xưởng trông vào sẽ thấy mọi thứ y như thể chưa từng có chuyện gì bất thường xảy ra ở chốn này. Thò đầu ngó ra từ phòng động cơ, kẻ da đen nhìn thấy Chúa tể Cỗ máy đang xoay tít và gầm rú bên cạnh những người anh em nhỏ bé của mình, những chiếc bánh đà vẫn đang quay đều, và pít-tông hơi nước lại đập thình thịch, thình thịch, y như lúc đầu buổi tối. Xét cho cùng, từ góc độ cơ khí, đó chỉ là một sự cố vô cùng nhỏ nhặt — chỉ là sự lệch pha tạm thời của một dòng điện. Thế nhưng giờ đây, dáng người thanh mảnh và cái bóng gầy gò của vị quản lý kỹ thuật đã thay thế cho vóc dáng vạm vỡ của Holroyd, đi lại dọc theo lối đi ngập tràn ánh sáng trên mặt sàn rung chuyển dưới những dải băng tải nằm giữa các động cơ và cỗ máy phát điện.
"Ta đã chẳng phụng sự Chúa tể của mình đó sao?" Azuma-zi thì thầm không thành tiếng từ trong bóng tối của mình, và tiếng vang của cỗ máy phát điện lớn vang lên đầy đặn và trong trẻo. Khi nhìn vào cỗ máy quay cuồng khổng lồ ấy, thứ ma lực kỳ lạ từng có lúc lắng xuống sau cái chết của Holroyd nay lại trỗi dậy thống trị tâm trí hắn.
Chưa bao giờ Azuma-zi chứng kiến một cái chết nào diễn ra nhanh chóng và nhẫn tâm đến thế. Cỗ máy lớn đang gầm rú đã tước đoạt mạng sống nạn nhân mà không hề chần chừ dù chỉ một giây trước nhịp đập đều đặn của nó. Quả thực đó là một vị thần hùng mạnh.
Vị quản lý kỹ thuật vô tình đứng quay lưng về phía hắn, đang hí hoáy viết lấp lánh lên một mảnh giấy. Cái bóng của hắn nằm dài dưới chân con quái vật.
Phải chăng Chúa tể Cỗ máy vẫn còn đang đói? Kẻ bề tôi của ngài đã sẵn sàng.
Azuma-zi bước tới một bước thật rón rén; rồi khựng lại. Vị quản lý kỹ thuật đột ngột dừng viết, đi dọc gian xưởng đến tận cỗ máy phát điện ở góc trong cùng, và bắt đầu kiểm tra chổi than.
Azuma-zi chần chừ, rồi lặng lẽ trượt qua vùng bóng tối đứng cạnh chiếc công tắc. Hắn chờ đợi ở đó. Chẳng mấy chốc, tiếng bước chân quay lại của vị quản lý vang lên. Ông ta dừng lại ở vị trí cũ, hoàn toàn không hay biết về kẻ đốt lò đang rình mò cách mình chừng mười bước chân. Thế rồi cỗ máy phát điện lớn bất thình lình xèo xèo tóe lửa, và chỉ một khoảnh khắc sau, Azuma-zi đã lao từ trong bóng tối bổ nhào vào ông ta.
Đầu tiên, vị quản lý kỹ thuật bị ôm trùm lấy thân người và quăng về phía cỗ máy phát điện lớn, đoạn ông ta liền tung gối đá trả và dùng tay ấn đầu kẻ tấn công xuống, gỡ bỏ vòng kìm kẹp ở eo rồi xoay người văng ra xa cỗ máy. Kế đó, gã da đen lại chồm tới tóm lấy ông, áp cái đầu xoăn tít vào ngực đối phương, và cả hai cứ thế giằng co, thở hổn hển đến là lâu. Rồi vị quản lý kỹ thuật bị dồn vào thế phải cắn phập vào một bên tai đen bằng răng và điên cuồng cắn xé. Gã da đen thét lên một tiếng kinh hoàng.
Cả hai lăn nhào xuống sàn nhà, và kẻ da đen — kẻ dường như đã tuột khỏi gọng kìm của hàm răng hoặc đã bịứt mất một bên tai, vị quản lý kỹ thuật tự hỏi không biết là đằng nào — liền tìm cách bóp cổ ông. Vị quản lý kỹ thuật đang cố gắng vô vọng dùng tay cào cấu một thứ gì đó và tung chân đá, thì một tiếng bước chân dồn dập vang lên đầy hoan hỉ trên mặt sàn. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, Azuma-zi đã buông ông ra và lao vút về phía cỗ máy phát điện lớn. Có tiếng xèo xèo bắn tóe giữa tiếng gầm rú.
Nhân viên của công ty vừa bước vào đứng trân trân nhìn khi Azuma-zi chộp lấy hai đầu cực trần trụi bằng đôi tay mình, quằn quại một cách hãi hùng rồi treo lơ lửng bất động trên cỗ máy, khuôn mặt biến dạng dữ dội.
"Tôi thực sự rất mừng vì anh đã vào đây đúng lúc," vị quản lý kỹ thuật nói, vẫn đang ngồi bệt dưới sàn.
Ông nhìn chằm chằm vào thân hình hãy còn đang co giật. "Đó có lẽ không phải là một cái chết dễ chịu gì cho cam — nhưng nó diễn ra rất nhanh."
Viên chức kia vẫn đang trân trân nhìn cái xác. Ông ta vốn là kẻ chậm tiêu.
Có một khoảng lặng trôi qua.
Vị quản lý kỹ thuật lồm cồm đứng dậy với vẻ khá vụng về. Ông đưa những ngón tay mân mê cổ áo với vẻ đăm chiêu, rồi ngoái đầu qua lại vài lần.
Khổ thân Holroyd! Giờ thì tôi hiểu rồi." Sau đó, gần như theo một phản xạ máy móc, ông tiến về phía chiếc công tắc nằm trong góc tối và gạt dòng điện quay trở lại mạch đường sắt. Vừa lúc ấy, cái xác cháy xém liền nới lỏng cái ôm bám vào cỗ máy và ngã chúi người về phía trước. Lõi của cỗ máy phát điện gầm lên đầy dõng dạc và trong trẻo, phần ứng bắt đầu quạt gió ào ào.
Cứ thế, sự sùng bái Thần linh Cỗ máy đã kết thúc một cách yểu mệnh, có lẽ là tôn giáo có tuổi thọ ngắn ngủi nhất trong tất cả. Thế nhưng dẫu vậy, ít nhất nó cũng có thể kiêu hãnh tự hào về một Cuộc Tử đạo và một Vụ Hy sinh bằng Mạng người.