Xứ Sở Của Những Kẻ Mù Và Những Câu Chuyện Khác

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ix. — Con Bướm Đêm.

❊ ❊ ❊

Có lẽ bạn đã từng nghe về Hapley — không phải W. T. Hapley người con, mà là Hapley lừng danh, vị Hapley của bộ Periplaneta Hapliia, Hapley nhà côn trùng học.

Nếu vậy, chí ít bạn cũng biết về mối thâm thù đại hận giữa Hapley và Giáo sư Pawkins, dẫu rằng một vài hệ lụy của nó có thể hãy còn mới mẻ với bạn. Còn đối với những ai chưa biết, dăm lời giải thích là điều thiết yếu, mà vị độc giả nhàn rỗi nào nếu có lòng hờ hững có thể lướt qua bằng một ánh nhìn phớt lờ.

Thật kỳ lạ thay khi sự thiếu hiểu biết về những vấn đề thực sự quan trọng như cuộc tỵ hiềm giữa Hapley và Pawkins lại phổ biến đến thế. Những cuộc tranh luận mang tính bước ngoặt từng làm rung chuyển Hiệp hội Địa chất ấy, tôi thực lòng tin là, hầu như hoàn toàn chìm vào quên lãng đối với những ai đứng ngoài hội viên của tổ chức đó. Tôi từng nghe những người có học thức phổ thông đàng hoàng thậm chí còn gọi những đại cảnh trong các buổi họp ấy chẳng khác nào mấy cuộc cãi vã ở phòng họp phường. Thế nhưng, mối câm hờn sâu sắc giữa các nhà địa chất Anh và Xốt-len nay đã kéo dài nửa thế kỷ, và đã "để lại những dấu ấn sâu đậm cùng muôn vàn vết tích trên thân thể của ngành khoa học này." Và câu chuyện Hapley-Pawkins này, dẫu có lẽ là một vấn đề mang tính cá nhân nhiều hơn, cũng đã khơi sục những niềm đam mê sâu sắc chẳng kém, nếu không muốn nói là sâu sắc hơn nhiều. Người đời thường chẳng thể nào hình dung nổi nhiệt huyết sục sôi trong lòng một nhà khảo cứu khoa học, hay cơn cuồng nộ của sự bất đồng mà bạn có thể khơi dậy ở họ. Đó chính là thứ hận thù thần học dưới một diện mạo hoàn toàn mới. Chẳng hạn, có những kẻ sẵn sàng vui lòng thiêu sống Giáo sư Ray Lankester tại Smithfield chỉ vì cách ông xử lý nhóm động vật thân mềm trong bộ bách khoa toàn thư. Sự mở rộng kỳ quái đó của loài Chân đầu nhằm bao trùm cả loài Chân cánh... Nhưng tôi lại lan man khỏi chuyện của Hapley và Pawkins rồi.

Mọi chuyện bắt đầu từ rất nhiều năm về trước, với một bản tu chỉnh về loài Vi vảy cánh (Microlepidoptera) (dù đám này là gì đi nữa) do Pawkins thực hiện, trong đó ông đã xo sổ một loài mới do chính Hapley phát hiện. Hapley vốn là kẻ hay gây sự, liền đáp trả bằng một bài chỉ trích cay độc nhằm vào toàn bộ hệ thống phân loại của Pawkins.[A] Trong bài "Phản hồi",[B] Pawkins ám chỉ rằng kính hiển vi của Hapley cũng tồi tệ kém cỏi y như năng lực quan sát của hắn, đồng thời gọi hắn là một " kẻ xía vào chuyện bao đồng vô trách nhiệm" — buổi ấy Hapley hãy còn chưa giữ chức giáo sư. Trong lời đáp trả của mình,[C] Hapley đả động đến những "gã sưu tầm lôm côm", và miêu tả bản tu chỉnh của Pawkins, tựa hồ như sơ ý, là một "kỳ quan của sự đần độn". Đó là một cuộc chiến một mất một còn. Dẫu vậy, việc kể lặt vặt về chuyện hai bậc vĩ nhân ấy đã cãi cọ ra sao, và mối rạn nứt giữa họ đã nới rộng đến mức nào — từ chỗ tranh chấp về loài Vi vảy cánh cho đến khi đối đầu nhau trong mọi vấn đề còn bỏ ngỏ của ngành côn trùng học — phỏng có ích gì khi thu hút sự chú ý của độc giả. Đã có những dịp ghi dấu khó quên. Có những lúc các buổi họp của Hiệp hội Côn trùng học Hoàng gia trông chẳng khác nào một phiên họp tại Hạ viện. Nhìn chung, tôi cho rằng Pawkins có phần sát với chân lý hơn Hapley. Nhưng Hapley lại rất tài tình trong nghệ thuật hùng biện, có khiếu trào phúng hiếm thấy ở một nhà khoa học, được phú cho một nguồn sinh lực dồi dào, cùng một nỗi nhức nhối sâu sắc về vụ loài vật của mình bị xóa sổ; trong khi Pawkins lại là một kẻ có vẻ ngoài tẻ nhạt, ăn nói dài dòng văn tự, vóc dáng trông chẳng khác nào một cái thùng đựng nước, quá mức câu nệ vào những bức thư tín khen ngợi, lại còn bị nghi ngờ là có hành vi trục lợi trong việc phân bổ các chức vụ ở viện bảo hiểm. Thế là đám thanh niên tụ tập quanh Hapley và tung hô hắn. Đó là một cuộc đấu tranh trường kỳ, đầy ác ý ngay từ thuở ban đầu và cuối cùng leo thang thành một mối thù địch nhẫn tâm. Những bước thăng trầm của vận mệnh, khi thì nghiêng về bên này lúc lại ngả sang bên kia — lúc thì Hapley bị dằn vặt bởi một thành công nào đó của Pawkins, khi thì Pawkins bị Hapley lấn át — xét cho cùng thuộc về lịch sử ngành côn trùng học hơn là câu chuyện này.

[A] "Nhận xét về một bản tu chỉnh gần đây về loài Vi vảy cánh." Tạp chí Quý san Hiệp hội Côn trùng học, 1863.

[B] "Lời phản hồi đối với một số nhận xét", v.v. Sđd, 1864.

[C] "Những nhận xét xa hơn", v.v. Sđd.

Thế nhưng vào năm 1891, Pawkins — người vốn mang sức khỏe kém từ một dạo trước — đã cho xuất bản một công trình nghiên cứu về "tấm phôi giữa" (mesoblast) của loài bướm Đầu lâu (Death'S Head Moth). Tấm phôi giữa của loài bướm Đầu lâu ấy là cái thá gì đi nữa thì cũng chẳng mảy may quan trọng trong câu chuyện này. Nhưng công trình đó lại kém xa tiêu chuẩn thường thấy của ông, và điều này đã tạo cho Hapley một kẽ hở mà hắn đã thèm khát từ nhiều năm nay. Chắc hẳn hắn đã phải làm việc ngày đêm để tận dụng triệt để lợi thế ấy.

Trong một bài bình luận cực kỳ công phu, hắn đã xé nát Pawkins ra thành từng mảnh — người ta có thể mường tượng ra mái tóc đen bù xù của con người ấy, cùng đôi mắt đen kỳ lạ lóe lên vẻ hung hãn khi hắn lao vào đối thủ của mình — và Pawkins đã đưa ra một lời phản hồi vừa ngập ngừng, bất thành, với những khoảng lặng đầy đau đớn, lại vừa đầy ác ý. Không thể nhầm lẫn được mong muốn vằn xé Hapley của ông, cũng như sự bất lực trong việc thực hiện điều đó. Nhưng ít ai trong số những kẻ lắng nghe ông lúc bấy giờ — tôi không có mặt trong buổi họp đó — lại nhận thức được rằng người đàn ông ấy đang lâm bệnh nặng nhường nào.

Hapley đã quật ngã được đối thủ của mình, và hắn nhắm đến việc tung đòn chí mạng kết liễu ông. Hắn bồi tiếp bằng một bài luận đơn thuần tàn nhẫn giáng vào Pawkins, dưới hình thức một bài viết về sự phát triển của loài bướm nói chung, một bài viết phô bày minh chứng về một lượng lao động trí óc phi thường đến cùng cực, thế nhưng lại được viết bằng một giọng điệu tranh cãi vô cùng dữ dội. Dù dữ dội là thế, một lời chú thích của biên tập viên làm chứng rằng nó đã được giảm bớt đi phần nào. Bài viết ấy chắc hẳn đã vùi lấp Pawkins trong sự hổ thẹn và bẽ bàng tột độ. Nó không chừa lại một lối thoát nào; nó mang tính sát thương tột cùng trong lập luận, và mang giọng điệu khinh miệt đến cùng cực; quả là một đòn giáng khủng khiếp cho những năm tháng hoàng hôn trong sự nghiệp của một đời người.

Giới côn trùng học nín thở chờ đợi lời phản hồi từ phía Pawkins. Chắc chắn ông sẽ tung ra một đòn đáp trả, bởi Pawkins vốn dĩ chưa từng chịu khuất phục. Nhưng khi nó xuất hiện, nó lại khiến họ ngỡ ngàng. Bởi vì cách phản hồi của Pawkins là mắc bệnh cúm, chuyển sang viêm phổi, rồi qua đời.

Đó có lẽ là một lời đáp trả hiệu quả nhất mà ông có thể đưa ra trong hoàn cảnh ấy, và nó đã phần lớn chuyển dịch luồng dư luận chống lại Hapley. Chính những kẻ từng hào hứng hò reo cổ vũ cho hai vị đấu sĩ ấy nay lại trở nên nghiêm nghị trước hậu quả vừa xảy ra. Chẳng còn nghi ngờ gì hợp lý nữa rằng nỗi bực bội vì thất bại đã góp phần đẩy Pawkins đến cái chết. Sẽ phải có một giới hạn ngay cả với những cuộc tranh luận khoa học, những con người nghiêm túc lên tiếng. Một cuộc tấn công nghiền nát khác đã sẵn sàng nằm trong nhà in và được phát hành vào đúng cái ngày trước tang lễ. Tôi không cho rằng Hapley đã nhọc công tìm cách ngăn chặn nó lại. Người ta nhớ đến cách Hapley đã săn đuổi ráo riết đối thủ của mình đến đường cùng, và quên đi những khiếm khuyết của người đối nghịch ấy. Những lời châm biếm cay độc đọc lên nghe thật chói tai trên phần mộ hãy còn đất mới. Sự việc đã châm ngòi cho những lời bàn tán trên các trang báo hằng ngày. Chính điều này đã khiến tôi nghĩ rằng có lẽ bạn đã từng nghe về Hapley và cuộc tranh cãi này. Thế nhưng, như tôi đã từng lưu ý, những người làm công tác khoa học sống trong một thế giới hoàn toàn thuộc về riêng họ; tôi dám chắc rằng một nửa số người đi dọc theo phố Piccadilly đến Viện Hàn lâm mỗi năm, thậm chí còn chẳng thể chỉ cho bạn biết các hội đồng khoa học uyên bác ấy ngự trị ở nơi nào. Nhiều người thậm chí còn tưởng rằng công cuộc khảo cứu chẳng qua là một chiếc lồng gia đình hạnh phúc, nơi mọi thành phần người đều cùng nhau chung sống trong hòa bình.

Trong những suy nghĩ thầm kín của mình, Hapley không thể tha thứ cho Pawkins vì tội dám chết. Trước hết, đó là một ngón đòn bần tiện nhằm trốn tránh nhát búa nghiền nát hoàn toàn mà Hapley đang chuẩn bị giáng xuống đầu ông, và thứ hai, nó để lại trong tâm trí Hapley một khoảng trống kỳ lạ. Suốt hai mươi năm trời, hắn đã làm việc cật lực, đôi khi kéo dài đến tận đêm khuya, bảy ngày một tuần, với kính hiển vi, dao mổ, vợt bắt côn trùng và ngòi bút, và hầu như toàn bộ đều xoay quanh Pawkins. Danh tiếng lẫy lừng khắp châu Âu mà hắn giành được suy cho cùng chỉ như một hệ quả phụ trong mối thâm thù vĩ đại ấy. Hắn đã dần đẩy mọi thứ lên đến cao trào trong cuộc tranh luận cuối cùng này. Nó đã giết chết Pawkins, nhưng đồng thời cũng khiến Hapley như bị trật bánh, và bác sĩ của hắn đã khuyên hắn nên gác lại công việc trong một thời gian để nghỉ ngơi. Thế là Hapley lui về một ngôi làng yên ả ở hạt Kent, ngày đêm tơ tưởng về Pawkins, cùng những lời hay ý đẹp mà giờ đây hắn chẳng còn cách nào thốt ra về ông được nữa.

Cuối cùng Hapley bắt đầu nhận thức được tâm trí mình đang bị ám ảnh bởi hướng đi nào. Hắn quyết tâm chiến đấu lại điều đó, và khởi đầu bằng việc cố gắng đọc tiểu thuyết. Nhưng hắn chẳng tài nào dứt bỏ tâm trí khỏi hình bóng Pawkins với khuôn mặt tái mét đang đọc bài diễn văn cuối cùng — từng câu từng chữ đều là một mở đầu tuyệt vời cho Hapley. Hắn chuyển sang đọc văn xuôi hư cấu — và nhận ra thể loại này chẳng có chút sức hút nào với hắn. Hắn đọc tập "Những câu chuyện đêm ở đảo" (Island Nights' Entertainments) cho đến khi "cảm thức về nhân quả" của hắn bị tổn thương không thể chịu nổi bởi câu chuyện về con Quỷ trong chiếc lọ (Bottle Imp). Sau đó hắn tìm đến Kipling, và thấy rằng gã này "chẳng chứng minh được điều gì", ngoài chuyện vô lễ và thô tục. Những con người chuyên tâm khoa học ấy quả có những giới hạn của riêng họ. Rồi thật bất hạnh, hắn thử đọc cuốn "Ngôi nhà nội tâm" (Inner House) của Besant, và chương mở đầu ngay lập tức hướng tâm trí hắn về các hội viện uyên bác và Pawkins.

Thế là Hapley chuyển sang chơi cờ vua, và thấy trò này có vẻ dịu êm hơn đôi chút. Hắn nhanh chóng nắm bắt các nước đi, những thế khai cuộc chính cùng những tàn cục thông thường, và bắt đầu đánh bại vị Mục sư. Nhưng rồi những đường cong hình trụ của quân vua đối phương lại bắt đầu gợi nhớ đến hình ảnh Pawkins đứng sừng sững thở hổn hển một cách bất lực trước thế chiếu tướng, và Hapley quyết định từ bỏ cờ vua.

Có lẽ việc nghiên cứu một nhánh khoa học mới rốt cuộc sẽ là trò giải trí tốt hơn. Cách nghỉ ngơi tuyệt vời nhất chính là thay đổi công việc. Hapley quyết định lao đầu vào nghiên cứu loài tảo cát (diatoms), và cho chuyển một trong những chiếc kính hiển vi nhỏ của mình cùng chuyên khảo của Halibut xuống miền quê. Hắn thầm nghĩ rằng nếu bản thân có thể khơi mào một cuộc cãi vã thật nảy lửa với Halibut, biết đâu hắn lại có thể bắt đầu lại cuộc đời từ đầu và quên đi Pawkins. Và chẳng mấy chốc, hắn đã cặm cụi làm việc với phong độ đầy gắng sức quen thuộc của mình, bên cạnh những cư dân tí hon bám trụ dưới vũng nước ven đường ấy.

Chính vào ngày thứ ba nghiên cứu về loài tảo cát, Hapley chợt nhận ra sự xuất hiện của một thành viên mới mẻ trong hệ động vật địa phương. Hắn đang làm việc muộn bên chiếc kính hiển vi, và ngọn đèn duy nhất trong phòng là chiếc đèn nhỏ rực rỡ lắp loại chùm đèn màu xanh lá đặc trưng. Giống như mọi nhà kính hiển vi kỳ cựu khác, hắn mở cả hai mắt. Đó là cách duy nhất để tránh tình trạng mỏi mắt quá độ. Một con mắt áp lên thị kính, và rực rỡ, sắc nét trước mắt hắn là vi trường hình tròn của kính hiển vi, nơi một sinh vật tảo cát màu nâu đang từ từ di chuyển. Bằng con mắt còn lại, Hapley nhìn ngắm, tựa hồ như nhìn mà không thấy. Hắn chỉ lờ mờ ý thức được phần thân bằng đồng của dụng cụ, phần khăn trải bàn được chiếu sáng, một tờ giấy viết thư, chân đèn, và căn phòng chìm trong bóng tối ở phía xa.

Đột nhiên sự chú ý của hắn dịch chuyển từ con mắt này sang con mắt kia. Khăn trải bàn được làm bằng chất liệu mà các chủ tiệm gọi là vải thảm khơi tráp (tapestry), có màu sắc khá sặc sỡ. Họa tiết mang sắc vàng, điểm xuyết một chút đỏ thẫm và xanh nhạt trên nền xám. Tại một điểm nọ, họa tiết dường như bị lệch đi, và có một chuyển động rung rinh của các sắc màu ngay tại điểm đó.

Hapley đột ngột rụt đầu lại và nhìn bằng cả hai mắt. Miệng hắn há hốc vì kinh ngạc.

Đó là một con bướm đêm hoặc bướm ngày lớn; đôi cánh của nó dang rộng theo kiểu loài bướm!

Thật kỳ lạ khi nó lại có mặt trong phòng, bởi vì các cửa sổ đều đang đóng kín. Thật kỳ lạ khi nó đã không thu hút sự chú ý của hắn khi bay lượn đến vị trí hiện tại. Thật kỳ lạ khi nó lại có màu sắc tệp với tấm khăn trải bàn. Lại càng kỳ lạ hơn khi đối với hắn, Hapley, nhà côn trùng học vĩ đại, sinh vật này hoàn toàn xa lạ. Không hề có sự ảo giác nào cả. Nó đang bò chậm chạp về phía chân đèn.

“Trời ạ, một chi mới! Mà lại ở ngay nước Anh!” Hapley thốt lên, mắt trân trân nhìn chăm chú.

Rồi hắn chợt nghĩ đến Pawkins. Không gì có thể khiến Pawkins phát điên hơn thế... Và Pawkins đã chết rồi!

Một điểm gì đó ở phần đầu và thân của loài côn trùng bỗng gợi lên hình ảnh Pawkins một cách kỳ lạ, hệt như quân vua trên bàn cờ vậy.

“Quái quỷ thật cái lão Pawkins này!” Hapley nói. “Nhưng ta phải bắt cho bằng được con này.” Và vừa đảo mắt tìm kiếm phương tiện để tóm gọn con bướm, hắn chậm rãi đứng dậy khỏi ghế. Bỗng nhiên con côn trùng cất cánh, va vào viền chùm đèn — Hapley nghe thấy tiếng "keng" — rồi biến mất vào khoảng tối.

Chỉ trong tích tắc, Hapley đã giật phăng chùm đèn ra, khiến toàn bộ căn phòng bừng sáng. Vật thể ấy đã biến mất, nhưng chẳng mấy chốc đôi mắt dày dạn kinh nghiệm của hắn đã phát hiện ra nó trên tấm giấy dán tường gần cửa ra vào. Hắn tiến về phía nó, lăm lăm cầm chùm đèn sẵn sàng úp bắt. Thế nhưng, trước khi hắn kịp tiến vào khoảng với tới, nó đã bay vút lên và lượn lờ quanh phòng. Theo đúng tập tính của loài mình, nó bay với những cú cất cánh và xoay chuyển đột ngột, có cảm tưởng như biến mất ở chỗ này rồi lại xuất hiện ở chỗ kia. Có bận Hapley vung tay đập hụt; rồi lại một lần nữa.

Đến lần thứ ba thì hắn đập trúng chiếc kính hiển vi. Dụng cụ lảo đảo, va phải rồi làm lật ngã ngọn đèn, và rơi cái rầm xuống sàn nhà. Ngọn đèn lật nhào trên bàn và, thật may mắn làm sao, đã tự tắt ngấm. Hapley bị bỏ lại trong bóng tối. Giật mình, hắn cảm thấy con bướm kỳ lạ lao thẳng vào mặt mình.

Thật phát điên lên được. Hắn chẳng có chút ánh sáng nào. Nếu hắn mở cửa phòng, thứ đó sẽ trốn mất. Trong màn đêm đen đặc, hắn nhìn thấy Pawkins vô cùng rõ ràng đang cười nhạo mình. Pawkins lúc nào cũng có nợ cười nhớp nháp ấy. Hắn chửi rủa điên cuồng và giậm chân thình thịch xuống sàn.

Có tiếng gõ cửa rụt rè vang lên.

Rồi cửa hé mở, có lẽ được khoảng một gang tay, và vô cùng chậm rãi. Khuôn mặt đầy sợ hãi của bà chủ nhà hiện ra sau ánh nêm màu hồng; bà đội chiếc mũ trùm đầu ban đêm che mái tóc điểm bạc và khoác một tấm vải màu tía trên vai. “Tiếng đổ vỡ kinh hoàng gì thế hả cậu?” bà cất lời. “Có chuyện gì ———” Con bướm kỳ lạ xuất hiện, bay lượn lập lòe quanh khe cửa. “Đóng ngay cửa lại!” Hapley quát lên, và bất thần lao bổ về phía bà.

Cánh cửa sập mạnh vội vã. Hapley bị bỏ lại một mình trong bóng tối. Sau đó, trong khoảng lặng tĩnh mịch, hắn nghe thấy tiếng chân bà chủ nhà hớt hải chạy lên lầu, khóa chặt cửa phòng lại, rồi kéo một vật nặng gì đó chặn ngang trước cửa.

Hapley bắt đầu nhận ra rằng hành vi và diện mạo của mình vừa rồi quả thực kỳ lạ và đáng sợ. Khỉ thật con bướm! Và cả Pawkins nữa chứ! Dẫu sao đi nữa, thật đáng tiếc nếu để sổng mất con bướm lúc này. Hắn mò mẫm đi ra hành lang và tìm thấy hộp diêm, tiện chân đá văng chiếc mũ của mình xuống sàn với một tiếng động vang lên như trống trận. Tay cầm cây nến đang cháy sáng, hắn quay trở lại phòng khách. Chẳng thấy bóng dáng con bướm đâu cả. Thế nhưng có khoảnh khắc, dường như thứ đó đang bay lượn phấp phới ngay quanh đầu hắn. Hapley rất nhanh chóng đưa ra quyết định: từ bỏ con bướm và đi ngủ thôi. Nhưng hắn đang ở trạng thái vô cùng kích động. Suốt cả đêm dài, giấc ngủ của hắn liên tục bị ngắt quãng bởi những giấc mơ về con bướm, về Pawkins và bà chủ nhà. Hai lần trong đêm, hắn phải vùng dậy và dội nước lạnh lên đầu.

Có một điều vô cùng rõ ràng đối với hắn. Bà chủ nhà không tài nào hiểu nổi câu chuyện về con bướm kỳ lạ, nhất là khi hắn đã không bắt được nó. Sẽ chẳng có ai ngoài một nhà côn trùng học có thể thấu hiểu trọn vẹn cảm giác của hắn lúc bấy giờ. Bà ấy có lẽ đang hoảng sợ trước hành xử của hắn, thế nhưng hắn lại chẳng tài nào nghĩ ra cách để giải thích điều đó. Hắn quyết định không nhắc thêm nửa lời về những sự kiện đêm qua nữa. Sau bữa điểm tâm, hắn trông thấy bà đang ở trong khu vườn của mình, và quyết định ra ngoài trò chuyện nhằm trấn an bà. Hắn bắt chuyện với bà về đậu và khoai tây, loài ong, sâu bướm và giá cả hoa quả. Bà đáp lại bằng thái độ thường nhật, nhưng ánh mắt nhìn hắn đầy vẻ nghi ngờ, đồng thời liên tục di chuyển theo nhịp bước của hắn, sao cho luôn có một luống hoa, một hàng đậu, hay thứ gì đó đại loại vậy đứng cách giữa hai người. Một lúc sau, hắn bắt đầu cảm thấy vô cùng bực bội vì chuyện này, và để che giấu sự khó chịu, hắn quay trở vào nhà rồi chẳng mấy chốc lại đi dạo phố.

Con bướm đêm hoặc bướm ngày ấy, thoang thoảng mang theo dư vị kỳ lạ của Pawkins, cứ liên tục hiện về trong chuyến dạo chơi đó, mặc cho hắn đã cố hết sức để hướng tâm trí ra khỏi nó. Có lúc hắn nhìn thấy nó vô cùng rõ ràng, với đôi cánh dang rộng, đậu trên bức tường đá cổ chạy dọc theo rìa phía tây của công viên, nhưng khi tiến lại gần thì hóa ra đó chỉ là hai mảng địa y màu xám và vàng. “Thế này đây,” Hapley tự nhủ, “đúng là sự ngụy trang ngược đời. Thay vì cảnh một con bướm trông giống hòn đá, thì ở đây lại là một hòn đá trông giống con bướm!” Có lúc thứ gì đó lượn lờ bay phấp phới xung quanh đầu hắn, nhưng bằng một nỗ lực ý chí, hắn lại gạt phắt ấn tượng đó ra khỏi tâm trí mình.

Vào buổi chiều, Hapley đến ghé thăm vị Mục sư, và tranh luận với ông về các vấn đề thần học. Họ ngồi trong chiếc chòi nhỏ phủ đầy dây tầm xuân, vừa hút thuốc vừa cãi lý rôm rả. “Hãy nhìn kìa, con bướm kìa!” Hapley đột ngột lên tiếng, chỉ tay về phía mép chiếc bàn gỗ.

“Đâu cơ?” vị Mục sư hỏi.

“Anh không nhìn thấy một con bướm đang đậu ngay mép bàn kia ư?” Hapley nói.

“Hoàn toàn không thấy gì cả,” vị Mục sư đáp.

Hapley điếng người. Hắn há hốc miệng thở dốc. Vị Mục sư đang trân trân nhìn hắn. Rõ ràng là con người kia chẳng nhìn thấy bất cứ thứ gì. “Con mắt đức tin cũng chẳng khá khẩm gì hơn con mắt khoa học,” Hapley lúng túng thốt lên.

“Tôi không hiểu ý anh lắm,” vị Mục sư nói, cứ đinh ninh đó là một phần trong nội dung tranh luận.

Đêm đó Hapley phát hiện ra con bướm đang bò lổm ngổm trên tấm chăn phủ giường của mình. Hắn ngồi thừ ở mép giường trong chiếc áo sơ mi cộc tay và tự lý luận với chính mình. Phải chăng đây hoàn toàn là ảo giác thuần túy? Hắn thừa biết mình đang dần trượt dốc, và hắn chiến đấu để giữ lấy sự tỉnh táo của tâm trí với cùng một nguồn năng lượng thầm lặng mà trước đây hắn từng trưng ra để chống lại Pawkins. Thói quen tâm lý vốn kiên cường đến mức, hắn có cảm giác như đây vẫn là một cuộc đối đầu với Pawkins. Hắn rất uyên bác về lĩnh vực tâm lý học. Hắn thừa biết rằng những ảo ảnh thị giác kiểu này xuất hiện như hệ quả của sự suy kiệt tinh thần. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, hắn không chỉ nhìn thấy con bướm, hắn còn nghe thấy tiếng nó khi nó chạm vào mép chùm đèn và sau đó là lúc nó va vào tường, chưa kể hắn còn cảm nhận được cái chạm cánh của nó phớt qua mặt mình trong bóng tối.

Hapley cúi xuống nhìn nó. Trông nó hoàn toàn không có vẻ gì là mơ hồ ảo mộng cả, mà vô cùng sắc nét và vững chãi dưới ánh nến. Hắn nhìn thấy phần thân đầy lông mao, cặp râu ngắn dạng lông vũ, những đốt chân, thậm chí cả một khoảng trên cánh bị trụi mất lớp phấn tơi. Hắn chợt cảm thấy tức giận bản thân vì dám sợ hãi trước một con côn trùng nhỏ bé.

Bà chủ nhà đã rủ người hầu nữ ngủ cùng phòng với mình vào đêm hôm ấy, bởi vì bà quá sợ hãi cảnh thui thủi một mình. Thêm vào đó, bà đã khóa chặt cửa lại và đẩy chiếc tủ nhiều ngăn chặn ngang trước cửa. Họ lắng nghe và thì thầm to nhỏ với nhau sau khi đã lên giường đi ngủ, nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra khiến họ phải hoảng sợ. Khoảng mười một giờ, họ đánh liều thổi tắt nến và cả hai đều chìm dần vào giấc ngủ. Rồi họ giật mình tỉnh giấc, ngồi chồm hổm trên giường, căng tai lắng nghe trong màn đêm tịch mịch.

Rồi họ nghe thấy tiếng bước chân đi hia sột soạt qua lại trong căn phòng của Hapley. Một chiếc ghế bị lật nhào, theo sau là một nhát đập mạnh vào vách tường. Tiếp đó là tiếng một món đồ trang trí bằng sứ trên lò sưởi vỡ vụn xuống tấm chắn lửa. Đột nhiên cửa phòng bật mở, và họ nghe thấy tiếng hắn ngoài thềm chiếu nghỉ. Họ ôm chặt lấy nhau, nín thở lắng nghe. Hắn có vẻ như đang khiêu vũ trên cầu thang. Lúc thì hắn rảo bước thật nhanh xuống ba bốn bậc, rồi lại chạy ngược lên, sau đó lại vội vã lao xuống sảnh nhà. Họ nghe thấy tiếng giá để ô bị xô ngã, và khung kính cửa sổ phía trên vỡ tan tành. Rồi tiếng chốt cửa sập xuống cùng tiếng xích lắt rắc va chạm. Hắn đang mở cửa chính.

Họ hớt hải chạy ra cửa sổ. Đó là một đêm xám xịt mờ ảo; một tầng mây ướt át gần như kín đặc đang càn quét qua vầng trăng, và hàng rào cùng những tán cây trước nhà hiện lên đen đặc nổi bật trên nền con đường trắng nhợt nhạt. Họ nhìn thấy Hapley, trông chẳng khác nào một bóng ma trong bộ áo sơ mi và chiếc quần dài trắng, đang chạy qua chạy lại trên đường và khua khoắng tay chân vào khoảng không. Lúc thì hắn dừng lại, lúc thì lao vút đi cực nhanh về phía một thứ vô hình nào đó, khi thì lén lút rón rén tiến đến gần nó. Cuối cùng hắn đi khuất dạng dọc theo con đường dẫn lên vùng đồi trọc. Rồi, trong lúc họ còn đang tranh cãi xem ai sẽ là người xuống dưới nhà để khóa cửa lại, hắn đã quay về. Hắn bước đi rất nhanh, đi thẳng vào nhà, đóng cửa lại cẩn thận rồi lặng lẽ bước lên phòng ngủ của mình. Sau đó mọi thứ chìm vào tĩnh mịch.

“Bệnh nhân Colville,” Hapley cất tiếng gọi vọng xuống cầu thang vào sáng hôm sau, “tôi hy vọng tối qua mình không làm bà hoảng sợ.”

“Cậu thừa sức hỏi câu đó đấy!” bà Colville đáp gọn lỏn.

“Thực ra là thế này, tôi mắc bệnh mộng du, và hai đêm vừa rồi tôi lại không dùng thuốc ngủ. Thực sự chẳng có gì phải hoảng sợ cả đâu. Tôi rất tiếc vì đã cư xử ngớ ngẩn như vậy. Tôi sẽ đi bộ qua vùng đồi xuống Shoreham để mua ít thuốc giúp ngủ ngon giấc. Lẽ ra tôi nên làm việc đó từ hôm qua mới phải.”

Thế nhưng khi vừa đi được nửa quãng đường qua vùng đồi trọc, đến đoạn những mỏm khai thác đá phấn, con bướm lại xuất hiện trước mặt Hapley. Hắn tiếp tục bước đi, cố gắng dồn tâm trí vào những bài toán cờ vua, nhưng chẳng ăn thua gì. Sinh vật đó bay lợn đập cánh vào mặt hắn, và trong cơn tự vệ, hắn vung mũ quất lại nó. Rồi cơn giận dữ, thứ cơn giận dữ muôn thuở — thứ giận dữ mà hắn từng bao lần nếm trải khi đối đầu với Pawkins — lại trào dâng trong hắn một lần nữa. Hắn tiếp tục tiến lên, vừa nhảy chồm chồm vừa vung tay đấm bổ vào con côn trùng đang chao lượn. Bột phát, hắn bước hụt vào không trung và ngã nhào đầu xuống đất.

Có một khoảng trống đứt quãng trong giác quan của Hapley, rồi hắn nhận ra mình đang ngồi trên đống đá lửa ngay trước miệng hố khai thác đá phấn, với một bên chân bị quặp ngược về phía sau. Con bướm kỳ lạ vẫn đang lượn lờ quanh đầu hắn. Hắn giơ tay đập vào nó, rồi khi quay đầu lại, hắn thấy hai người đàn ông đang tiến về phía mình. Một người là bác sĩ của làng. Hapley chợt nghĩ rằng đây quả là một điềm may. Rồi một ý nghĩ lóe lên trong đầu hắn với một sự sống động phi thường rằng sẽ chẳng có ai ngoài bản thân hắn có thể nhìn thấy con bướm kỳ lạ đó, và rằng hắn buộc phải giữ kín miệng về chuyện này.

Thế nhưng, vào lúc đêm muộn hôm ấy, sau khi chiếc chân gãy của hắn đã được nẹp cố định, hắn lên cơn sốt và quên bẵng đi sự kìm chế của bản thân. Hắn nằm dài trên giường, và bắt đầu đảo mắt quanh phòng để xem con bướm còn ở quanh quảng đây không. Hắn cố gắng kìm lại không làm thế, nhưng vô ích. Chẳng mấy chốc hắn đã bắt gặp hình ảnh sinh vật đó đang đậu sát bên tay mình, cạnh chiếc đèn ngủ trên tấm khăn bàn màu xanh lá. Đôi cánh của nó rung rinh nhè nhẹ. Với một làn sóng giận dữ bùng nổ, hắn giáng thẳng nắm đấm vào nó, khiến người y tá giật mình thức giấc với một tiếng thét thanh thanh. Hắn đã đập trượt.

“Con bướm đó!” hắn thốt lên; rồi tiếp lời, “Chỉ là ảo tưởng thôi. Chẳng có gì cả!”

Suốt quãng thời gian đó, hắn vẫn nhìn thấy vô cùng rõ ràng con côn trùng đang bay vòng quanh gờ trần nhà rồi lao vút qua căn phòng, và hắn cũng nhận ra rằng cô y tá chẳng nhìn thấy bất kỳ thứ gì và đang nhìn hắn với ánh mắt đầy kỳ lạ. Hắn bắt buộc phải tự kiểm soát lấy bản thân. Hắn thừa biết rằng mình sẽ là một kẻ tiêu đời nếu không tự kiềm chế được chính mình. Nhưng khi đêm dần tàn, cơn sốt càng lúc càng hành hạ hắn, và chính nỗi sợ hãi phải nhìn thấy con bướm lại càng khiến hắn nhìn thấy nó rõ hơn. Khoảng năm giờ, khi ánh bình minh bắt đầu xám xịt, hắn toan vùng dậy khỏi giường để bắt cho bằng được nó, mặc cho cái chân đang đau nhức buốt nhối như lửa đốt. Cô y tá phải chật vật chống trả để giằng co với hắn.

Vì lý do này, họ đã trói chặt hắn xuống giường. Thấy vậy, con bướm càng trở nên bạo gan hơn, và có lúc hắn cảm thấy nó đậu hẳn lên mái tóc mình. Do hắn điên cuồng vung hai tay vùng vẫy, họ bèn trói luôn cả tay hắn lại. Lúc này, con bướm bay đến bò lổm ngổm khắp mặt hắn, và Hapley đã khóc nức nở, chửi rủa, gào thét, van xin họ gỡ nó ra khỏi người mình, nhưng mọi nỗ lực đều vô ích.

Gã bác sĩ quả là một kẻ đần độn, một tay hành nghề y đa khoa vừa mới lấy chứng chỉ và hoàn toàn mù tịt về khoa học tâm thần. Hắn ta chỉ đơn giản khẳng định rằng chẳng có con bướm nào cả. Giả sử hắn ta khôn ngoan hơn một chút, có lẽ hắn vẫn có thể cứu vớt Hapley khỏi bi kịch bằng cách hùa theo ảo tưởng của bệnh nhân, và phủ một lớp gạc lên mặt hắn, đúng như những gì hắn đã van nài được làm. Thế nhưng, như tôi đã nói đấy, gã bác sĩ ấy là một kẻ đầu đất, và cho đến tận khi cái chân lành lặn trở lại, Hapley vẫn bị trói chặt trên giường bệnh, với con bướm tưởng tượng đang bò trườn khắp cơ thể. Nó chưa từng rời bỏ hắn lấy một phút giây nào khi hắn thức và biến thành một con quái vật đáng sợ trong những giấc mơ của hắn. Khi thức, hắn mỏi mòn khao khát được chìm vào giấc ngủ, thế rồi từ giấc ngủ hắn lại bừng tỉnh trong tiếng gào thét.

Thế nên giờ đây Hapley đang trải qua phần đời còn lại của mình trong một căn phòng lót đệm mút cách ly, bị dằn vặt bởi một con bướm đêm mà chẳng một ai khác có thể nhìn thấy. Bác sĩ ở viện tâm thần gọi đó là chứng ảo giác; nhưng Hapley, những lúc tinh thần thư thái hơn và có thể trò chuyện được, lại bảo rằng đó chính là bóng ma của Pawkins, và do đó nó là một mẫu vật có một không hai, hoàn toàn xứng đáng để nhọc công bắt cho bằng được.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.