Xứ Sở Của Những Kẻ Mù Và Những Câu Chuyện Khác

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24
— Trái Tim Của Cô Winchelsea.

❊ ❊ ❊

Cô Winchelsea sắp đi Rome. Ý nghĩ ấy đã ngự trị trong tâm trí cô suốt một tháng nay, và nó trào lóng dạt dào trong mọi câu chuyện đến mức không ít người chẳng có ý định – cũng chẳng có cơ hội – đến Rome bỗngâm ừ coi đó là một điều xất xất mà cô cố tình nhắm vào họ. Thậm chí, một vài kẻ còn tìm đủ mọi cách, dẫu chẳng ăn thua gì, để thuyết phục cô rằng Rome chẳng hề tuyệt vời như lời đồn. Lại có những người điên rồ đến mức sau lưng xì xầm rằng cô thật khó ưa và kiêu kỳ với "cái xứ Rome của cô ta". Cả cô bé Lily Hardhurst cũng từng thì thầm với anh bạn Mr. Binns rằng, đối với cô ta thì cô Winchelsea cứ việc "xách mé về cái Rome cổ lỗ sĩ ấy rồi ở lì luôn ở trển; còn cô (Lily Hardhurst) đây chẳng buồn bận tâm mảy may." Và cái cách cô Winchelsea tự đặt mình vào thế thân mật với Horace, Benvenuto Cellini, Raphael, Shelley và Keats – nếu có là vợ góa của Shelley chắc cô cũng chẳng thể tỏ ra đau đáu vì nấm mồ của ông ta đến thế – đã trở thành một chuyện lạ đời khiến ai nấy đều kinh ngạc. Trang phục của cô là một tuyệt tác của sự chừng mực đầy tinh tế, vừa lịch sự lại không quá "ra dáng khách du lịch" – cô rất sợ bị coi là khách du lịch – còn cuốn Baedeker thì được bọc một lớp vỏ màu xám để che đi cái bìa đỏ chói lọi. Cô dựng lên một dáng vẻ vừa trang nhã vừa dễ chịu trên sân ga Charing Cross, dẫu cho niềm tự hào đang chực trào trong lồng ngực, khi cuối cùng ngày đại hỷ ấy cũng ló rạng và cô được chính thức khởi hành đi Rome. Ngày hôm đó trời quang mây tạnh, chuyến vượt biển qua eo biển Manche ắt sẽ êm ả, và mọi điềm báo đều vô cùng tốt đẹp. Tràn ngập trong lòng cô là cảm giác phiêu lưu phơi phới của một cuộc hành trình chưa từng có.

Cô đi cùng hai người bạn từng là đồng môn tại trường sư phạm, cả hai đều là những cô gái hiền lành, chân chất, dẫu tài văn chương và lịch sử chẳng thể sánh bằng cô Winchelsea. Cả hai đều kính ngưỡng cô hết mực, dẫu về chiều cao thì họ phải ngước nhìn lên, và cô thầm mong chờ những khoảng thời gian thú vị khi được "khơi gợi" họ vươn lên tầm cao nhiệt huyết lịch sử và nghệ thuật của chính mình. Họ đã giữ chỗ từ trước và hồ hởi chào đón cô ngay ngoài cửa toa tàu. Trong cái nhìn soi mói chớp nhoáng của cuộc hội ngộ, cô để ý thấy Fanny dùng một chiếc dây đeo hành lý bằng da hơi ra dáng khách du lịch, còn Helen thì diện một chiếc áo khoác vải sẹc có túi hai bên, tay đút thẳng vào trong. Nhưng cả ba đang quá đỗi hạnh phúc với bản thân và chuyến đi này nên cô đành nén lại mọi lời nhắc nhở vào lúc ấy. Ngay khi những phấn khích ban đầu qua đi – sự phấn khích của Fanny có phần hơi ồn ào, thô kệch và chủ yếu lặp đi lặp lại một cách nhấn mạnh rằng: "Cậu tưởng tượng nổi không! Chúng mình đang đi Rome đấy, mình ơi! Rome đấy!" – họ bắt đầu chú ý đến những hành khách cùng khoang. Helen tỏ ra sốt sắng muốn giữ trọn một khoang riêng cho nhóm, và để xua đuổi những kẻ lai vãng tò mò, cô nàng liền bước ra đứng chắn nghiêm nghị ngay bậc cửa. Cô Winchelsea ngó đầu qua vai bạn, thốt lên vài lời mai mỉa kín đáo về đám đông ngày một ùn ùn trên sân ga, khiến Fanny khúc khích cười thích thú.

Họ đi theo phái đoàn của ông Thomas Gunn – mười bốn ngày ở Rome với giá mười bốn bảng Anh. Tất nhiên họ không thuộc nhóm du lịch có hướng dẫn viên đi kèm – cô Winchelsea đã tính toán kỹ lưỡng chuyện đó – nhưng họ đi cùng chuyến tàu để tận dụng sự tiện lợi của lịch trình chung. Đám đông hành khách là một sự pha trộn kỳ quặc nhất và thú vị đến kỳ lạ. Nổi bật lên là một hướng dẫn viên người lê la khắp nơi, mặt đỏ gay gắt, nói lớn tiếng, diện bộ đồ màu muối tiêu, tay chân dài ngoẵng và vô cùng hoạt bát. Anh ta hô vang những thông báo. Khi muốn giao lưu với ai, anh ta liền vươn dài cánh tay tóm chặt lấy họ cho bằng được mục đích mới thôi. Một tay anh ta cầm đầy giấy tờ, vé xe, cuống vé của khách du lịch. Đám khách trong tour có vẻ chia làm hai loại: loại hướng dẫn viên đang tìm mà chẳng sao thấy đâu, và loại hướng dẫn viên không cần tới nhưng cứ bám đuôi anh ta thành một cái đuôi kéo dài dằng dặc dọc sân ga. Những người này dường như đinh ninh rằng cơ hội duy nhất để đến Rome của họ là phải kè kè bám sát lấy anh ta. Ba bà cụ nọ cực kỳ hăng hái bám theo, cuối cùng khiến anh ta phát điên lên phải tống thẳng họ vào một toa tàu và thách đố họ dám thò mặt ra lần nữa. Suốt thời gian còn lại, cứ mỗi khi anh ta đến gần, thể nào cũng có một, hai hoặc ba cái đầu nhô ra ngoài cửa sổ để mếu máo gặng hỏi về "cái hộp bện liễu nhỏ xíu". Lại có một người đàn ông vô cùng mập mạp đi cùng người vợ béo tròn trong bộ đồ đen bóng; rồi một lão già nhỏ thó trông chẳng khác nào tay nài ngựa luống tuổi.

"Những người thế này thì tìm kiếm gì ở Rome nhỉ?" cô Winchelsea hỏi. "Họ hiểu được cái quái gì chứ?" Lại có một vị phó tế rất cao đội chiếc mũ rơm rất nhỏ, và một vị phó tế rất lùn vác trên người cái chân máy ảnh dài ngoằn ngoèo. Sự tương phản ấy khiến Fanny vô cùng thích thú. Có lúc họ nghe thấy ai đó gọi tên "Snooks". "Tớ cứ tưởng cái tên ấy chỉ có trong tiểu thuyết," cô Winchelsea bảo. "Cậu tưởng tượng nổi không! Snooks. Tớ tự hỏi không biết ai là Mr. Snooks đây." Cuối cùng họ chấm trúng một người đàn ông lùn, đậm người và quả quyết, mặc bộ đồ ca rô rộng thùng thình. "Nếu hắn không phải là Snooks, thì hắn phải là Snooks mới đúng," cô Winchelsea phán.

Chẳng mấy chốc, anh hướng dẫn viên phát hiện ra chiêu chiếm trọn toa tàu của Helen. "Còn chỗ cho năm người," anh ta gân cổ hét lên kèm theo động tác giơ năm ngón tay ra minh họa. Một gia đình bốn người – cha, mẹ và hai cô con gái – ù té chạy vào, ai nấy đều vô cùng phấn khích. "Ổn cả thôi, Mạ – cứ để con lo," một trong hai cô con gái nói, tiện tay đập thẳng chiếc túi xách đang cố nhét lên giá hành lý vào chiếc mũ của bà mẹ. Cô Winchelsea vô cùng căm ghét những kẻ vụng về, khua khoắng chân tay và gọi mẹ mình là "Mạ". Một thanh niên đi một mình bước vào ngay sau đó. Cô Winchelsea để ý thấy trang phục của anh ta hoàn toàn không mang chút "màu sắc du lịch" nào; chiếc túi xách Gladstone làm bằng da đẹp, sang trọng với những chiếc nhãn dán gợi nhớ đến Luxembourg và Ostend, còn đôi giày tuy màu nâu nhưng không hề phàm phu chút nào. Anh ta vắt chiếc áo khoác trên tay. Khi những vị khách này chưa kịp ổn định chỗ ngồi, tiếng kiểm tra vé đã vang lên cùng những cú đóng sầm cửa, và kìa! Họ đang lướt đi rời khỏi ga Charing Cross trên hành trình hướng về Rome.

Fanny kêu lên: "Cậu tưởng tượng nổi không, chúng mình đang đi Rome rồi kìa! Rome! Ngay đến bây giờ tớ vẫn thấy như mơ."

Cô Winchelsea dùng một nụ cười kín đáo để kìm nén sự xúc động của Fanny, trong khi người phụ nữ được gọi là "Mạ" bắt đầu giải thích cho tất cả mọi người nghe lý do tại sao họ lại "suýt lỡ tàu" ở nhà ga. Hai cô con gái gọi bà là "Mạ" mấy lần liền, chỉnh đốn bà theo cái kiểu vừa vô duyên vừa hiệu quả, rồi cuối cùng đẩy bà vào việc ngồi lẩm nhẩm kiểm kê lại giỏ đồ dùng cá nhân. Chợt bà ngẩng lên. "Trời ơi!" bà thốt lên, "Mẹ quên béng chúng nó mất rồi!" Cả hai cô con gái đều kêu lên "Ôi, Mạ!", nhưng chẳng ai biết cái thứ "chúng nó" mà bà nhắc tới rốt cuộc là cái gì.

Lúc sau, Fanny lôi ra cuốn Hướng dẫn đi dạo ở Rome của Hare – một dạng sách hướng dẫn nửa mùa rất được lòng du khách khi đến Rome; còn người cha của hai cô con gái bắt đầu săm soi kỹ lưỡng những cuốn vé của mình, dường như đang dò tìm từng chữ tiếng Anh. Sau khi ngắm nghía tấm vé theo chiều xuôi chán chê, ông ta liền lật ngược nó lại. Rồi ông rút chiếc bút máy ra và cẩn thận ghi ngày tháng lên đó với vẻ đầy dụng công. Sau khi đã quan sát một lượt những người bạn đồng hành mà không để lộ vẻ săm soi, chàng thanh niên liền mở một cuốn sách ra đọc. Khi Helen và Fanny đang ngắm cảnh qua cửa sổ ở Chislehurst – nơi làm Fanny thích thú vì vị Hoàng hậu tội nghiệp người Pháp từng sinh sống ở đó – cô Winchelsea liền tranh thủ quan sát cuốn sách trên tay chàng thanh niên. Đó không phải là cẩm nang du lịch mà là một tập thơ mỏng có bìa đóng gáy. Cô lướt nhìn gương mặt anh ta – trong cái nhìn thoáng qua, cô thấy đó là một khuôn mặt thanh tú, dễ chịu. Anh ta đeo một cặp kính kẹp mũi mạ vàng nhỏ xíu. "Cậu có nghĩ bây giờ bà ấy vẫn sống ở đó không?" Fanny hỏi, thế là cuộc khảo sát của cô Winchelsea đành phải dừng lại.

Suốt phần thời gian còn lại của chặng đường, cô Winchelsea nói rất ít, và những gì cô thốt ra đều tao nhã, lịch sự hết mức có thể. Giọng cô lúc nào cũng trầm, trong và êm dịu, và lần này cô càng cẩn trọng để giữ cho giọng mình thêm phần trầm ấm, trong trẻo và dễ chịu đặc biệt. Khi tàu tiến đến gần những vách đá trắng, chàng thanh niên cất tập thơ đi, và khi đoàn tàu cuối cùng dừng lại sát bên mạn phà, anh ta tỏ ra vô cùng nhanh nhẹn và lịch thiệp giúp đỡ hành lý cho cô Winchelsea cùng các bạn. Cô Winchelsea "ghét cay ghét đắng những điều nhảm nhí", nhưng cô lấy làm hài lòng khi thấy chàng thanh niên nhận ra ngay họ là những tiểu thư khuê các và giúp đỡ họ mà chẳng hề tỏ ra vồn vã quá đà; đồng thời anh ta cũng khéo léo thể hiện rằng sự giúp đỡ lịch sự ấy không có nghĩa là giấy phép để tiến tới làm quen sâu hơn. Không ai trong nhóm của cô từng đặt chân ra khỏi nước Anh trước đó, nên ai nấy đều phấn khích và có chút hồi hộp trước chuyến vượt biển Manche. Họ quây quần thành một nhóm nhỏ ở vị trí đắc địa gần giữa tàu – chàng thanh niên đã xách hộ chiếc túi du lịch của cô Winchelsea ra đó và bảo rằng đây là chỗ ngồi tuyệt vời – rồi họ cùng ngắm nhìn bờ biển nước Anh lùi dần, ngâm thơ Shakespeare và vui đùa kín đáo với nhau theo đúng phong cách Anh quốc.

Họ tỏ ra vô cùng thích thú trước những biện pháp phòng ngừa sóng gió mà những hành khách to con đã áp dụng – nào chanh cắt lát, nào bình rượu dẹt xuất hiện nhan nhản, một phu nhân nằm dài trên ghế xếp với chiếc khăn tay phủ kín mặt, và một người đàn ông to bè, quyết đoán trong bộ đồ "du lịch" màu nâu sáng bước một mạch từ Anh sang Pháp dọc theo boong tàu, hai chân dạng ra hết mức có thể như thể ơn trên cho phép. Tất cả những biện pháp phòng ngừa ấy đều rất tuyệt vời, và chẳng có ai bị say sóng cả. Nhóm khách đi theo tour thì cứ bám riết lấy anh hướng dẫn viên quanh boong tàu để chất vấn, gợi lên trong đầu Helen một hình ảnh có phần bình dân là những con gà mái bu quanh một miếng da thịt xông khói, cho đến khi anh ta hoảng quá phải trốn xuống khoang dưới. Còn chàng thanh niên mang tập thơ mỏng thì đứng lặng ở đuôi tàu ngắm nhìn đất nước Anh lùi xa, trong mắt cô Winchelsea, trông anh ta có vẻ khá cô đơn và buồn bã.

Rồi Calais hiện ra cùng những điều mới lạ náo nhiệt, và chàng thanh niên vẫn không quên chiếc túi xách cùng những vật dụng nhỏ khác của cô Winchelsea. Cả ba cô gái, dẫu đã vượt qua vô số kỳ thi tiếng Pháp của chính phủ, bỗng chết lặng vì mặc cảm với ngữ âm của mình, và chàng thanh niên đã tỏ ra vô cùng hữu ích. Nhưng anh ta không hề suồng sã. Anh xếp họ vào một toa tàu thoải mái, ngả mũ chào rồi rời đi. Cô Winchelsea cất lời cảm ơn anh bằng phong cách chuẩn mực nhất của mình – một vẻ tao nhã, học thức – và Fanny đã thốt lên rằng anh ta "đẹp trai tử tế" hầu như ngay khi anh vừa khuất dạng. "Không biết anh ấy làm nghề gì nhỉ?" Helen tự hỏi. "Anh ấy đi Ý đấy, vì tớ thấy mấy cái vé màu xanh lá cây kẹp trong sách của anh ấy." Cô Winchelsea suýt nữa thì kể cho hai cô bạn nghe về tập thơ, nhưng rồi lại thôi. Và chẳng mấy chốc, khung cửa sổ con tàu đã thu hút toàn bộ tâm trí họ khiến chàng thanh niên bị lãng quên. Việc được du ngoạn qua một đất nước mà ngay cả những tấm biển quảng cáo bình thường nhất cũng viết bằng tiếng Pháp chuẩn vị khiến họ cảm thấy mình thật là tri thức, và cô Winchelsea bắt đầu đưa ra những lời so sánh kém yêu nước khi thấy dọc đường ray chỉ có những tấm bảng hiệu quảng cáo cỏ dại lèo tèo thay vì những tấm panô khổng lồ làm mất mỹ quan phong cảnh ở quê nhà. Nhưng miền bắc nước Pháp thực ra lại là một vùng quê khá tẻ nhạt, và sau một hồi, Fanny lại quay về với cuốn sách dạo bước của Hare, còn Helen bắt đầu bày bữa trưa. Cô Winchelsea bừng tỉnh khỏi một giấc mơ đẹp; cô bảo mình vừa cố chìm đắm vào cảm giác rằng cô thực sự đang trên đường tới Rome, nhưng gợi ý của Helen đã nhắc cô nhớ ra là mình đang đói, thế là họ vui vẻ ăn trưa ngay trên giỏ đồ mang theo. Buổi chiều, họ mệt mỏi và im lặng cho đến khi Helen pha trà. Cô Winchelsea suýt gật gà gù gạc, nếu không vì cô biết thói quen ngủ há hốc miệng của Fanny; và vì những bạn đồng hành cùng toa là hai quý cô tuổi trung niên có vẻ khá khó tính, sắc sảo – những người thành thạo tiếng Pháp đủ để trò chuyện – nên cô đành bận rộn với việc giữ cho Fanny tỉnh táo. Tiếng nhịp tàu chạy trở nên dồn dập, và phong cảnh trôi vụt qua bên ngoài cuối cùng đã làm mỏi nhừ cả mắt. Họ đã mệt phờ vì đi lại trước khi tàu dừng chân qua đêm.

Điểm dừng chân qua đêm trở nên sáng sủa hơn nhờ sự xuất hiện của chàng thanh niên, phong thái của anh ta đúng là không chê vào đâu được và vốn tiếng Pháp thì vô cùng hữu dụng.

Phiếu ăn của anh ta dùng được ở cùng khách sạn với họ, và dường như do tình cờ, anh ta ngồi cạnh cô Winchelsea tại bàn ăn tối d'hôte. Bất chấp niềm đam mê với Rome, cô đã suy tính rất kỹ về khả năng này, và khi anh ta đánh bạo đưa ra một nhận xét về sự mệt mỏi của việc đi đường – anh ta để qua món súp và cá rồi mới mở lời – cô không chỉ đơn thuần gác giọng đồng tình mà còn đáp lại bằng một nhận xét khác. Chẳng mấy chốc họ bắt đầu so sánh những chuyến hành trình của mình, và Helen lẫn Fanny bỗng bị phớt lờ một cách phũ phàng trong câu chuyện. Hóa ra hành trình của họ hoàn lắm: một ngày dành cho các phòng trưng bày ở Florence – "theo những gì tớ nghe được," chàng thanh niên nói, "thế là quá ít," – và thời gian còn lại dành cho Rome. Anh ta nói về Rome rất thú vị; rõ ràng anh ta là người uyên bác và đã trích dẫn câu thơ của Horace về ngọn Soracte. Cô Winchelsea từng "học tủ" cuốn sách đó của Horace cho kỳ thi tuyển sinh nên vô cùng vui mừng đọc tiếp câu thơ để đối lại. Sự việc ấy tạo cho mọi thứ một âm hưởng đặc biệt – một nét tinh tế cho cuộc trò chuyện vốn chỉ là tầm phào. Fanny bày tỏ dăm ba cảm xúc còn Helen chêm vào vài nhận xét thực tế, nhưng phần lớn câu chuyện từ phía các cô gái dĩ nhiên đều do cô Winchelsea đảm nhiệm.

Trước khi họ đến Rome, chàng thanh niên này đã nghiễm nhiên trở thành một thành viên trong nhóm của họ từ lúc nào không hay. Họ không biết tên anh ta cũng chẳng rõ anh làm nghề gì, nhưng có vẻ như anh đi dạy học, và cô Winchelsea thầm đoán chắc anh là giảng viên chương trình giáo dục mở rộng. Dù sao đi nữa, anh ta cũng thuộc tuýp người lịch sự, tao nhã mà không hề giàu có đến mức không với tới được. Cô đã thử dò la một hai lần xem anh đến từ Oxford hay Cambridge, nhưng anh ta đều lảng tránh những cơ hội ngập ngừng của cô. Cô cố khơi gợi để anh ta nhắc đến những nơi đó nhằm xem anh có dùng từ "come up" (lên trường) thay vì "go down" (xuống trường) hay không – cô biết đó là cách để nhận diện một nam sinh đại học. Anh đã dùng từ "'Varsity" – chứ không phải university – một cách vô cùng chuẩn xác.

Họ đã chiêm ngưỡng Florence của ông Ruskin nhiều nhất có thể trong khoảng thời gian ngắn ngủi; anh ta gặp họ ở Phòng tranh Pitti và đi cùng họ một vòng, trò chuyện rôm rả và tỏ ra vô cùng biết ơn sự đón nhận của họ. Anh ta hiểu biết rất nhiều về nghệ thuật, và cả bốn người đã có một buổi sáng vô cùng tuyệt vời. Thật tuyệt làm sao khi được đi một vòng để nhận ra những kiệt tác quen thuộc và khám phá ra những vẻ đẹp mới, nhất là khi có bao nhiêu kẻ đang lúng túng bất lực với cuốn Baedeker trên tay. Hơn nữa, anh ta chẳng hề ra vẻ kẻ cả chút nào, cô Winchelsea nhận xét như vậy, và quả thực cô rất ghét những kẻ đạo đức giả. Anh ta ẩn chứa một sự hóm hỉnh ngầm, và chẳng hạn như, anh ta biết cách cười cợt một cách hài hước mà không thô tục trước những tác phẩm kỳ lạ của Beato Angelico. Sâu thẳm trong đó, anh ta là một người vô cùng nghiêm túc và rất nhạy bén trong việc nắm bắt những bài học đạo đức từ các bức tranh. Fanny bước đi nhẹ nhàng giữa những kiệt tác này; cô thừa nhận "mình biết quá ít về chúng," và thú nhận rằng đối với cô, tác phẩm nào cũng "đẹp tuyệt trần". Cô Winchelsea thầm nghĩ từ "đẹp" của Fanny có phần hơi đơn điệu. Cô đã từng rất vui mừng khi ngọn núi Alps nắng rực cuối cùng khuất dạng, bởi vì sự tán thưởng ngắt quãng kiểu nhát gừng của Fanny. Helen nói rất ít, nhưng từ những ngày xưa cũ, cô Winchelsea đã nhận ra Helen có chút hời hợt về mặt thẩm mỹ nên cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên; có lúc cô bật cười trước những lời đùa ngập ngừng, tinh tế của chàng thanh niên, có lúc lại không, và có lúc cô dường như hoàn toàn chìm đắm vào việc ngắm nghía trang phục của những du khách khác thay vì thưởng thức nghệ thuật xung quanh.

Đến Rome, chàng thanh niên lúc ẩn lúc hiện đi cùng họ. Thỉnh thoảng lại có một người bạn có phần "du lịch" của anh ta đến kéo anh đi. Anh ta hài hước phàn nàn với cô Winchelsea. "Tôi chỉ có vỏn vẹn hai tuần ngắn ngủi ở Rome," anh nói, "vậy mà bạn tôi là Leonard cứ nằng nặc đòi dành nguyên một ngày ở Tivoli để ngắm thác nước."

"Bạn anh, Leonard, làm nghề gì thế?" cô Winchelsea cộc lốc hỏi.

"Anh ấy là kẻ thích đi bộ hăng hái nhất mà tôi từng gặp," chàng thanh niên đáp – nghe thì có vẻ thú vị đấy, nhưng cô Winchelsea thấy câu trả lời ấy chưa thực sự thỏa đáng.

Họ đã có những khoảnh khắc tuyệt diệu vô ngần, và Fanny không thể tưởng tượng nổi họ sẽ ra sao nếu thiếu mất anh ta. Niềm đam mê của cô Winchelsea cùng khả năng trầm trồ vô bờ bến của Fanny là không bao giờ cạn kiệt. Họ cứ thế trầm trồ không một chút mệt mỏi – qua các phòng tranh và điêu khắc, qua những nhà thờ đông đúc nghẹt thở, qua những phế tích và viện bảo tàng, những hàng cây đậu đỏ và xương rồng lê gai, những chiếc xe chở rượu và các cung điện. Họ đi đến đâu là trầm trồ thán phục đến đó một cách không nao núng. Cứ hễ thấy một cây thông đá hay khuynh diệp nào là họ gọi tên và ngắm nghía; cứ thoáng thấy ngọn Soracte là họ lại reo lên. Những con đường quen thuộc bỗng trở nên diệu kỳ nhờ trí tưởng tượng phong phú. "Biết đâu Xê-da từng đặt chân đến đây," họ sẽ nói thế. "Biết đâu Raphael từng ngắm nhìn ngọn Soracte từ chính chỗ này." Rồi họ tình cờ bắt gặp lăng mộ của Bibulus. "Cụ Bibulus đây rồi," chàng thanh niên nói. "Di tích cổ nhất của thời kỳ La Mã cộng hòa!" cô Winchelsea tiếp lời.

"Tớ dốt đặc cán mai," Fanny nói, "nhưng Bibulus là ai thế nhỉ?"

Bỗng xuất hiện một khoảng lặng kỳ lạ.

Helen nói: "Chẳng phải đó là người đã xây bức tường thành sao?"

Chàng thanh niên liếc nhìn nhanh về phía cô rồi phì cười. "Đó là Balbus cơ mà," anh ta bảo. Helen đỏ bừng mặt, nhưng cả anh ta lẫn cô Winchelsea đều chẳng ai thèm đả động gì để giải vây cho sự dốt nát của Fanny về nhân vật Bibulus.

Helen có vẻ ít nói hơn ba người còn lại, nhưng xưa nay cô vốn trầm tính như vậy, và thường thì cô sẽ là người giữ vé tàu cùng những thứ đại loại thế, hoặc để mắt đến chúng nếu chàng thanh niên cầm giúp, rồi mách cho anh ta biết chúng đang ở đâu khi anh cần tới. Những người trẻ tuổi này đã có quãng thời gian thật huy hoàng biết bao trong thành phố mang màu nâu nhạt, sạch sẽ và chan chứa hoài niệm từng là cả thế giới ấy. Niềm phiền muộn duy nhất của họ chính là thời gian trôi qua quá nhanh. Quả thực, họ từng phàn nàn rằng những chiếc xe điện, những tòa nhà củng cố từ năm '70, và tấm biển quảng cáo tội lỗi đập vào mắt ngay tại quảng trường Di tích La Mã đã xúc phạm nghiêm trọng đến cảm quan thẩm mỹ của họ; nhưng đó cũng chỉ là một phần thú vị của chuyến đi. Và quả thực Rome là một nơi tuyệt diệu đến mức nó khiến cô Winchelsea đôi khi quên bẵng cả những sự say mê đã được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất của mình, còn Helen, khi bị bất ngờ đánh úp, đôi khi cũng phải thốt lên thừa nhận vẻ đẹp của những điều bất ngờ. Thế nhưng, giá mà cô Winchelsea không tỏ thái độ bài xích kiên quyết với tất cả những du khách đồng hương khác khiến cho khu vực ấy trở thành vùng cấm địa, thì có lẽ Fanny và Helen đã rất thích thú nếu được ngắm nghía dăm ba khung cửa sổ cửa hàng ở khu phố Anh.

Tình bạn tâm giao về mặt tri thức và thẩm mỹ giữa cô Winchelsea và chàng học giả trẻ tuổi đã thầm lặng chuyển hóa thành một thứ tình cảm sâu sắc hơn. Cô nàng Fanny rạng rỡ đã cố gắng hết sức để theo kịp sự ngưỡng mộ uyên bác của họ bằng cách phát huy tối đa vốn từ "đẹp tuyệt" của mình, đồng thời luôn hào hứng thốt lên "Ôi! Đi thôi nào!" với sự thèm thuồng tột độ mỗi khi có một địa điểm tham quan mới được nhắc tới. Nhưng càng về cuối, Helen lại tỏ ra có chút thiếu đồng điệu khiến cô Winchelsea hơi thất vọng. Cô kiên quyết không tìm thấy "một chút gì" đáng để ngắm ở gương mặt Beatrice Cenci – nàng Beatrice Cenci của Shelley! – tại phòng tranh Barberini; và có lần, khi mọi người đang ca thán về hệ thống xe điện, cô đã càu nhàu đáp lại rằng: "Người ta thể nào cũng phải đi lại chứ, còn hơn là tra tấn những con ngựa trên mấy con dốc khủng khiếp này." Cô dám gọi Bảy ngọn đồi lịch sử của Rome là "mấy con dốc khủng khiếp"!.

Và vào cái ngày họ đi lên đồi Palatine – dẫu cô Winchelsea không hề hay biết chuyện này – Helen bất chợt nói với Fanny: "Đừng có bước nhanh thế chứ, cậu bạn nhỏ; họ đâu có muốn chúng ta bắt kịp đâu. Hơn nữa, khi lại gần, chúng ta cũng chẳng thốt nổi những câu đúng ý họ."

"Tớ có định bắt kịp họ đâu," Fanny vừa nói vừa giảm bớt nhịp bước chân vốn quá nhanh của mình; "Tớ không hề định thế thật mà." Và trong một phút, cô thở hồng hộc vì mệt.

Nhưng cô Winchelsea thì đã chạm tay vào hạnh phúc. Phải mãi về sau, khi nhìn lại qua một thảm kịch chắn ngang, cô mới nhận ra trọn vẹn mình đã hạnh phúc nhường nào khi được dạo bước giữa những phế tích ngập bóng cây bách, và trao đổi với nhau những tri thức đỉnh cao nhất mà trí tuệ nhân loại có thể chạm tới, cùng những ấn tượng tinh tế nhất có thể truyền đạt. Tình cảm cứ thế len lỏi một cách vô thức vào mối quan hệ của họ, để rồi cuối cùng thoải mái tắm mình dưới ánh nắng rực rỡ một cách công khai khi bóng dáng hiện đại của Helen không đứng quá gần. Niềm hứng thú của họ cũng tự nhiên dịch chuyển từ những hoài niệm vĩ đại xung quanh sang những cảm xúc riêng tư và gần gũi hơn. Những thông tin dần được hé lộ một cách dè dặt; cô bóng gió nhắc về ngôi trường của mình, về những thành tích thi cử, và sự nhẹ nhõm khi những ngày tháng "nhồi nhét" đã lùi vào dĩ vãng. Anh ta cũng làm rõ rằng bản thân mình cũng là một nhà giáo. Họ nói về sự vĩ đại của nghề nghiệp mình theo đuổi, về sự cần thiết của sự đồng cảm để đối mặt với những chi tiết tẻ nhạt thường ngày, và về nỗi cô đơn le lói mà đôi khi họ vẫn cảm nhận được.

Đó là lúc ở Đấu trường La Mã, và đó cũng là điểm dừng chân cuối cùng của họ ngày hôm ấy, bởi Helen đã quay lại tìm Fanny – cô đã dẫn Fanny lên các tầng tham quan phía trên. Dù vậy, những giấc mơ thầm kín của cô Winchelsea, vốn đã đủ sinh động và cụ thể nay lại càng trở nên vô cùng thực tế. Cô hình dung ra chàng thanh niên dễ mến ấy đang say sưa giảng bài theo cách truyền cảm hứng nhất cho các sinh viên của mình, còn bản thân cô thì khiêm nhường sánh bước bên anh như một người tri âm tri kỷ về mặt trí tuệ; cô mường tượng ra một tổ ấm nhỏ bé tao nhã, có hai chiếc bàn làm việc, những dãy kệ trắng trưng bày sách cao cấp, những bản in ảnh các tác phẩm của Rossetti và Burne Jones, với giấy dán tường của Morris và những chậu hoa cắm trong bình đồng gõ thủ công. Quả thực cô đã mường tượng ra biết bao điều. Trên đồi Pincio, hai người có vài khoảnh khắc quý giá ở bên nhau khi Helen lôi tuột Fanny đi ngắm bức tường muro Torto, và anh ta đã thẳng thắn mở lời. Anh nói anh hy vọng tình bạn của họ chỉ mới là khởi điểm, rằng anh đã sớm cảm thấy sự đồng hành của cô vô cùng quý giá, và thực ra nó còn hơn thế nữa.

Anh ta trở nên bối rối, dùng những ngón tay run rẩy đẩy gọng kính lên như thể sợ rằng cảm xúc của mình sẽ khiến chúng rơi xuống. "Đương nhiên là tôi," anh nói, "sẽ kể cho cô nghe về bản thân mình. Tôi biết việc đường đột ngỏ lời với cô thế này là hơi khác thường. Chỉ vì cuộc gặp gỡ của chúng ta quá đỗi tình cờ – hoặc do định mệnh – và tôi đang phải chớp lấy thời cơ. Khi đến Rome, tôi chỉ nghĩ đến một chuyến đi đơn độc... vậy mà tôi đã hạnh phúc biết bao, hạnh phúc nhường nào. Mới đây thôi, tôi nhận ra mình đã có một chỗ đứng... tôi đã dám nghĩ rằng...... Và——"

Anh ta liếc qua vai rồi khựng lại. Anh ta thốt lên một tiếng "Chết tiệt!" rất rõ ràng – nhưng cô không hề trách cứ phút lơ đễnh đầy nam tính và suồng sã ấy của anh. Cô ngước nhìn lên và thấy người bạn Leonard đang tiến lại gần. Anh ta đến gần hơn, ngả mũ chào cô Winchelsea với một nụ cười gần như toe toét. "Tôi tìm cậu đỏ cả mắt, Snooks," anh ta nói. "Cậu hứa có mặt ở bậc thềm Quảng trường từ nửa tiếng trước cơ mà."

Snooks! Cái tên ấy giáng thẳng vào cô Winchelsea như một cú tát trời giáng vào mặt. Cô không nghe thấy anh ta đáp lại điều gì. Về sau, cô cứ nghĩ chắc hẳn Leonard phải coi cô là một kẻ có bộ óc mơ hồ nhất trần đời. Cho đến tận bây giờ, cô vẫn không chắc mình có được giới thiệu với Leonard hay không, và cô đã nói gì với hắn nữa. Một thứ tê liệt tinh thần đang bao trùm lấy cô. Trong tất cả những cái họ khó ưa nhất – lại là Snooks!

Helen và Fanny đang quay trở lại, những lời chào hỏi xã giao cất lên, và hai chàng thanh niên đang lùi dần khuất bóng. Bằng một nỗ lực phi thường, cô kìm nén bản thân để đối mặt với ánh mắt dò hỏi của mấy người bạn. Suốt buổi chiều hôm đó, cô sống cuộc đời của một nữ anh hùng dưới sự sỉ nhục không thể diễn tả nổi mang tên đó, miệng vẫn trò chuyện, vẫn quan sát, trong khi cái tên "Snooks" đang gặm nhấm tâm can cô. Kể từ khoảnh khắc nó vang lên bên tai cô, giấc mơ hạnh phúc của cô đã ngã gục vào cõi bụi mù. Tất cả những nét thanh tao mà cô hằng mường tượng đều bị tàn phá và bôi nhọ bởi sự bình dân trơ trẽn đến gai người của cái họ ấy.

Cái tổ ấm nhỏ bé tao nhã ấy giờ có ý nghĩa gì với cô nữa chứ, dẫu cho có ảnh nghệ thuật, giấy dán tường Morris và bàn làm việc đi chăng nữa? Vắt ngang qua nó là một dòng chữ rực lửa bằng những ký tự không thể tin nổi: "Bà Snooks". Đọc đến đây, độc giả có thể thấy đó chỉ là chuyện nhỏ, nhưng hãy nghĩ đến tâm hồn mỏng manh, thanh tao của cô Winchelsea xem. Hãy cứ tỏ ra thanh tao hết mức có thể rồi thử nghĩ đến cảnh tự gọi tên mình là: "Snooks". Cô hình dung ra cảnh mình được gọi là bà Snooks bởi tất cả những kẻ mà cô ghét cay ghét đắng, mường tượng cái họ mang đậm chất miệt thị ấy chạm đến tai mình. Cô vẽ ra một tấm thiệp cưới màu xám bạc với chữ 'Winchelsea' bị mũi tên của thần Tình yêu xuyên qua một cách đắc thắng để nhường chỗ cho cái tên "Snooks". Thật là một sự thú nhận nhục nhã của sự yếu đuối đàn bà! Cô tưởng tượng ra cảnh reo hò vui mừng khủng khiếp của mấy cô bạn gái nào đó, của mấy anh họ buôn bán tập hóa mà sự thanh tao ngày một lớn dần của cô đã sớm khiến họ trở nên xa lạ từ lâu. Họ sẽ viết cái tên ấy ngoằn ngoèo tràn lan ra sao trên phong bì thư gửi những lời chúc mừng mỉa mai đến dường nào. Liệu sự hiện diện dễ chịu của anh ta có đủ sức bù đắp cho cô điều đó không? "Thật không thể tưởng tượng nổi," cô lầm bầm; "Không thể nào! Snooks!"

Cô thấy thương hại anh ta, nhưng thương mình nhiều hơn. Riêng với anh ta, cô có chút phẫn nộ. Đã cư xử lịch thiệp, tao nhã thế cơ mà, vậy mà hóa ra suốt từng ấy thời gian anh ta lại là một kẻ mang họ "Snooks", việc che giấu dưới một phong thái hào nhoáng giả tạo cái vết nhơ tội lỗi từ họ của mình chẳng khác nào một sự phản bội. Nói theo ngôn ngữ của khoa học tình cảm, cô cảm giác anh ta đã "lừa phỉnh" mình.

Tất nhiên, cũng có những khoảnh khắc dao động khủng khiếp, thậm chí có lúc thứ tình cảm tựa như ngọn lửa đam mê thúc giục cô vứt xách cái sự thanh tao ấy ra chuồng gà. Và trong thâm tâm cô vẫn còn sót lại một vệt bình dân chưa được gột rửa sạch sẽ, cố gắng vùng vẫy chứng minh rằng cái tên Snooks suy cho cùng cũng không đến nỗi tệ hại như thế. Mọi sự chần chừ ngập ngừng đều bay biến trước thái độ của Fanny, khi cô nàng mang theo vẻ mặt như thể tận thế đến để báo rằng mình cũng đã biết cái sự thật kinh hoàng ấy. Giọng Fanny hạ thấp xuống thành tiếng thì thầm mỗi khi thốt lên từ Snooks. Cô Winchelsea kiên quyết không đưa ra câu trả lời nào cho anh khi cuối cùng cô có cơ hội gặp riêng anh một phút trong viện bảo tàng Borghese; nhưng cô hứa sẽ gửi cho anh một lá thư.

Cô nhét bức thư đó vào trang sách của tập thơ mà anh đã cho cô mượn, cuốn sách nhỏ từng kéo hai người xích lại gần nhau lần đầu tiên. Lời từ chối của cô mang ý tứ mơ hồ, bóng gió. Cô chẳng thể nói cho anh biết lý do tại sao mình từ chối cũng như chẳng thể chỉ cho một kẻ thọt thấy cái bướu trên lưng hắn vậy. Hẳn anh ta cũng phải cảm nhận được cái sự quái gở không thể thốt nổi từ cái tên của chính mình. Bây giờ cô mới nhận ra, thảo nào anh ta đã né tránh hàng tá cơ hội để thổ lộ nó. Thế nên cô đành viện dẫn "những trở ngại không thể tiết lộ" – "những lý do khiến điều anh ấy nói là bất khả kháng". Cô run rẩy viết bên ngoài phong bì: "E.K. Snooks."

Mọi chuyện còn tệ hơn những gì cô hằng lo sợ; anh ta viết thư đòi cô giải thích. Giải thích sao đặng đây? Hai ngày cuối cùng ở Rome thật kinh khủng. Cô bị ám ảnh bởi vẻ mặt đầy bối rối và ngạc nhiên của anh. Cô thừa nhận mình đã trao cho anh những hy vọng gần gũi, nhưng cô lại chẳng đủ can đảm để rà soát lại tâm can xem mức độ khích lệ của mình đã đi đến đâu. Cô biết chắc chắn anh sẽ coi cô là kẻ thay đổi mặt mũi nhanh hơn lật bánh tráng. Giờ đây khi đã rút lui toàn tập, cô thậm chí còn chẳng thèm đoái hoài đến những gợi ý về khả năng duy trì thư tín của anh. Nhưng trong chuyện này, anh lại làm một việc mà cô cho là vừa tinh tế vừa lãng mạn. Anh biến Fanny thành kẻ trung gian. Fanny không giữ được bí mật, liền chạy đến kể cho cô nghe vào đêm hôm ấy dưới một cái cớ lộ liễu là cần xin lời khuyên. Fanny nói: "Mr. Snooks muốn viết thư cho tớ. Cậu tưởng tượng nổi không! Tớ chẳng ngờ tới. Nhưng tớ có nên nhận lời không nhỉ?" Họ bàn tán về chuyện đó thật lâu và nghiêm túc, và cô Winchelsea đã rất cẩn trọng để che đậy trái tim mình. Cô đã bắt đầu hối hận vì đã phớt lờ những ám hiệu của anh. Tại sao cô lại không thể thỉnh thoảng nghe ngóng tin tức về anh cơ chứ – dù rằng cái tên ấy có đau đớn đến đâu đối với cô? Cô Winchelsea quyết định việc đó là có thể châm chước được, và Fanny ôm chúc cô ngủ ngon với một vẻ xúc động lạ thường. Sau khi Fanny đi rồi, cô Winchelsea ngồi thẫn thờ bên cửa sổ căn phòng nhỏ của mình rất lâu. Trăng sáng vằng vặc, và phía dưới đường, có ai đó đang cất tiếng hát bài "Santa Lucia" với nỗi dịu dàng gần như làm tan nát cõi lòng... Cô ngồi lặng im phăng phắc.

Cô khe khẽ thốt lên một từ với chính mình. Từ đó là "Snooks". Rồi cô thở dài sườn sượt, đứng dậy và đi ngủ. Sáng hôm sau, anh ta nhìn cô đầy ngụ ý và bảo: "Tôi sẽ có tin tức của cô thông qua người bạn của cô đấy."

Mr. Snooks tiễn họ rời khỏi Rome với vẻ mặt ngơ ngác đầy bi ai vẫn hằn in trên khuôn mặt, và nếu không có Helen ngăn lại thì có lẽ anh ta đã giữ khư khư chiếc túi xách của cô Winchelsea trên tay như một thứ kỷ vật bách khoa toàn thư rồi. Trên đường trở về nước Anh, cô Winchelsea đã bắt Fanny hứa đến sáu lần phải viết cho mình những bức thư dài ơi là dài. Hóa ra Fanny lại ở khá gần chỗ của Mr. Snooks. Ngôi trường mới của cô nàng – cô ta cứ liên tục chuyển trường hoài – chỉ cách Steely Bank có năm dặm, và Mr. Snooks thường giảng dạy ở Bách nghệ Steely Bank cùng một vài ngôi trường hạng nhất khác. Thậm chí thỉnh thoảng anh ta còn có thể ghé thăm cô nàng. Họ chẳng thể nói gì nhiều về anh – cô và Fanny lúc nào cũng chỉ nhắc đến "anh ấy", chẳng bao giờ thèm gọi tên Mr. Snooks – bởi vì Helen cứ hễ nghe thấy là lại thốt ra những lời lẽ thiếu thiện cảm. Cô Winchelsea nhận ra bản tính của Helen đã trở nên thô lỗ đi rất nhiều kể từ những ngày còn ở Trường Sư phạm; cô nàng đã trở nên thực dụng và cay nghiệt. Helen cho rằng anh ta có gương mặt nhạt nhòa, yếu đuối, vì nhầm lẫn sự tinh tế với vẻ yếu đuối như thói quen của những kẻ cùng hạng với cô ta, và khi nghe tên anh là Snooks, cô ta còn bảo mình đã đoán trước được cơ sự ấy. Kể từ dạo đó, cô Winchelsea cẩn thận giấu kín cảm xúc của mình, nhưng Fanny thì lại bớt dè dặt hơn hẳn.

Mấy cô gái chia tay nhau ở London, và cô Winchelsea trở lại với niềm đam mê mới trong cuộc sống tại Trường Trung học Nữ sinh – nơi cô đã là một trợ giảng ngày càng có giá trị trong suốt ba năm qua. Niềm vui mới mẻ ấy chính là Fanny trong vai trò một người bạn qua thư, và để làm gương cho bạn, cô đã viết một bức thư dài miêu tả đủ thứ chỉ trong vòng chưa đầy hai tuần sau khi về nước. Fanny đáp lại một cách vô cùng tẻ nhạt. Quả thật Fanny chẳng có chút năng văn chương nào, nhưng việc cảm thấy thất vọng vì sự thiếu hụt tài năng ở một người bạn là một trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ đối với cô Winchelsea. Bức thư ấy thậm chí còn bị lôi ra mổ xẻ chê bai lớn tiếng trong không gian an toàn và cô độc của phòng nghiên cứu cá nhân của cô, và lời bình phẩm được thốt lên với sự cay đắng tột cùng chính là: "Đồ nhảm nhí!" Thư toàn những chuyện tương tự như những gì trong thư của chính cô, những chi tiết vụn vặt về trường học. Còn về Mr. Snooks, chỉ độc dòng này: "Tớ vừa nhận được thư của Mr. Snooks, và anh ấy đã qua thăm tớ liền tù tì hai chiều thứ Bảy. Anh ấy nói về Rome và về cậu; cả hai chúng tớ đều nhắc đến cậu. Chắc tai cậu lúc ấy phải đỏ bừng lên ấy chứ, cậu tôi ơi..."

Cô Winchelsea nén lại mong muốn đòi hỏi thêm những thông tin cụ thể hơn, và lại viết một bức thư dài vô cùng ngọt ngào. "Kể cho tớ nghe mọi thứ về cậu đi, cậu yêu. Chuyến đi ấy đã hâm nóng tình bạn lâu năm của chúng ta, và tớ rất muốn giữ liên lạc với cậu." Còn về Mr. Snooks, mãi đến trang thứ năm cô mới tiện tay viết thêm rằng cô rất vui vì Fanny đã gặp lại anh, và nếu anh có hỏi thăm về cô thì nhờ gửi lời hỏi thăm thật thân thiết (có gạch chân) đến anh nhé. Và Fanny lại đáp lại một cách ngớ ngẩn theo đúng tông điệu của cái gọi là "tình bạn lâu năm" ấy, nhắc lại hàng tá chuyện ngớ ngẩn thời niên thiếu ở trường Sư phạm, và tuyệt nhiên không đả động gì đến Mr. Snooks nữa!

Gần một tuần liền, cô Winchelsea tức điên lên vì sự vô tích sự của Fanny trong vai trò cầu nối, đến mức cô chẳng buồn viết thư cho cô ta nữa. Rồi cô viết lại với giọng điệu bớt nồng nhiệt hơn, và trong thư cô hỏi thẳng thừng: "Cậu có gặp Mr. Snooks không đấy?" Thư của Fanny gửi lại bất ngờ khiến cô thỏa mãn. "Tớ có gặp Mr. Snooks," cô nàng viết, và một khi đã gọi tên rồi thì cứ thế huyên thoả thế này thế nọ về anh ta – toàn là Snooks thế này, Snooks thế nọ. Fanny cho hay, trong số những dự định sắp tới, anh chuẩn bị có một buổi thuyết trình công khai. Thế nhưng, dẫu qua cơn phấn khích ban đầu, cô Winchelsea vẫn thấy bức thư này có chút gì đó chưa trọn vẹn. Fanny không hề tường thuật xem Mr. Snooks có nhắc gì đến cô Winchelsea không, hay trông anh có vẻ xanh xao, hốc hác đi chút nào không, đúng ra anh phải thế mới phải chứ. Và kìa! Chưa kịp để cô đáp thư, một bức thư thứ hai từ Fanny lại bay tới cũng với chủ đề cũ, một bức thư sướt mướt kéo dài đến sáu trang giấy với nét chữ cái buông thả đặc trưng của phụ nữ.

Và có một chi tiết nhỏ khá kỳ lạ trong bức thư thứ hai này mà cô Winchelsea chỉ phát hiện ra khi đọc lại nó lần thứ ba. Bản tính nữ nhi tự nhiên của Fanny đã lấn át cả những quy chuẩn tròn trịa, rành mạch của trường Sư phạm; cô nàng thuộc tuýp những sinh vật sinh ra với nét chữ m, n, u, r, e trông tựa như nhau, chữ o và a thì cứ để ngở và chữ i thì luôn quên chấm. Thế nên, phải sau một hồi so sánh từng từ một cách công phu, cô Winchelsea mới chắc chắn rằng Mr. Snooks thực ra chẳng hề mang họ "Snooks" chút nào! Ở bức thư sướt mướt đầu tiên của Fanny, anh là Mr. "Snooks", nhưng sang bức thứ hai, cách viết đã đổi thành Mr. "Senoks". Bàn tay cô Winchelsea thực sự run lên khi lật trang giấy – điều đó mang ý nghĩa quá lớn đối với cô. Bởi vì cô đã bắt đầu nghĩ rằng ngay cả cái họ Snooks, nếu phải đánh đổi bằng một cái giá quá đắt, cũng có thể né tránh được, và đột nhiên – cơ hội này lại bày ra! Cô lật qua sáu trang giấy, trang nào cũng lấm tấm cái tên đầy tranh cãi ấy, và chỗ nào chữ cái đầu tiên cũng mang hình hài của một chữ e!

Suốt một hồi, cô đi đi lại lại trong phòng, một tay áp chặt lên ngực trái.

Cô mất nguyên một ngày để nghiền ngẫm sự thay đổi này, cân nhắc việc viết một lá thư thăm dò sao cho vừa kín đáo vừa hiệu quả; đồng thời cũng trù tính xem mình nên hành động ra sao sau khi nhận được câu trả lời. Cô tự nhủ rằng nếu cách viết mới này không chỉ đơn thuần là một ngẫu hứng kỳ cục nào đó của Fanny, cô sẽ lập tức viết thư cho Mr. Snooks. Lúc này, cô đã chạm đến cái ranh giới mà ở đó những phép tắc cư xử nhỏ nhặt nhất cũng phải bay biến. Cái cớ để viết thư vẫn chưa được nghĩ ra, nhưng chủ đề thì đã rành mạch trong đầu cô, thậm chí còn bóng gió rằng "những biến cố trong đời tôi đã thay đổi rất nhiều kể từ khi chúng ta trò chuyện cùng nhau." Nhưng cô chẳng bao giờ kịp đưa ra cái bóng gió ấy. Một bức thư thứ ba từ người bạn nay nắng mai mưa ấy lại tới. Dòng đầu tiên đã tuyên bố cô nàng là "cô gái hạnh phúc nhất trên đời".

Cô Winchelsea vò nát bức thư trong tay – phần còn lại chẳng buồn đọc tiếp – mặt bỗng đờ đẫn đi trong tĩnh lặng. Cô nhận được nó ngay trước giờ lên lớp buổi sáng, và mở ra đọc lúc đám học sinh toán khối dưới đang cặm cụi làm bài. Chẳng mấy chốc cô lại tiếp tục đọc với vẻ bình thản đến lạ lùng. Nhưng qua hết trang thứ nhất, cô nhảy thẳng sang trang thứ ba mà chẳng mảy để ý đến lỗi đọc sót: "tớ đã thành thật nói với anh ấy rằng tớ không thích cái họ đó," phần đầu trang ba viết. "Anh ấy bảo chính anh ấy cũng chẳng ưa gì nó – cậu biết cái kiểu tính cách bộc trực, đột ngột ấy của anh ấy rồi đấy" – cô Winchelsea thừa biết chứ. "Thế là tớ mới bảo, 'anh không thể đổi nó đi được à?' Lúc đầu anh ấy không chịu. À thì cậu biết đấy, anh ấy đã kể cho tớ nghe nguồn gốc thực sự của nó; thực ra nó là Sevenoaks, chỉ là bị đọc chệch đi thành Snooks thôi – cả Snooks lẫn Noaks, dẫu có là những cái họ bình dân thô tục đi chăng nữa, thực chất đều là những biến thể của Sevenoaks. Thế là tớ mới bảo – thỉnh thoảng tớ cũng có những ý tưởng lóe sáng chứ bộ – 'Nếu nó đã bị đọc chệch từ Sevenoaks thành Snooks, sao anh không đổi ngược lại từ Snooks thành Sevenoaks đi?' Và đầu đuôi là thế đấy cậu ạ, anh ấy chẳng thể từ chối tớ, và anh ấy đã đổi cách đánh vần thành Senoks ngay tại chỗ trên các tờ rơi cho buổi diễn thuyết mới. Rồi sau này, khi chúng tớ kết hôn, chúng tớ sẽ thêm dấu lược vào để thành Se'noks. Chẳng phải anh ấy quá dịu dàng khi chịu chiều theo cái ý thích dở hơi ấy của tớ sao, trong khi khối kẻ khác thể nào cũng thấy chướng tai gai mắt? Nhưng con người anh ấy lúc nào cũng vậy; vừa tốt bụng lại vừa thông minh. Bởi vì anh ấy thừa hiểu, cũng như tớ hiểu, rằng tớ vẫn sẽ nhận lời lấy anh cho dù cái họ Snooks ấy có nhân lên gấp mười lần đi chăng nữa. Thế nhưng anh vẫn làm điều đó."

Cả lớp giật mình thon thót bởi âm thanh xé giấy phũ phàng, và ngước lên thì thấy mặt cô Winchelsea cắt không còn giọt máu, một tay đang nắm chặt những mẩu giấy vụn nhỏ xíu. Trong vài giây, chúng trân trân nhìn cái vẻ mặt đờ đẫn của cô, rồi biểu cảm ấy lại chuyển về dáng vẻ quen thuộc thường ngày. "Có ai làm xong bài số ba chưa?" cô hỏi với chất giọng đều đều. Kể từ lúc đó cô vẫn giữ được vẻ bình tĩnh. Nhưng ngày hôm đó số lượng bài phạt bị phát ra cao ngút ngàn. Và cô đã phải vật lộn mất hai buổi tối liền để viết đủ loại thư nháp gửi Fanny, trước khi tìm ra được một giọng điệu chúc mừng sao cho thật ra dáng bề trên. Lý trí của cô tuyệt vọng chống cự lại cái ý nghĩ rằng Fanny đã cư xử một cách vô cùng phản bội.

Người ta có thể vô cùng thanh tao nhưng vẫn mang một trái tim tan nát. Quả thực trái tim cô Winchelsea lúc này đang nhức nhối vô cùng. Cô trải qua những quãng thời gian mang tâm lý bài xích nam giới, trong đó cô vơ đũa cả nắm một cách cay nghiệt về phái mạnh. "Anh ta đã tự đánh mất mình khi ở bên tôi," cô tự nhủ. "Nhưng Fanny thì hồng hào, xinh xắn, mềm mại và ngốc nghếch – một cặp đôi hoàn hảo cho một Tên Đàn ÔNG." Và để làm quà cưới, cô gửi tặng Fanny một tập thơ được đóng bìa trang nhã của George Meredith, để rồi nhận lại từ Fanny một bức thư hạnh phúc đến mức ngớ ngẩn thông báo rằng quà "đẹp tuyệt trần". Cô Winchelsea thầm mong rằng có một ngày nào đó Mr. Senoks sẽ cầm tập thơ mỏng manh ấy lên và thoáng nghĩ về người đã tặng nó. Fanny viết thư cho cô vài lần trước và sau đám cưới, vẫn theo đuổi cái huyền thoại sướt mướt về "tình bạn lâu năm" của họ và kể lể tường tận về hạnh phúc của mình. Còn cô Winchelsea thì viết thư cho Helen lần đầu tiên kể từ chuyến đi Rome, không hề đả động gì đến chuyện cưới xin mà chỉ bày tỏ những tình cảm vô cùng nồng ấm.

Họ đã ở Rome vào dịp Lễ Phục sinh, và Fanny kết hôn vào kỳ nghỉ tháng Tám. Cô nàng viết một bức thư dài dòng lê thê gửi cô Winchelsea, miêu tả cảnh về nhà chồng và cách sắp xếp gây choáng váng cho ngôi nhà "bé xíu xiu" của họ. Trong ký ức của cô Winchelsea lúc này, Mr. Se'noks đã bắt đầu khoác lên mình một vẻ thanh tao vượt xa cả thực tế, và cô cứ mãi uổng công tưởng tượng cái vóc dáng vĩ đại mang đậm chất uyên bác của anh trong một ngôi nhà "bé xíu xiu". Fanny viết nguệch ngoạc đến tận cuối trang thứ ba: "Tớ đang bận sơn phết lại một góc ấm cúng, nên xin phép dừng bút nhé." Cô Winchelsea đáp thư bằng phong cách đỉnh cao của mình, nhẹ nhàng trêu chọc cách bài trí của Fanny và thầm nuôi hy vọng cháy bỏng rằng Mr. Se'noks có thể đọc được bức thư đó. Chỉ nhờ có hy vọng ấy mà cô mới có thể đặt bút viết nổi, không chỉ đáp lại bức thư vừa rồi mà còn cả bức thư tháng Mười một và một bức vào dịp Giáng sinh.

Hai bức thư sau chứa đựng những lời mời khẩn nỉ cô ghé thăm Steely Bank trong kỳ nghỉ Giáng sinh. Cô cố tự nhủ rằng chính anh là người đã nhắc Fanny mời cô, nhưng nghe giống bản tính hào phóng thái quá của Fanny hơn. Cô không tài nào tin nổi là đến lúc này anh ta vẫn chưa thấy chán ngấy cái mớ hỗn độn do chính mình gây ra; và cô tràn trề hy vọng rằng anh sẽ sớm viết cho cô một bức thư bắt đầu bằng dòng chữ "Bạn thân mến". Một chút bi kịch nhuốm màu tế vi trong sự chia ly này chính là chỗ dựa lớn lao cho cô, một sự hiểu lầm đầy tiếc nuối. Bị bỏ rơi mới là điều không tài nào chịu đựng nổi. Nhưng anh ta chẳng bao giờ viết bức thư bắt đầu bằng câu "Bạn thân mến" ấy cả.

Suốt hai năm trời, cô Winchelsea kiên quyết không đến thăm những người bạn của mình, dẫu cho những lời khẩn nỉ của bà Sevenoaks cứ lặp đi lặp lại – cái họ ấy đã đổi hẳn thành Sevenoaks vào năm thứ hai. Rồi vào một ngày gần kỳ nghỉ Lễ Phục sinh, cô cảm thấy cô đơn tột cùng và chẳng có nổi một tâm hồn nào trên cõi đời này thấu hiểu mình, tâm trí cô lại một lần nữa hướng về cái gọi là tình bạn thuần khiết Platon. Fanny rõ ràng đang hạnh phúc và tất bật với mái ấm gia đình nhỏ bé của mình, nhưng chắc hẳn anh cũng có những phút giây cô độc. Liệu anh có bao giờ nhớ về những ngày tháng ở Rome, những ngày nay đã trôi xa chẳng thể tìm lại? Chẳng ai hiểu cô như anh đã từng; chẳng một ai trên thế gian này. Lại được trò chuyện với anh hóa ra lại là một thứ niềm vui u sầu, và việc đó thì có hại gì cơ chứ? Tại sao cô phải tự khắt khe với bản thân? Đêm hôm đó, cô viết một bài thơ mổm, ngoại trừ hai câu cuối của đoạn tám cứ mãi không sao chịu tuôn ra; và hôm sau, cô soạn một tấm thiệp nhỏ thật tao nhã báo cho Fanny biết mình sắp ghé thăm.

Và thế là cô đã gặp lại anh.

Ngay từ cái nhìn đầu tiên, rõ ràng anh đã thay đổi; anh có vẻ mập mạp hơn và bớt bối rối hơn, và chẳng mất nhiều thời gian để nhận ra cuộc trò chuyện của anh đã đánh mất phần lớn sự tinh tế thuở nào. Thậm chí người ta còn thấy có lý do để công nhận lời miêu tả của Helen về vẻ yếu đuối trên gương mặt anh – ở một số góc độ trông anh thực sự yếu đuối. Anh tỏ ra bận rộn và bận tâm với công việc riêng của mình, và dường như còn đinh ninh rằng cô Winchelsea đến đây cốt là vì Fanny. Anh bàn luận về bữa tối với Fanny một cách rất ra điều hiểu biết. Họ chỉ có đúng một cuộc trò chuyện dài ra ngô ra khoai, nhưng rốt cuộc chẳng đi đến đâu. Anh không hề đả động gì đến Rome, mà lại dành thời gian để chì chiết một gã nào đó đã nỡ lòng cướp mất ý tưởng viết sách giáo khoa của anh. Đối với cô Winchelsea, ý tưởng đó chẳng có gì là vĩ đại cho lắm. Cô phát hiện ra anh đã quên bén tên của hơn một nửa số họa sĩ mà họ từng cùng nhau ca tụng hết lời ở Florence.

Đó là một tuần lễ đầy những nỗi thất vọng não nề, và cô Winchelsea thấy nhẹ nhõm biết bao khi nó kết thúc. Lấy đủ mọi lý do, cô tránh không bao giờ ghé lại thăm họ nữa. Sau một thời gian, căn phòng dành cho khách đã bị chiếm dụng bởi hai cậu nhóc tì nhà họ, và những lời mời mọc của Fanny cũng chấm dứt từ đó. Sự gắn bó trong những bức thư của họ cũng đã phai nhạt từ lâu lắm rồi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.