Villette

Lượt đọc: 244 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Miss Marchmont.

❊ ❊ ❊

Khi rời Bretton — việc mà tôi làm vài tuần sau khi Paulina ra đi, lúc ấy hoàn toàn không nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ còn quay lại nơi đó nữa, sẽ chẳng bao giờ còn bước đi trên những con phố cổ kính và tĩnh lặng ấy — tôi trở về nhà sau sáu tháng vắng bóng. Người ta hẳn sẽ đoán rằng tôi rất đỗi vui mừng khi được trở về mái ấm gia đình. Chà! Phỏng đoán tốt bụng ấy chẳng hại gì, và vì thế cứ để nó yên vị mà không cần thanh minh. Thật ra, chẳng những không phủ nhận, tôi còn cho phép hình dung tôi trong suốt tám năm tới như một chiếc thuyền nhỏ đang thả trôi qua những ngày thời tiết yên bình, trong một vùng hải cảng phẳng lặng như gương — người lái tàu nằm duỗi cẳng trên boong nhỏ, mặt hướng lên trời, đôi mắt khép lại: chìm đắm, nếu bạn muốn gọi thế, trong một lời cầu nguyện dài dằng dặc. Rất nhiều phụ nữ và thiếu nữ được cho là đã trải qua cuộc đời mình cứ theo cái lối ấy; hà cớ gì tôi lại không thể như họ?

Vậy hãy hình dung tôi khi ấy là kẻ nhàn rỗi, phơi mình, đầy đặn và hạnh phúc, nằm duỗi dài trên chiếc boong có đệm, sưởi ấm bởi ánh nắng ngập tràn, được ru đưa bởi những làn gió nhẹ nhàng đến dửng dưng. Thế nhưng, không thể giấu giếm rằng, nếu vậy thì hẳn tôi đã ngã nhào xuống biển tự lúc nào, hoặc thế nào cũng phải có một trận đắm tàu ở đoạn cuối. Tôi quá nhớ rõ một quãng thời gian — một quãng thời gian dài — đầy lạnh lẽo, hiểm nguy và tranh đấu. Cho đến tận giờ, mỗi khi gặp ác mộng, nó lại tái hiện cái cảm giác những con sóng mặn chát ào ạt dội qua cổ họng và sức nặng buốt giá của chúng đè nặng lên lồng ngực tôi. Tôi thậm chí biết rằng đã có một cơn bão, và nó kéo dài không chỉ một giờ hay một ngày. Suốt bao nhiêu ngày đêm, chẳng thấy mặt trời lẫn ánh sao; chính tay chúng tôi đã vứt bỏ ngư cụ khỏi tàu; một trận cuồng phong dữ dội trùm lên đầu chúng tôi; mọi hy vọng cứu rỗi đều tiêu tan. Cuối cùng, con tàu đắm, thủy thủ đoàn thiệt mạng.

Theo trí nhớ của tôi, tôi đã chẳng phàn nàn với bất kỳ ai về những giông bão ấy. Thật ra, tôi có thể phàn nàn với ai cơ chứ? Mrs. Bretton thì tôi đã mất liên lạc từ lâu. Những trở ngại do người khác dựng lên từ nhiều năm trước đã ngáng đường và cắt đứt mối quan hệ giữa chúng tôi. Hơn nữa, thời gian cũng mang lại những đổi thay cho bà: khối tài sản kếch xù mà bà được giao quản lý cho con trai, vốn phần lớn đã được đầu tư vào một doanh nghiệp cổ phần nào đó, nay nghe nói đã hao hụt chỉ còn lại một phần nhỏ bé so với ban đầu. Graham, qua những lời đồn văng vẳng, tôi được biết đã theo đuổi một nghề nghiệp; cả anh và mẹ đều đã rời Bretton và được cho là đang ở London. Như thế, chẳng còn chút hy vọng nào để trông cậy vào người khác; tôi chỉ có thể tự nhìn vào chính mình. Tôi không biết mình có phải là người tự lập hay có bản tính xốc vác hay không; nhưng tính tự lập và sự nỗ lực đã bị hoàn cảnh ép buộc lên tôi, cũng như đối với hàng ngàn người khác; và khi Miss Marchmont, một phụ nữ độc thân ở vùng chúng tôi, cho người gọi tôi đến, tôi đã tuân theo lời bà, với hy vọng rằng bà có thể giao cho tôi một công việc nào đó mà tôi kham nổi.

Miss Marchmont là một phụ nữ giàu có và sống trong một dinh cơ sang trọng; nhưng bà là một bệnh nhân thấp khớp tàn phế, liệt cả chân lẫn tay, và tình trạng ấy đã kéo dài hai mươi năm. Bà luôn ngồi ở trên lầu: phòng khách thông liền với phòng ngủ của bà. Tôi từng nghe nhiều điều về Miss Marchmont cùng những nét tính cách kỳ quặc của bà (bà mang tiếng là một người rất lập dị), nhưng cho đến lúc đó thì chưa từng gặp mặt. Tôi thấy bà là một phụ nữ gầy giộc, tóc hoa râm, nét mặt trầm ngâm vì cô độc, nghiêm nghị vì những nỗi đau dài đày ải, lại hay cáu kỉnh và có lẽ cũng đòi hỏi nhiều điều. Hóa ra một cô hầu phòng, đúng hơn là người bầu bạn, người đã chăm sóc bà mấy năm nay sắp sửa kết hôn; và bà, hay tin về hoàn cảnh bất hạnh của tôi, đã cho người gọi tôi tới với ý định để tôi thay thế vị trí của người kia. Bà ngỏ lời với tôi sau bữa trà, khi chỉ có tôi và bà ngồi bên lò sưởi.

“Đó sẽ không phải là một cuộc sống dễ dàng đâu,” bà thẳng thắn nói, “vì tôi đòi hỏi khá nhiều sự chăm sóc, và cô sẽ bị gò bó nhiều; thế nhưng, có lẽ so với quãng đời cô vừa trải qua gần đây, nó có thể sẽ có thể chịu đựng được.”

Tôi ngẫm nghĩ. Dĩ nhiên là nó đáng lẽ phải chịu đựng được chứ, tôi tự nhủ thầm; thế nhưng ngặt nỗi, bởi một định mệnh kỳ quái nào đó, nó lại không tài nào chịu đựng nổi. Sống ở đây, trong căn phòng ngột ngạt này, làm kẻ canh chừng những nỗi đau đớn — đôi khi, có lẽ là cái đích cho những cơn giận trút xuống — suốt quãng đời thanh xuân còn lại; trong khi quãng thanh xuân đã qua thì, nói giảm nói tránh đi, cũng chẳng hề hạnh phúc gì cho cam! Trái tim tôi chùng xuống một thoáng, rồi lại đập rộn lên; bởi dù tôi tự ép mình phải đối mặt với những bề bộn thực tế, tôi nghĩ mình quá đỗi thực tế nên không thể thi vị hóa, và do đó cũng không phóng đại chúng lên.

“Điều tôi phân vân là liệu mình có đủ sức để gánh vác công việc này không,” tôi nhận xét.

“Đó cũng chính là điều tôi e ngại,” bà nói; “vì trông cô chẳng khác nào một sinh linh tàn tạ.”

Quả thật tôi là vậy. Tôi nhìn thấy mình trong gương, trong bộ tang phục, một bóng hình phai tàn, trũng sâu đôi mắt. Thế nhưng tôi chẳng màng mấy đến cái cảnh tượng tiều tụy ấy. Vết tàn phơi, tôi tin là, phần lớn chỉ ở bên ngoài: tôi vẫn cảm nhận được sự sống ở những cội nguồn của sự sống.

“Cô còn dự định nào khác không — bất cứ dự định gì?”

“Chưa có gì rõ ràng cả: nhưng tôi có thể tìm được thứ gì đó.”

“Cô cứ nghĩ thế đi: có lẽ cô đúng. Vậy thì hãy thử cách của cô trước; và nếu nó không thành, hãy thử cách của tôi. Cơ hội tôi vừa đưa ra sẽ vẫn bỏ ngỏ cho cô trong ba tháng.”

Thật là tử tế. Tôi nói với bà điều đó và bày tỏ lòng biết ơn. Trong lúc tôi đang nói, một cơn đau quặn thắt ập đến. Tôi liền chăm sóc bà; thực hiện các biện pháp xoa bóp cần thiết theo đúng chỉ dẫn của bà, và đến khi cơn đau dịu xuống, một thứ sự thân mật nào đó đã sớm hình thành giữa chúng tôi. Về phần mình, tôi đã học được từ cách bà chịu đựng cơn đau ấy rằng bà là một người phụ nữ cứng rắn, kiên nhẫn (kiên nhẫn trước nỗi đau thể xác, dẫu đôi khi có phần dễ nổi cáu trước nỗi dằn vặt tinh thần lâu ngày); còn bà, từ sự thiện chí mà tôi dùng để cứu giúp bà, đã nhận ra rằng bà có thể lay động được sự đồng cảm của tôi (dù nó có ít ỏi đến đâu). Ngày hôm sau bà lại gọi tôi đến; năm sáu ngày liên tiếp sau đó, bà đều đòi hỏi sự bầu bạn của tôi.

Sự gắn bó gần gũi hơn, trong lúc bộc lộ cả những khiếm khuyết lẫn tính kỳ quặc, đồng thời cũng mở ra cho tôi một cái nhìn về một nhân cách mà tôi có thể kính trọng. Dù bà có nghiêm khắc, thậm chí cau có đến đâu đi nữa, tôi vẫn có thể phục dịch và ngồi bên bà với sự bình yên vốn luôn ban phước cho chúng ta khi ta nhận thức rõ rằng tác phong, sự hiện diện và sự gần gũi của mình làm vui lòng và xoa dịu những người ta phụng sự. Ngay cả khi bà mắng mỏi tôi — điều mà bà vẫn làm, thỉnh thoảng, rất chua ngoa — thì cách mắng ấy lại không hề làm tôi thấy nhục nhã, và chẳng để lại chút cay đắng nào; nó giống một người mẹ nóng tính đang la rầy cô con gái hơn là một bà chủ khắc nghiệt đang khiển trách kẻ ăn kẻ ở; thật ra bà chẳng đời nào lên lớp được ai, dẫu thỉnh thoảng bà có thể nổi cơn thịnh nộ. Hơn nữa, một mạch ngầm lý trí luôn hiện hữu trong những cơn giận dữ của bà: bà rất logic ngay cả khi hung hăng. Chẳng bao lâu sau, cảm giác gắn bó lớn dần bắt đầu bày biện ý nghĩ ở lại làm người bầu bạn với bà dưới một ánh sáng hoàn toàn mới; chỉ một tuần sau đó, tôi đã nhận lời ở lại.

Thế là hai căn phòng nóng nực, ngột ngạt trở thành thế giới của tôi; và một bà già tàn phế trở thành bà chủ, thành bạn hiền, thành tất cả của tôi. Phụng sự bà là bổn phận của tôi — nỗi đau của bà là niềm thương của tôi — sự thuyên giảm của bà là niềm hy vọng của tôi — cơn thịnh nộ của bà là hình phạt của tôi — sự quý mến của bà là phần thưởng của tôi. Tôi quên bẵng đi rằng bên ngoài khung cửa kính nhòa hơi nước của căn phòng bệnh này còn có đồng ruộng, rừng cây, sông ngòi, biển cả, và một bầu trời thay đổi khôn nguôi; tôi gần như mãn nguyện khi quên đi điều ấy. Mọi thứ trong tôi đều thu hẹp lại vừa vặn với số phận mình. Trở nên thuần tính và điềm tĩnh do thói quen, được tôi luyện bởi định mệnh, tôi chẳng còn đòi hỏi những buổi dạo chơi hít thở không khí trong lành; khẩu vị của tôi chẳng cần gì hơn những phần ăn nhỏ xíu dành cho người bệnh. Thêm vào đó, bà ban cho tôi sự độc đáo trong tính cách để mà nghiên cứu: tôi xin bổ sung thêm là sự kiên định trong các đức tính, sức mạnh của những đam mê để mà trầm trồ; sự chân thật trong cảm xúc để mà tin tưởng. Tất cả những điều ấy bà đều có, và vì những điều ấy mà tôi bám chặt lấy bà.

Vì những điều ấy, tôi sẵn sàng lê lết cùng bà suốt hai mươi năm, nếu như quãng đời chịu đựng của bà còn được kéo dài thêm hai mươi năm nữa. Nhưng một sắc lệnh khác đã được định đoạt. Có vẻ như tôi phải bị kích thích để hành động. Tôi phải bị chọc gót, bị xua đuổi, bị chích nhói, bị ép buộc phải vươn lên mạnh mẽ. Mẩu tình cảm con người nhỏ nhoi của tôi, thứ mà tôi trân quý như thể một viên ngọc trai nguyên khối, lại phải tan chảy trong kẽ tay và trượt đi tựa như một hạt mưa đá đang rã ra. Bổn phận nhỏ nhoi tôi mới nhận lấy phải bị giật phăng khỏi lương tâm vốn dễ bằng lòng của tôi. Tôi đã từng muốn thỏa hiệp với Định mệnh: để trốn tránh những nỗi thống khổ lớn lao thỉnh thoảng xảy ra bằng cách cam chịu cả một đời thiếu thốn và những nỗi đau vặt vãnh. Định mệnh không chịu thỏa hiệp như thế; và Thần Linh cũng chẳng chuẩn y sự lười nhác nhụt chí và thói cẩu thả hèn nhát này.

Một đêm tháng Hai — tôi nhớ rất rõ — có một âm thanh vang lên gần ngôi nhà của Miss Marchmont, mọi người trong nhà đều nghe thấy, nhưng có lẽ chỉ một người giải mã được nó. Sau một mùa đông tĩnh lặng, những cơn bão đang dạo khúc mở màn cho mùa xuân. Tôi vừa cho Miss Marchmont đi ngủ; tôi ngồi bên lò sưởi vá vá may may. Gió đang réo rắt bên cửa sổ; nó đã réo rắt suốt cả ngày; nhưng khi đêm dần buông sâu, nó mang một âm sắc mới — một giọng điệu sắc bén, xuyên thấu, gần như thành tiếng rõ ràng; một tiếng than van, thảm hại và tuyệt vọng quấn quýt trong từng đợt gió lốc.

“Ôi, im đi! Im đi!” tôi thầm nói trong tâm trí đang xao động, thả buông công việc xuống, và vô vọng cố gắng bịt tai lại trước tiếng kêu tinh vi, xoáy sâu ấy. Tôi đã từng nghe chính cái âm thanh đó trước đây rồi, và sự quan sát bất đắc dĩ đã ép tôi phải đúc kết một học thuyết về điềm báo của nó. Ba lần trong suốt cuộc đời, các biến cố đã dạy cho tôi hay rằng những âm thanh kỳ lạ trong cơn bão này — tiếng kêu bứt rứt, tuyệt vọng này — báo hiệu một trạng thái sắp tới của khí quyển bất lợi cho sự sống. Các bệnh dịch, tôi tin là vậy, thường được loan báo bởi một ngọn gió đông hổn hển, thổn thức, bị đày đọa và than khóc dài dằng dặc. Từ đó, tôi suy luận, sinh ra truyền thuyết về yêu tinh báo tang Banshee. Tôi cũng tưởng rằng mình từng nhận thấy — nhưng lại chẳng đủ uyên bác để biết liệu có mối liên hệ nào giữa các hoàn cảnh ấy hay không — rằng chúng ta thường đồng thời nghe tin về các hoạt động núi lửa bị xáo trộn ở những vùng xa xôi trên thế giới; về những con sông bất ngờ dâng tràn qua bờ; và về những đợt thủy triều cao kỳ lạ ầm ầm đổ vào các vùng bờ biển thấp. “Quả địa cầu của chúng ta,” tôi từng tự nhủ, “vào những thời kỳ như thế dường như bị xé toạc và rối loạn; những kẻ yếu đuối giữa chúng ta héo mòn trong hơi thở bệnh hoạn của nó, hừng hực bốc lên từ những miệng núi lửa đang phun khói.”

Tôi lắng nghe và run rẩy; Miss Marchmont đang chìm trong giấc ngủ.

Khoảng nửa đêm, cơn bão bỗng lặng đi chết chóc chỉ trong vòng nửa giờ. Ngọn lửa vốn đang lụi tàn bỗng bùng lên sáng rực. Tôi cảm thấy không khí thay đổi và trở nên buốt lạnh. Kéo mành và rèm cửa lên, tôi nhìn ra ngoài và nhận ra giữa muôn vì sao ánh lấp lánh sắc sảo của một đợt sương giá đậm.

Quay người lại, cảnh tượng đập vào mắt tôi là Miss Marchmont đã thức giấc, đang ngẩng đầu lên khỏi gối và nhìn tôi với vẻ nghiêm túc bất thường.

“Có phải là một đêm đẹp trời không?” bà hỏi.

Tôi đáp lời khẳng định.

“Tôi nghĩ thế,” bà nói; “vì tôi thấy khỏe khoắn quá, thấy dễ chịu quá. Đỡ tôi dậy đi. Đêm nay tôi thấy mình trẻ lại,” bà tiếp tục: “trẻ trung, nhẹ nhõm và hạnh phúc. Sẽ thế nào nếu căn bệnh của tôi sắp chuyển biến và tôi lại được định sẵn là sẽ tận hưởng sức khỏe? Thật là một phép lạ!”

“Và đây đâu phải là thời đại của những phép lạ,” tôi tự nhủ thầm, và lấy làm lạ khi nghe bà nói thế. Bà tiếp tục lái câu chuyện hướng về quá khứ, và dường như đang hồi tưởng lại những biến cố, khung cảnh và nhân vật của nó với một sự sống động kỳ lạ.

“Đêm nay tôi yêu Ký ức lắm,” bà nói: “tôi trân quý nàng như người bạn tốt nhất của mình. Lúc này nàng đang mang lại cho tôi một niềm vui sâu sắc: nàng đang mang trở lại trái tim tôi, trong một sinh khí ấm áp và tốt đẹp, những thực thể — chứ không chỉ là những ý tưởng trống rỗng, mà là những gì từng là hiện thực, và từ lâu tôi tưởng đã mục rữa, tan rã, lẫn lộn vào bùn đất nghĩa trang. Lúc này tôi đang nắm giữ những giờ phút, những suy nghĩ, những hy vọng thời thanh xuân của mình. Tôi đang sống lại tình yêu của đời mình — tình yêu duy nhất — hầu như là thứ tình cảm duy nhất; bởi tôi không phải là một người phụ nữ đặc biệt tốt đẹp: tôi không hề dễ thương. Thế nhưng tôi đã từng có những cảm xúc của mình, mạnh mẽ và cô đọng; và những cảm xúc ấy đều có đối tượng của nó; tự thân đối tượng duy nhất ấy vốn quý giá đối với tôi, cũng như đối với đại đa số đàn ông và phụ nữ, là vô số những điểm mà họ phung phí sự quan tâm của mình. Khi tôi yêu, và khi tôi được yêu, tôi đã tận hưởng một sự tồn tại biết bao! Tôi có thể nhớ lại một năm huy hoàng biết mấy — nó trở lại với tôi rực rỡ làm sao! Một mùa xuân tràn trề sự sống — một mùa hè ấm áp, vui tươi — những đêm trăng dịu dàng bạc hóa buổi chiều thu — sức mạnh của hy vọng dưới làn nước đóng băng và những cánh đồng phủ đầy sương giá của mùa đông năm ấy! Suốt năm đó trái tim tôi đã sống cùng trái tim của Frank. Ôi Frank cao quý của tôi — Frank chung thủy của tôi — Frank tốt bụng của tôi — tốt hơn tôi biết bao nhiêu — tiêu chuẩn của anh trong mọi việc mới cao cả làm sao! Giờ đây tôi có thể nhìn thấy và nói điều này: nếu ít có người phụ nữ nào phải đau khổ như tôi khi mất anh ấy, thì cũng rất ít người được tận hưởng những gì tôi đã tận hưởng trong tình yêu của anh. Đó là một loại tình yêu tốt đẹp hơn hẳn thông thường; tôi chẳng có chút hoài nghi nào về nó hay về anh ấy: đó là một thứ tình yêu vừa tôn vinh, bảo vệ, nâng niu, vừa mang lại niềm vui sướng cho người mà nó trao tặng. Giờ đây hãy cho phép tôi hỏi, ngay vào lúc này, khi tâm trí tôi sáng suốt đến kỳ lạ — hãy để tôi ngẫm nghĩ vì sao nó lại bị tước đoạt khỏi tôi? Vì tội lỗi gì mà tôi bị kết án, sau mười hai tháng hạnh phúc, phải chịu đựng ba mươi năm đau khổ?

“Tôi không biết,” bà tiếp tục sau một thoáng ngừng lời: “tôi không thể — không tài nào nhìn ra lý do; thế nhưng vào giờ phút này, tôi có thể thốt lên bằng tất cả sự chân thành, điều mà trước đây tôi chưa từng cố nói, Hỡi Thiên Chúa khôn lường, xin hãy cho ý Ngài được thực hiện! Và vào lúc này tôi có thể tin rằng cái chết sẽ trả lại Frank cho tôi. Chưa bao giờ tôi tin điều đó cho đến tận bây giờ.”

“Vậy anh ấy đã chết rồi sao?” tôi hỏi bằng giọng nhỏ nhẹ.

“Cô gái thân mến của tôi,” bà nói, “vào một đêm Giáng Sinh hạnh phúc nọ, tôi đã ăn mặc và trang hoàng lộng lẫy, ngóng chờ người yêu của tôi, người chẳng bao lâu nữa sẽ là chồng tôi, sẽ đến thăm tôi vào tối hôm đó. Tôi ngồi xuống để chờ đợi. Một lần nữa tôi lại nhìn thấy khoảnh khắc ấy — tôi thấy ánh chạng vạng của tuyết lọt qua cửa sổ nơi tấm rèm chưa được buông xuống, bởi tôi dự tính sẽ ngắm anh cưỡi ngựa tiến lên lối đi trắng xóa; tôi thấy và cảm nhận ánh lửa ấm áp đang sưởi ấm mình, nhảy múa trên chiếc áo lụa và chập chờn soi bóng dáng thời trẻ của chính tôi trong gương. Tôi thấy vương vấn trên bầu trời đêm tĩnh mịch của mùa đông một vầng trăng tròn đầy, trong trẻo và lạnh lẽo, lững lờ trôi bên trên mảng tối nhòe của những lùm cây và thảm cỏ bạc phếch trong khu vườn của tôi. Tôi chờ đợi, với một chút nôn nao trong nhịp đập, nhưng trong lòng chẳng hề gợn chút hoài nghi. Những ngọn lửa trong lò đã lụi, nhưng nó vẫn là một khối than hồng rực; mặt trăng đang leo cao, nhưng vẫn có thể nhìn thấy từ ô cửa sổ nhỏ; đồng hồ điểm gần mười giờ; anh hiếm khi la cà muộn hơn thế, nhưng có một hai lần anh đã bị kẹt lại lâu như vậy.

“Liệu có phải anh sẽ thất hứa với tôi dù chỉ một lần? Không — dù chỉ một lần cũng không; và giờ đây anh đang đến — đang đến thật nhanh — để bù đắp cho khoảng thời gian đã mất. ‘Frank! Tay nái lụa cuồng phong của anh,’ tôi thầm nhủ, vừa vui mừng vừa lo lắng lắng nghe tiếng vó ngựa đang đến gần, ‘anh sẽ phải bị quở trách vì điều này: em sẽ nói cho anh biết rằng chính cái cổ của em đang bị anh đặt vào vòng hiểm nguy; bởi bất cứ thứ gì thuộc về anh thì, theo một nghĩa thân thương và sâu sắc hơn, đều thuộc về em.’ Kìa anh ấy đây rồi: tôi đã thấy anh; nhưng hình như có những giọt nước mắt đong đầy trong mắt, khiến tầm nhìn của tôi trở nên nhòa đi. Tôi thấy con ngựa; tôi nghe thấy tiếng nó dậm vó — ít nhất tôi thấy một khối hình; tôi nghe thấy tiếng hò hét lớn. Đó có phải là một con ngựa không? Hay thứ nặng nề, lê lết nào đang băng qua, đen đúa một cách kỳ lạ, trên thảm cỏ. Làm sao tôi có thể gọi tên cái thứ đang nằm dưới ánh trăng trước mặt mình đây? Hay làm sao tôi có thể thốt lên nỗi lòng đang trào dâng trong tâm hồn?

“Tôi chỉ biết chạy bổ ra ngoài. Một con vật lớn — thực sự là con ngựa đen của Frank — đang đứng run rẩy, thở hồng hộc, khịt mũi trước cửa; một người đàn ông đang giữ nó, chính là Frank, theo tôi nghĩ.

“‘Có chuyện gì thế?’ tôi gặng hỏi. Thomas, người đầy tớ của riêng tôi, đáp lại bằng giọng sắc bén, ‘Xin mời bà vào nhà.’ Và rồi quát lớn với một người hầu khác đang hớt hải chạy từ nhà bếp ra như thể bị triệu hồi bởi một bản năng nào đó, ‘Ruth, đưa bà chủ vào nhà ngay lập tức.’ Nhưng tôi đã quỳ sụp xuống tuyết, bên cạnh một thứ đang nằm ở đó — một thứ vừa bị kéo lê dọc theo mặt đất — một thứ đang thở dài, đang rên rỉ trên ngực tôi khi tôi nâng nó lên và kéo nó về phía mình. Anh ấy chưa chết; anh ấy chưa hoàn toàn bất tỉnh. Tôi cho người khiêng anh vào; tôi từ chối việc bị sai khiến và bị đẩy ra xa anh. Tôi hoàn toàn tỉnh táo, không chỉ để làm chủ bản thân mà còn làm chủ cả những kẻ khác. Bọn họ đã bắt đầu bằng cách đối xử với tôi như một đứa trẻ, hệt như cách họ vẫn làm với những người bị giáng họa bởi bàn tay Thiên Chúa; nhưng tôi chẳng nhường bước cho bất kỳ ai ngoại trừ vị bác sĩ; và khi ông ấy đã làm hết sức có thể, tôi ôm chầm lấy người Frank đang hấp hối của mình. Anh còn chút sức lực để ôm siết lấy tôi trong vòng tay; anh còn chút hơi tàn để gọi tên tôi; anh đã nghe thấy tôi khi tôi thì thầm những lời cầu nguyện trên người anh; anh đã cảm nhận được tôi khi tôi âu yếm và dịu dàng vỗ về anh.

“‘Maria,’ anh nói, ‘anh đang chết ở Thiên Đàng.’ Anh đã dành hơi thở cuối cùng của mình cho những lời chung thủy dành cho tôi. Khi ánh bình minh của buổi sáng Giáng Sinh ló dạng, người Frank của tôi đã ở bên Chúa.

“Và điều đó,” bà tiếp tục, “đã xảy ra từ ba mươi năm trước. Từ đó đến nay tôi đã chịu đựng bao đau khổ. Tôi nghi ngờ việc liệu mình có tận dụng được những tai ương ấy theo cách tốt nhất không. Với những bản tính mềm mại, dịu dàng, chúng sẽ được tôi luyện thành sự thánh thiện; với những linh hồn mạnh mẽ, độc ác, chúng sẽ biến thành ác quỷ; còn về phần tôi, tôi chỉ là một người phụ nữ bị đọa đày bởi bi kịch và ích kỷ mà thôi.”

“Cô đã làm rất nhiều điều tốt,” tôi nói; vì bà nổi tiếng với những việc bố thí hào phóng.

“Ý cô là tôi đã không tiếc tiền của, khi nó có thể xoa dịu nỗi đau khổ. Thì sao chứ? Việc cho đi chẳng tốn của tôi chút nỗ lực hay đớn đau nào. Nhưng tôi nghĩ từ ngày hôm nay tôi sắp sửa bước vào một tâm trạng tốt hơn, để chuẩn bị cho cuộc đoàn tụ với Frank. Cô thấy đấy, tôi vẫn nghĩ về Frank nhiều hơn nghĩ về Chúa; và trừ khi việc tôi yêu thương tạo vật ấy quá nhiều, quá lâu và quá độc quyền như thế, ít ra không bị coi là phạm thượng với Đấng Sáng Tạo, thì cơ hội cứu rỗi của tôi mỏng manh biết bao. Cô nghĩ sao, Lucy, về những điều này? Hãy làm mục sư của tôi và nói cho tôi biết đi.”

Câu hỏi này tôi không thể trả lời: tôi chẳng có lấy một từ. Có vẻ như bà nghĩ rằng tôi đã trả lời nó rồi.

“Rất đúng, con yêu của ta. Chúng ta nên nhìn nhận Thiên Chúa là đấng nhân từ, nhưng không phải lúc nào trí óc chúng ta cũng có thể thấu hiểu được Ngài. Chúng ta nên chấp nhận số phận của chính mình, dù nó có ra sao đi nữa, và cố gắng mang lại hạnh phúc cho người khác. Chẳng phải thế sao? Thôi được, ngày mai ta sẽ bắt đầu bằng cách cố gắng làm cho con hạnh phúc. Ta sẽ nỗ lực làm điều gì đó cho con, Lucy: điều gì đó sẽ có ích cho con khi ta đã qua đời. Đầu ta giờ đau nhức vì nói quá nhiều; dù sao ta cũng thấy hạnh phúc. Hãy đi ngủ đi. Đồng hồ điểm hai giờ rồi. Sao con thức khuya thế; hay đúng hơn là sao ta, vì sự ích kỷ của mình, lại bắt con thức khuya thế. Nhưng hãy đi ngủ đi; đừng bận tâm lo lắng gì cho ta nữa; ta cảm thấy mình sẽ ngủ rất ngon.”

Bà tự nằm ngay ngắn lại như muốn chìm vào giấc ngủ. Tôi cũng lui về chiếc giường nhỏ của mình trong căn phòng nhỏ thông với phòng bà. Đêm trôi qua trong yên bình; cái chết hẳn đã đến với bà một cách nhẹ nhàng vào phút cuối: thanh thản và không đau đớn: vào buổi sáng, người ta tìm thấy bà đã không còn hơi thở, gần như đã lạnh ngắt, nhưng mọi thứ đều bình thản và không hề có dấu hiệu xáo trộn nào. Sự kích động tinh thần trước đó và sự thay đổi tâm trạng của bà hóa ra là khúc dạo đầu của một cơn bạo bệnh; chỉ một nhát cắt duy nhất là đủ để đứt phăng sợi chỉ của một cuộc đời đã bị gặm nhấm quá lâu bởi đau khổ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Charlotte Brontë

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.