Villette

Lượt đọc: 244 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Những Người Bạn Nhỏ.

❊ ❊ ❊

Ông Home ở lại hai ngày. Trong suốt chuyến thăm, không tài nào thuyết phục được ông bước chân ra ngoài: ông ngồi liền tù tì cả ngày bên lò sưởi, lúc thì trầm mặc, lúc lại lắng nghe và đáp lời những câu chuyện phiếm của bà Bretton—vừa vặn đúng mực cho một người đang mang tâm trạng u uất—không quá mức thông cảm, cũng chẳng quá xa cách, rất mực phải chăng; thậm chí còn phảng phất chút dịu dàng của người mẹ—tuổi tác của bà đủ lớn để được phép thể hiện sự ân cần ấy.

Còn về Paulina, đứa trẻ vừa hạnh phúc vừa lặng lẽ, vừa bận rộn lại vừa cảnh giác. Cha cô bé thường xuyên bế cô lên đùi; con bé cứ ngồi yên ở đó cho đến khi cảm thấy hoặc tưởng tượng rằng ông bắt đầu bứt rứt; thế là nó cất lời: “Cha ơi, hãy đặt con xuống; trọng lượng của con sẽ làm cha mỏi đấy.”

Và gánh nặng nhỏ bé ấy trượt xuống tấm thảm trải sàn, tự tìm chỗ trên tấm thảm hay chiếc đôn ngay dưới chân “cha,” để rồi chiếc hộp đựng đồ khâu màu trắng cùng chiếc khăn tay có đốm đỏ bắt đầu được trưng dụng. Chiếc khăn tay này, có vẻ như, được định sẵn làm vật kỷ niệm cho “cha,” và phải được hoàn thành trước khi ông lên đường; hậu quả là áp lực đè nặng lên sự siêng năng của cô thợ may nhí (nó hoàn thành được khoảng chừng đôi mươi mũi khâu trong nửa giờ đồng hồ) là vô cùng khắt khe.

Buổi tối, khi Graham trở về mái ấm dưới bóng hình người mẹ (ban ngày cậu đi học), mang lại cho chúng tôi nguồn sinh khí dồi dào hơn—một phẩm chất chẳng hề suy giảm bởi bản chất của những màn kịch hầu như chắc chắn sẽ diễn ra giữa cậu và tiểu thư Paulina.

Một thái độ lạnh lùng và kiêu kỳ là hậu quả để lại từ sự tổn thương giáng xuống cô bé ngay vào buổi tối đầu tiên cậu đến: câu trả lời quen thuộc của cô mỗi khi cậu bắt chuyện là—“Tôi không có thời gian để ý đến anh; tôi còn bao nhiêu việc khác phải bận tâm.” Bị gặng hỏi xem đó là những việc gì:

“Việc bận.”

Graham sẽ tìm cách khơi gợi sự chú ý của cô bằng cách mở chiếc cặp sách của mình ra và trưng bày đủ thứ đồ đạc bên trong: con dấu, những thỏi sáp thơm sáng màu, dao dọc giấy, cùng một tá tranh khắc—vài tấm trong số đó được tô màu rực rỡ—mà cậu đã tích góp qua năm tháng. Sự cám dỗ mạnh mẽ ấy hóa ra không phải là hoàn toàn vô ích: đôi mắt cô bé, lén lút ngước lên từ đám công việc dở dang, liếc không biết bao nhiêu lần về phía chiếc bàn viết đang ngập tràn những bức tranh rải rác. Một bức bản khắc hình một đứa trẻ đang chơi đùa với chú chó Tây Ban Nha dòng Blenheim tình cờ bay là đà xuống sàn nhà.

“Chú chó nhỏ xinh quá!” con bé thốt lên, đầy thích thú.

Graham khôn ngoan phớt lờ. Chẳng bao lâu sau, lén lút rời khỏi góc phòng, cô bé tiến lại gần hơn để ngắm nghía món báu vật cho thật kỹ. Đôi mắt to tròn, chiếc tai dài của chú chó, cùng chiếc mũ và chùm lông vũ của đứa trẻ, quả là sức hút không thể chối từ.

“Bức tranh đẹp đấy chứ!” đó là lời phê bình đầy thiện cảm của cô.

“Chà—em có thể lấy nó đấy,” Graham nói.

Cô bé có vẻ chần chừ. Niềm khao khát sở hữu thì lớn, nhưng nhận lấy thì lại là một sự thỏa hiệp với lòng tự trọng. Không. Cô bé đặt nó xuống và quay mặt đi.

“Thế em không lấy nó à, Polly?”

“Em thà không lấy còn hơn, cảm ơn anh.”

“Anh có nên nói cho em biết anh sẽ làm gì với bức tranh nếu em từ chối nó không?”

Cô bé xoay người nửa quãng để lắng nghe.

“Cắt nó thành từng dải để mồi nến đấy.”

“Không!”

“Nhưng anh sẽ làm thế đấy.”

“Xin anh—đừng mà.”

Graham càng trở nên vô cảm khi nghe thấy giọng điệu van nài; cậu cầm lấy chiếc kéo từ giỏ đựng đồ khâu của mẹ.

“Đi đây nhé!” cậu nói, vung kéo dọa dẫm. “Xuyên thẳng qua đầu Fido, và xẻ đôi cái mũi của bé Harry.”

“Không! Không! KHÔNG!”

“Vậy thì lại đây. Lại đây mau lên, bằng không thì muộn mất.”

Cô bé chần chừ, nấn ná, nhưng rồi cũng chịu nghe lời.

“Bây giờ, em có muốn lấy nó nữa không?” cậu hỏi, khi cô đứng ngay trước mặt mình.

“Xin anh cho.”

“Nhưng anh đòi tiền công đấy.”

“Bao nhiêu ạ?”

“Một nụ hôn.”

“Đưa bức tranh vào tay em trước đã.”

Polly, khi thốt lên câu này, trông lại có vẻ lật lọng chẳng kém gì ai. Graham trao bức tranh. Cô bé bèn quỵt nợ tẩu thoát, lao thẳng về phía cha và tìm chỗ ẩn náu trên đùi ông. Graham ra vẻ giận dữ giả vờ rồi đuổi theo. Cô bé vùi mặt vào vạt áo của ông Home.

“Cha ơi—cha ơi—đuổi anh ấy đi!”

“Anh không bị đuổi đâu nhé,” Graham nói.

Với gương mặt vẫn quay đi chỗ khác, cô giơ tay đẩy cậu ra để ngăn cản.

“Thế thì, anh sẽ hôn bàn tay này vậy,” cậu nói; nhưng đúng lúc đó bàn tay ấy bỗng cuộn lại thành một nắm đấm tí xíu, tung ra một đòn trả công bằng thứ tiền lẻ chẳng dính dáng gì đến nụ hôn.

Graham—vốn chẳng hề kém cạnh cô bạn nhỏ của mình về khoản mưu mẹo—lùi lại với vẻ ngoài hoàn toàn thất thểu; cậu ngã phịch xuống chiếc ghế sofa, tựa đầu vào gối tựa, nằm dài như một kẻ đang chịu đựng cơn đau. Polly, thấy cậu im lìm, liền lén nhìn sang. Đôi mắt và khuôn mặt cậu đều bị đôi bàn tay che khuất. Cô xoay người trên đùi cha, đăm đăm nhìn kẻ thù của mình với vẻ lo âu hồi lâu. Graham rên rỉ.

“Cha ơi, có chuyện gì thế ạ?” cô thì thầm.

“Con hỏi thẳng nó thì hơn đấy, Polly.”

“Cậu ấy bị đau ạ?” (tiếng rên thứ hai.)

“Nó phát ra tiếng kêu như thể đau thật vậy,” ông Home đáp.

“Thưa mẹ,” Graham thều thào gợi ý, “con nghĩ tốt hơn là mẹ nên đi mời bác sĩ đi thôi. Ôi, mắt con!” (lại chìm trong im lặng, chỉ bị phá vỡ bởi những tiếng thở dài của Graham.)

“Lỡ như con bị mù luôn thì sao nhỉ——?” kẻ vừa rồi tiếp lời.

Kẻ hành hạ cậu không tài nào chịu đựng nổi lời gợi ý ấy. Cô bé sà đến bên cậu ngay lập tức.

“Để tôi xem mắt anh nào: tôi có định chạm vào đấy đâu, chỉ định chạm vào miệng thôi chứ; mà tôi cũng đâu có nghĩ là mình đánh mạnh thế.”

Sự im lặng đáp lại cô. Nét mặt cô biến sắc,—“Tôi xin lỗi; tôi xin lỗi mà!”

Tiếp theo đó là sự xúc động, nghẹn ngào; rồi bật khóc.

“Thôi đừng trêu con bé ấy nữa, Graham,” bà Bretton lên tiếng.

“Toàn chuyện nhảm nhí thôi con yêu ạ,” ông Home kêu lên.

Và Graham lại một lần nữa chộp lấy cô bé tung bổng lên, để rồi lại bị cô trừng trị; và trong lúc cô bứt những lọn tóc bềnh bồng như bờm sư tử của cậu, cô gọi cậu là—“Kẻ hư hỏng nhất, bất lịch sự nhất, tồi tệ nhất, giả dối nhất trên đời.”

Vào buổi sáng ngày ông Home lên đường, ông và con gái có riêng một cuộc trò chuyện ở góc cửa sổ; tôi nghe được một phần trong đó.

“Con không thể thu xếp hành lý để đi cùng cha sao, cha ơi?” cô bé thiết tha thì thầm.

Ông lắc đầu.

“Con sẽ thành gánh nặng cho cha ạ?”

“Đúng vậy, Polly.”

“Bởi vì con còn nhỏ ạ?”

“Bởi vì con nhỏ nhắn và mỏng manh. Chỉ những người lớn và khỏe mạnh mới nên đi đây đi đó thôi. Nhưng đừng buồn rầu thế chứ, cô con gái nhỏ của ta; cha đau lòng lắm đấy. Cha sẽ sớm quay lại với Polly của cha mà.”

“Thật, thực sự là con không buồn đâu ạ, hầu như là không chút nào.”

“Polly hẳn sẽ buồn nếu làm cha đau lòng chứ nhỉ?”

“Còn hơn cả buồn nữa ạ.”

“Thế thì Polly phải vui vẻ lên: không khóc lóc lúc chia tay; không héo hắt sau đó. Con phải hướng về ngày đoàn tụ, và cố gắng sống hạnh phúc trong lúc chờ đợi. Con làm được điều này chứ?”

“Con sẽ cố ạ.”

“Cha biết con sẽ làm được mà. Thôi, tạm biệt con. Đã đến lúc phải đi rồi.”

“Bây giờ ạ?—ngay bây giờ luôn sao?”

“Ngay bây giờ.”

Cô bé ngước đôi môi đang run rẩy lên. Cha cô nấc nghẹn, nhưng tôi để ý thấy cô thì không. Sau khi đặt cô xuống, ông bắt tay những người có mặt, rồi bước đi.

Khi cánh cửa ra vào khép lại, cô quỵ xuống gối chiếc ghế bên cạnh với một tiếng kêu—“Cha ơi!”

Tiếng kêu nhỏ và kéo dài; tựa như câu “Sao Ngài lại bỏ rơi con?” Trong khoảng thời gian vài phút tiếp theo, tôi nhận thấy con bé đang phải chịu đựng nỗi đau đớn tột cùng. Trong khoảng khắc ngắn ngủi ấy của tuổi thơ, cô đã trải qua những cung bậc cảm xúc mà có những người suốt đời chẳng bao giờ cảm nhận được; nó vốn nằm trong bản chất của cô: nếu còn sống, cô sẽ còn phải đối mặt với nhiều khoảnh khắc như thế hơn nữa. Không một ai cất lời. Bà Bretton, dẫu sao cũng là một người mẹ, đã rơi một vài giọt nước mắt. Graham, đang cận mẫn viết lách, ngẩng đầu lên nhìn chăm chăm vào cô. Còn tôi, Lucy Snowe, vẫn bình thản.

Sinh vật nhỏ bé ấy, bị bỏ mặc trong sự cô độc, đã tự mình làm một việc mà chẳng ai khác có thể làm thay—chống chọi lại một cảm giác không thể dung thứ; và chẳng bao lâu sau, ở một chừng mực nào đó, cô đã kìm nén được nó. Ngày hôm đó, cô kiên quyết không nhận sự an ủi từ bất kỳ ai; và ngày hôm sau cũng vậy: mãi về sau cô mới trở nên ngoan ngoãn hơn đôi chút.

Vào buổi tối thứ ba, khi cô đang ngồi trên sàn nhà, mệt mỏi và trầm lặng, Graham bước vào, nhẹ nhàng bồng cô lên mà không nói một lời. Cô không chống cự: ngược lại còn rúc vào vòng tay cậu như thể đã kiệt sức. Khi cậu ngồi xuống, cô tựa đầu vào người cậu; chỉ vài phút sau cô đã chìm vào giấc ngủ; cậu bế cô lên lầu đưa vào giường ngủ. Tôi chẳng hề ngạc nhiên khi sáng hôm sau, câu đầu tiên cô đòi hỏi là: “Mr. Graham đâu rồi?”

Hôm ấy tình cờ Graham không ra bàn ăn sáng; cậu có vài bài tập phải viết cho lớp học buổi sáng đó, và đã nhờ mẹ mang hộ một tách trà vào phòng làm việc. Polly tình nguyện mang vào: con bé cứ phải bận rộn với cái gì đó, phải để mắt đến ai đó. Tách trà được giao phó cho cô; bởi vì dẫu có bứt rứt, cô cũng rất cẩn thận. Vì phòng làm việc nằm đối diện với phòng ăn, hai cánh cửa đối diện nhau qua lối đi, mắt tôi dõi theo từng bước chân cô.

“Anh đang làm gì đấy?” cô hỏi, dừng lại ngay bậc cửa.

“Đang viết bài,” Graham đáp.

“Sao anh không ra ăn sáng với bác gái?”

“Bận lắm.”

“Anh có muốn ăn sáng không?”

“Tất nhiên là có chứ.”

“Của anh đây.”

Và cô đặt tách trà xuống tấm thảm nhà, giống như một kẻ gác ngục đang đút bình nước của tù nhân qua ô cửa phòng giam, rồi lùi lại. Chẳng mấy chốc cô lại quay ra.

“Anh muốn ăn gì ngoài trà nữa—món gì để ăn lót dạ ấy?”

“Món nào ngon ấy. Mang cho anh cái gì thật đặc biệt vào nhé; cô bé ngoan.”

Cô quay lại chỗ bà Bretton.

“Thưa bác, bác cho anh ấy mang cái gì ngon ngon đi ạ.”

“Con cứ tùy ý chọn cho em đi, Polly; con trai bác nên ăn món gì nào?”

Cô chọn một phần của bất cứ món nào ngon nhất trên bàn; và chẳng bao lâu sau, cô quay lại với lời thì thầm xin một ít mứt cam, thứ mà vốn dĩ không có ở đó. Tuy nhiên, sau khi đã lấy được (bởi vì bà Bretton chẳng bao giờ từ chối cặp đôi này bất cứ điều gì), người ta sớm nghe thấy Graham ca ngợi cô lên tận mây xanh; hứa hẹn rằng khi nào có nhà riêng, cô sẽ làm quản gia cho cậu, và có lẽ—nếu cô thể hiện chút thiên hướng nấu nướng nào đó—thì sẽ làm đầu bếp của cậu; và vì cô mãi không quay ra, nên tôi đành đi tìm, và bắt gặp Graham cùng cô đang ăn sáng tête-à-tête—cô đứng bên khuỷu tay cậu, cùng chia sẻ bữa ăn với cậu: ngoại trừ hũ mứt cam, thứ mà cô khéo léo từ chối chạm vào, chắc là sợ người ta tưởng nhầm rằng cô xin nó cho chính mình chứ không phải cho cậu. Cô luôn thể hiện những nhận thức tinh tế và bản năng nhạy bén nhường ấy.

Mối quan hệ thân thiết vừa chớm nở ấy chẳng hề phai nhạt đi; trái lại, thời gian và hoàn cảnh dường như càng làm cho nó thêm bền chặt chứ không hề lỏng lẻo đi. Dẫu cho hai người có phần lệch pha về tuổi tác, giới tính, sở thích, v.v., họ vẫn tìm được rất nhiều điều để trò chuyện cùng nhau. Về phần Paulina, tôi nhận thấy tính cách nhỏ bé của cô bé chẳng bao giờ thực sự bộc lộ rõ ràng, ngoại trừ khi ở bên cậu thanh niên nhà Bretton. Khi đã ổn định và quen với ngôi nhà, cô tỏ ra khá ngoan ngoãn với bà Bretton; nhưng cô có thể ngồi trên chiếc đôn dưới chân người phụ nữ ấy suốt cả ngày dài, học bài, may vá, hay vẽ vời các hình khối bằng bút chì trên bảng đá, mà chẳng thèm bộc lộ một chút sáng tạo nào, hay dẫu chỉ là một tia sáng nhỏ về những nét tính cách đặc trưng của mình. Tôi thôi không còn quan sát cô trong những hoàn cảnh như thế nữa: cô chẳng có gì thú vị cả. Thế nhưng, khoảnh khắc tiếng gõ cửa của Graham vang lên vào buổi tối, một sự thay đổi liền diễn ra; cô có mặt ở đầu cầu thang ngay tức khắc. Thường thì lời chào đón của cô sẽ là một lời quở trách hoặc đe dọa.

“Anh đã không chùi giày cẩn thận trên thảm chùi chân rồi nhé. Em sẽ mách mẹ anh đấy.”

“Cô nàng nhiều chuyện! Em có ở đó không đấy?”

“Có chứ—và anh chẳng với tới em đâu: em đứng cao hơn anh cơ” (ló đầu qua các thanh lan can; cô không thể với đầu qua phía trên được).

“Polly!”

“Cục cưng của em!” (đó là một trong những cách gọi cậu mà cô phỏng theo mẹ cậu.)

“Anh mệt rũ rượi sắp xỉu đến nơi rồi đây,” Graham tuyên bố, dựa lưng vào bức tường hành lang với vẻ kiệt sức rõ mệt. “Dr. Digby” (thầy hiệu trưởng) “đã bắt anh làm việc quá sức đến mức tơi bời cả người rồi đây. Xuống đây giúp anh mang mấy cuốn sách lên nào.”

“Ái chà! Anh ranh mãnh lắm nhé!”

“Đâu có, Polly—sự thật rành rành ra đấy. Anh yếu mềm như cọng sậy ấy. Xuống đây mau.”

“Mắt anh cứ lim dim như mèo ấy, nhưng rồi anh sẽ chồm lên cho xem.”

“Chồm lên á? Không có chuyện đó đâu: anh nào có gan ấy. Xuống đây nào.”

“Có lẽ em sẽ xuống—nếu anh hứa là không chạm vào người—không chộp lấy em, và không xoay mòng mòng em nhé.”

“Anh á? Anh làm sao mà làm thế được chứ!” (gục hẳn xuống ghế.)

“Thế thì đặt sách xuống bậc thang đầu tiên đi, rồi lùi ra xa ba thước.”

Yên vị xong xuôi, cô rón rén bước xuống, mắt không rời khỏi cậu Graham yếu ớt. Dĩ nhiên sự tiếp cận của cô luôn kích thích cậu bừng tỉnh với một sức sống mới đầy phấn khích: trò đùa nghịch chắc chắn sẽ lại diễn ra. Có lúc cô sẽ nổi giận; có lúc mọi chuyện trôi qua êm ả và chúng tôi có thể nghe thấy cô nói trong lúc dìu cậu lên lầu: “Nào, cục cưng của em, lại đây uống trà đi—em chắc là anh đang cần gì đó lắm đấy.”

Thật là buồn cười khi quan sát cô bé ngồi cạnh Graham trong lúc cậu dùng bữa. Khi vắng mặt cậu, cô là một sinh vật điềm tĩnh, nhưng khi có cậu thì lại biến thành một tiểu thư lo xa, sốắng sắng nhất có thể. Tôi thường ước gì cô biết tự lo cho mình và sống bình thản lại; nhưng không—bản thân cô đã bị lu mờ bởi cậu: cậu không bao giờ được chăm sóc chu đáo hay quan sát cẩn thận cho đủ; trong mắt cô, cậu còn hơn cả một vị Đại Thổ Nhĩ Kỳ. Cô sẽ lần lượt gom các đĩa thức ăn trước mặt cậu lại, và khi mà người ta cứ tưởng mọi thứ cậu có thể muốn đều đã nằm trong tầm với rồi, cô lại phát hiện ra thứ khác: “Thưa bác,” cô sẽ thì thầm với bà Bretton,—“có lẽ con trai bác sẽ muốn ăn một chút bánh—bánh ngọt ấy ạ, bác biết đấy—có sẵn trong kia kìa” (chỉ tay về phía chiếc tủ đựng chén bát). Theo quy tắc, bà Bretton không đồng tình việc ăn bánh ngọt vào bữa trà, thế nhưng lời thỉnh cầu vẫn cứ được khẩn khoản nài nỉ,—“Chỉ một miếng nhỏ thôi ạ—chỉ cho anh ấy thôi—vì anh ấy phải đến trường: con gái—như con và chị Snowe—thì không cần những món quà vặt đó, nhưng anh ấy thì sẽ thích lắm.”

Graham quả thực rất thích, và hầu như lần nào cũng được như ý. Phải công bằng mà nói, cậu hẳn đã chia sẻ phần thưởng của mình với người đã mang lại nó cho cậu; nhưng điều đó không bao giờ được phép xảy ra: khăng khăng đòi hỏi nghĩa là làm cô nổi giận suốt cả buổi tối hôm đó. Được đứng bên đầu gối cậu, độc quyền trò chuyện và thu hút sự chú ý của cậu, đó mới là phần thưởng cô mong muốn—chứ không phải là một miếng bánh.

Với sự sẵn lòng kỳ lạ, cô thích ứng với bất kỳ chủ đề nào mà cậu hứng thú. Người ta cứ ngỡ đứa trẻ ấy chẳng có tâm trí hay cuộc sống của riêng mình, mà buộc phải sống, phải chuyển động và tồn tại trong một thể xác khác: giờ đây khi người cha đã rời xa, cô nép mình vào Graham, dường như cảm nhận bằng cảm xúc của cậu: tồn tại trong sự tồn tại của cậu. Cô học thuộc tên của tất cả bạn cùng trường với cậu trong nháy mắt: cô ghi nhớ tính cách của họ qua lời kể của cậu; chỉ một miêu tả ngắn gọn về một cá nhân cũng đủ để cô khắc ghi. Cô chẳng bao giờ quên hay nhầm lẫn các nhân vật: cô có thể trò chuyện với cậu suốt cả buổi tối về những con người mà cô chưa từng gặp mặt, và dường như thấu hiểu hoàn toàn vẻ bề ngoài, tác phong cũng như tính nết của họ. Có người cô còn học theo cách nhại lại: một trợ giảng, kẻ mà cậu chủ nhỏ Bretton căm ghét, hình như có một vài thói quen kỳ quặc, mà cô bắt chước được ngay lập tức qua lời miêu tả của Graham để diễn lại mua vui cho cậu; tuy nhiên, bà Bretton không đồng tình và đã cấm tiệt việc này.

Cặp đôi hiếm khi cãi vã; thế nhưng có một lần rạn nứt đã xảy ra, khiến cảm xúc của cô chịu một cú sốc nặng nề.

Một hôm, nhân dịp sinh nhật của mình, Graham có mời một vài người bạn—những thiếu niên bằng tuổi—đến nhà ăn tối. Paulina tỏ ra vô cùng hứng thú với sự xuất hiện của những người bạn này; cô đã nghe kể về họ rất nhiều lần; họ là những người mà Graham hay nhắc đến nhất. Sau bữa ăn, các cậu thanh niên được để lại một mình trong phòng ăn, nơi họ nhanh chóng trở nên vui vẻ và gây ra khá nhiều tiếng ồn. Tình cờ đi ngang qua sảnh, tôi thấy Paulina đang ngồi một mình trên bậc thấp nhất của cầu thang, đôi mắt dán chặt vào những tấm gỗ bóng loáng của cánh cửa phòng ăn, nơi ánh phản chiếu từ ngọn đèn sảnh đang rọi vào; trán cô bé nhíu lại vì đang trầm tư lo lắng.

“Em đang nghĩ gì thế, Polly?”

“Không có gì đặc biệt đâu ạ; chỉ là em ước gì cánh cửa kia là kính trong suốt—để em có thể nhìn xuyên qua đó. Mấy cậu con trai có vẻ vui quá, và em muốn vào với họ: em muốn ở bên Graham, và quan sát bạn bè của anh ấy.”

“Điều gì ngăn cản em vào thế?”

“Em thấy sợ: nhưng theo chị, em có thể thử không ạ? Em có thể gõ cửa và xin vào được không?”

Tôi nghĩ có lẽ họ sẽ không phản đối việc có thêm một cô bé chơi cùng, nên đã khuyến khích cô thử xem sao.

Cô gõ cửa—lúc đầu quá nhẹ nên không ai nghe thấy, nhưng đến lần thứ hai thì cánh cửa hé mở; khuôn mặt Graham xuất hiện; cậu trông có vẻ vô cùng phấn khởi, nhưng lại thiếu kiên nhẫn.

“Em muốn gì thế, con khỉ con?”

“Em muốn vào với các anh.”

“Thật á? Cứ như là anh muốn vướng víu vào em không bằng! Ra chỗ bác với chị Snowe đi, rồi bảo họ cho em đi ngủ đi.” Mái tóc màu nâu đỏ cùng gương mặt ửng hồng biến mất,—cánh cửa đóng sầm lại một cách dứt khoát. Cô bé sững sờ.

“Tại sao anh ấy lại nói thế nhỉ? Trước kia anh ấy có bao giờ nói vậy đâu,” cô nói trong sự bàng hoàng. “Em đã làm gì sai cơ chứ?”

“Không có gì đâu, Polly; nhưng Graham đang bận với bạn học của cậu ấy mà.”

“Và anh ấy thích họ hơn em! Anh ấy đuổi em đi ngay khi họ có mặt ở đây!”

Tôi có ý định an ủi cô, và nhân cơ hội này truyền đạt vài châm ngôn triết học mà tôi lúc nào cũng sẵn có một kho kha khá để đem ra áp dụng. Tuy nhiên, cô đã chặn tôi lại bằng cách nhét ngón tay vào tai ngay từ những lời đầu tiên tôi thốt ra, rồi nằm rạp xuống thảm với khuôn mặt úp vào những viên đá lát; và cả Warren lẫn đầu bếp đều không thể lôi cô ra khỏi tư thế đó được: vì thế, cô được phép nằm lì ở đó cho đến khi tự mình muốn đứng dậy.

Graham đã quên đi sự thiếu kiên nhẫn của mình ngay tối hôm đó và định đón chào cô như thường lệ khi bạn bè đã ra về, nhưng cô giật mạnh tay khỏi cậu; đôi mắt lóe lên tia giận dữ; cô nhất quyết không chúc cậu ngủ ngon; nhất quyết không thèm nhìn vào mặt cậu. Ngày hôm sau, cậu đối xử với cô bằng thái độ dửng dưng, còn cô thì lạnh lùng như một bức tượng đá. Ngày tiếp theo nữa, cậu trêu chọc để gặng hỏi chuyện gì đang xảy ra; đôi môi cô mím chặt không hé mở. Dĩ nhiên cậu chẳng thể thực sự tức giận nổi: sự chênh lệch giữa hai người quá lớn về mọi mặt; cậu đành thử dỗ dành và nịnh nọt. “Sao em lại giận dữ thế? Anh đã làm gì nào?” Chẳng mấy chốc những giọt nước mắt đã trả lời thay cô; cậu ân cần dỗ dành cô, thế là họ lại làm hòa. Nhưng cô là kiểu người chẳng bao giờ quên đi những cú sốc như thế: tôi nhận ra rằng kể từ sau cái tát nước lạnh này, cô không bao giờ chủ động tìm kiếm cậu, đi theo cậu, hay bất kỳ cách nào đòi hỏi sự chú ý từ cậu nữa. Có lần tôi bảo cô mang một cuốn sách hay vật dụng gì đó cho Graham khi cậu đang đóng cửa trong phòng làm việc.

“Em sẽ đợi cho đến khi anh ấy bước ra,” cô kiêu hãnh nói; “Em không thích làm phiền anh ấy phải đứng dậy mở cửa đâu.”

Cậu thanh niên nhà Bretton có một chú ngựa con cưng mà cậu vẫn thường cưỡi đi dạo; từ cửa sổ, cô luôn dõi theo mỗi lúc cậu xuất hiện rồi trở về. Cô có một hoài bão là được phép cưỡi chú ngựa này đi một vòng quanh sân; nhưng đừng mong cô sẽ hạ mình đi cầu xin một ân huệ như thế. Một hôm, cô đi xuống sân để ngắm cậu xuống ngựa; khi tựa người vào cánh cổng, khao khát được một lần cưỡi ngựa lấp lánh trong đôi mắt cô.

“Nào Polly, em có muốn cưỡi ngựa một vòng phi nước đại không?” Graham cất lời, nửa thờ ơ nửa hững hờ.

Tôi đoán là cô nghĩ cậu quá dửng dưng.

“Không, cảm ơn anh,” cô nói, quay lưng bước đi với vẻ lạnh lùng tột độ.

“Em nên đi đi,” cậu thuyết phục tiếp. “Anh chắc là em sẽ thích mê cho xem.”

“Đừng tưởng là em thèm quan tâm nhé,” câu trả lời vang lên.

“Không đúng đâu nhé. Em đã nói với Lucy Snowe là em khao khát được cưỡi ngựa còn gì.”

“Lucy Snowe là cái đồ nhiều chuyện,” tôi nghe thấy cô nói vậy; (khả năng phát âm chưa sõi của cô là điều ít ra vẻ già trước tuổi nhất ở cô); nói xong, cô hiên ngang bước thẳng vào nhà.

Graham bước vào ngay sau đó, nhận xét với mẹ rằng,—“Mẹ ơi, con tin rằng sinh vật đó là một đứa trẻ bị đánh tráo: con bé chẳng khác nào một cái kho chứa đầy những thứ kỳ quái; nhưng nếu thiếu nó thì con sẽ buồn chán lắm; nó làm con giải trí nhiều hơn cả mẹ hay chị Lucy Snowe nữa.”

“Cô Snowe ạ,” Paulina nói với tôi (lúc này cô đã hình thành thói quen thỉnh thoảng trò chuyện với tôi khi chúng tôi ở một mình trong phòng vào ban đêm), “chị có biết vào ngày nào trong tuần mà em thích Graham nhất không?”

“Làm sao mà chị có thể biết nổi cái điều kỳ cục thế chứ? Chẳng lẽ có ngày nào trong bảy ngày đó mà cậu ấy đối xử khác với sáu ngày còn lại sao?”

“Đương nhiên là có chứ! Chị không thấy à? Chị không biết sao? Em thấy cậu ấy tuyệt vời nhất là vào ngày Chủ nhật; ngày đó chúng ta có cậu ấy trọn vẹn cả ngày, và cậu ấy rất điềm tĩnh, và đến buổi tối thì lại cực kỳ ân cần.”

Nhận xét này không phải là không có cơ sở: việc đi nhà thờ, v.v., đã giữ cho Graham sự điềm đạm vào ngày Chủ nhật, và buổi tối cậu thường dành trọn cho một khoảng thời gian tận hưởng sự thư thái, dẫu có phần lười biếng bên lò sưởi phòng khách. Cậu sẽ chiếm lấy chiếc ghế bành dài, rồi gọi Polly đến.

Graham không phải là một cậu bé giống hệt những đứa trẻ khác; mọi niềm vui của cậu không chỉ nằm ở sự hiếu động: cậu có những khoảng thời gian dành cho sự chiêm nghiệm; cậu cũng có thể tìm thấy niềm vui trong việc đọc sách, và việc lựa chọn sách của cậu không hề bừa bãi: ẩn giấu trong đó những tia sáng của sở thích cá nhân, thậm chí cả gu thẩm mỹ bản năng. Đúng là cậu hiếm khi đưa ra bình luận về những gì mình đọc, nhưng tôi đã từng chứng kiến cậu ngồi im lặng và suy ngẫm về nó.

Polly, ở gần bên cậu, quỳ trên chiếc đệm nhỏ hoặc tấm thảm, một cuộc trò chuyện sẽ bắt đầu bằng những âm thanh thì thầm, không phải là không nghe thấy được, dẫu bị nén giọng lại. Thỉnh thoảng tôi cũng bắt gặp vài đoạn trích ngang tai; và quả thực, có một thứ ảnh hưởng nào đó tốt đẹp và tinh tế hơn ngày thường, dường như đã xoa dịu Graham vào những khoảnh khắc ấy thành một tâm trạng vô cùng dịu dàng.

“Tuần này em đã học thuộc bài thánh ca nào chưa, Polly?”

“Em học được một bài hay lắm, dài bốn khổ thơ cơ. Em đọc cho anh nghe nhé?”

“Đọc cho hay vào đấy: đừng có mà hấp tấp.”

Bài thánh ca được cất lên, hay đúng hơn là được ngâm nga nửa vời bằng một giọng ca nhỏ nhắn, Graham sẽ bắt bẻ cách thể hiện, rồi tiến hành đưa ra một bài học về cách ngâm thơ. Cô bé học rất nhanh, bắt chước rất cừ; hơn nữa, niềm vui của cô là làm vui lòng Graham: cô tỏ ra là một học trò vô cùng sáng dạ. Tiếp sau bài thánh ca sẽ là việc đọc sách—có lẽ là một chương trong Kinh Thánh; việc sửa sai hiếm khi phải dùng đến ở đây, vì đứa trẻ có thể đọc rất trôi chảy bất kỳ chương tường thuật đơn giản nào; và khi chủ đề là thứ cô có thể hiểu và hứng thú, biểu cảm cùng cách nhấn nhá của cô thực sự là điều gì đó rất đáng kinh ngạc. Giếng nước nơi Joseph bị ném xuống; tiếng gọi Samuel; Daniel trong hang sư tử;—đó là những đoạn văn yêu thích: đặc biệt là đoạn đầu tiên, cô dường như cảm nhận trọn vẹn nỗi bi thương của nó.

“Gia-cốp tội nghiệp!” thỉnh thoảng cô lại thốt lên với đôi môi run rẩy. “Ông ấy yêu con trai Joseph biết bao! Cậu ấy thêm vào một câu—cũng nhiều như—cũng nhiều bằng, Graham ạ, như cách mà em yêu anh: nếu như anh chết đi” (và cô mở lại cuốn sách, tìm kiếm câu thơ và đọc), “em sẽ từ chối mọi sự an ủi, và đi xuống mồ với anh trong nỗi tiếc thương.”

Nói xong những lời đó, cô ôm chầm lấy Graham trong vòng tay nhỏ bé, kéo cái đầu với những lọn tóc dài của cậu sát về phía mình. Tôi nhớ cử động ấy từng khiến tôi thấy có gì đó liều lĩnh đến kỳ lạ; khơi gợi cảm giác mà người ta có thể trải qua khi nhìn thấy một loài động vật bản tính nguy hiểm, mới chỉ được thuần hóa một nửa bằng nghệ thuật, lại bị âu yếm một cách quá đỗi bất cẩn. Không phải vì tôi sợ Graham sẽ làm tổn thương, hay cấm cản cô một cách thô bạo; mà tôi nghĩ cô đang gặp rủi ro phải hứng chịu một sự hất hủi bất cẩn, thiếu kiên nhẫn—thứ mà đối với cô còn tồi tệ hơn cả một cú tát. Tuy nhiên, nhìn chung thì những biểu hiện đó đều được cậu dung thứ một cách thản nhiên: đôi khi thậm chí có một chút ngạc nhiên hài lòng trước sự thiên vị tha thiết của cô lấp lánh không chút ác ý trong đôi mắt cậu. Có lần cậu nói:—“Em quý anh gần như thể em là em gái nhỏ của anh vậy, Polly.”

“Ôi! Em quý anh chứ,” cô nói; “Em quý anh nhiều lắm.”

Tôi chẳng được phép tận hưởng sự giải trí từ việc nghiên cứu tính cách này lâu dài. Cô vừa mới ở Bretton được chừng hai tháng, thì một bức thư từ ông Home gửi đến, thông báo rằng ông hiện đã định cư cùng những người họ hàng bên ngoại ở lục địa; rằng vì nước Anh đã trở thành nơi khiến ông hoàn toàn ghê tởm, ông không có ý định quay trở lại đây nữa, có lẽ là trong nhiều năm; và rằng ông muốn cô con gái nhỏ của mình lập tức sang đoàn tụ với ông.

“Không biết con bé sẽ đón nhận tin này thế nào đây?” bà Bretton nói khi đọc xong bức thư. Tôi cũng tự hỏi điều tương tự, và tôi đã nhận trách nhiệm đi thông báo cho cô bé.

Bước vào phòng khách—căn phòng yên tĩnh và được trang hoàng lộng lẫy mà cô rất thích ở một mình, và nơi cô hoàn toàn đáng tin cậy, bởi cô chẳng bao giờ táy máy hay làm vấy bẩn bất cứ thứ gì mình chạm vào—tôi thấy cô đang ngồi, tựa như một tiểu thư Odalisque nhỏ bé, trên chiếc ghế dài, bị che khuất một nửa bởi những tấm rèm rủ xuống từ khung cửa sổ gần đó. Cô có vẻ hạnh phúc; mọi dụng cụ phục vụ cho công việc đều vây quanh cô; chiếc hộp đựng đồ khâu bằng gỗ trắng, một vài mảnh vải musselin, một vài đoạn ruy băng được thu gom để biến thành đồ làm mũ búp bê. Con búp bê, được đội mũ ngủ và mặc áo ngủ đàng hoàng, đang nằm trong nôi; cô đang ru nó ngủ với vẻ mặt hoàn toàn tin tưởng rằng nó có đầy đủ các giác quan và khả năng buồn ngủ; trong khi đó, đôi mắt cô lại đang bận rộn với một cuốn sách tranh đang mở trên đùi.

“Chị Snowe ạ,” cô thì thầm, “đây là một cuốn sách kỳ diệu đấy. Candace” (con búp bê được Graham đặt tên cho; bởi vì thực ra, làn da bám đầy bụi bẩn của nó mang đậm nét đặc trưng của người Ethiopia)—“Candace đang ngủ rồi, nên em có thể kể cho chị nghe về nó; chỉ là chúng ta phải nói nhỏ thôi, kẻo nó thức giấc. Cuốn sách này là do Graham tặng em đấy; nó kể về những xứ sở xa xôi, một nơi cách rất rất xa nước Anh, mà không một du khách nào có thể tới được nếu không đi thuyền hàng ngàn dặm vượt biển. Những người hoang dã sống ở những xứ sở này, chị Snowe ạ, họ mặc quần áo khác với chúng ta: thực ra, có những người hầu như chẳng mặc gì cả, để cho mát mẻ ấy mà; vì ở đó thời tiết rất nóng. Đây là bức tranh vẽ hàng ngàn người tụ tập ở một nơi hoang vắng—một vùng đồng bằng trải đầy cát—vây quanh một người mặc đồ đen—một người Anh tốt bụng—một nhà truyền giáo, đang giảng đạo cho họ dưới bóng cây cọ.” (Cô chỉ vào một bức tranh nhỏ có màu minh họa cho điều đó.) “Và đây là những bức tranh” (cô nói tiếp) “còn kỳ lạ hơn” (ngữ pháp đôi khi bị bỏ quên) “cả bức đó nữa. Kia là Vạn Lý Trường Thành kỳ diệu của Trung Quốc; đây là một bà người Trung Quốc, với bàn chân còn nhỏ hơn cả chân em. Kia là một chú ngựa hoang xứ Tartary; và đây, kỳ lạ nhất trong tất cả—là một vùng băng tuyết, không có đồng cỏ xanh, rừng cây hay khu vườn nào. Ở vùng đất này, người ta tìm thấy một vài bộ xương voi ma mút: giờ thì chẳng còn con voi ma mút nào nữa cả. Chị không biết nó là gì đâu, nhưng em có thể kể cho chị, bởi vì Graham đã kể cho em nghe rồi. Một sinh vật yêu tinh hùng vĩ, cao bằng căn phòng này, và dài bằng cả hành lang; nhưng theo Graham nghĩ thì nó không phải là loài hung dữ, ăn thịt người. Cậu ấy tin rằng, nếu em gặp một con trong rừng, nó sẽ không giết em đâu, trừ khi em đứng cản đường nó; khi đó nó sẽ giẫm đạp em xuống đám bụi rậm, giống như em dẫm lên một con châu chấu trên cánh đồng cỏ khô mà chẳng hề hay biết vậy.”

Cứ thế cô thiên nan vạn ngữ huyên thiên.

“Polly,” tôi cắt ngang, “em có thích đi du lịch không?”

“Chưa phải lúc này đâu ạ,” câu trả lời rất khôn ngoan; “nhưng có lẽ trong hai mươi năm nữa, khi em đã trưởng thành, cao bằng bà Bretton, em có thể đi du lịch cùng Graham. Chúng em dự định sẽ đến Thụy Sĩ và trèo lên đỉnh Mont Blanck; và một ngày nào đó chúng em sẽ đi thuyền sang Nam Mỹ và đi bộ lên tận đỉnh Kim-kim-borazo.”

“Nhưng nếu bây giờ cha em ở cùng, em có thích đi du lịch không nào?”

Câu trả lời của cô—được thốt ra sau một khoảng lặng—lại bộc lộ một trong những khúc quanh tính cách bất ngờ vốn là đặc trưng của cô.

“Nói mấy cái điều ngớ ngẩn ấy làm gì chứ?” cô nói. “Sao chị lại nhắc đến cha cơ chứ? Cha thì dính dáng gì đến chị nào? Em vừa mới bắt đầu thấy vui vẻ trở lại, và không phải nghĩ về ông ấy nhiều như thế nữa, vậy mà bây giờ lại phải bắt đầu lại từ đầu tất cả mọi thứ!”

Đôi môi cô run rẩy. Tôi vội vã tiết lộ chuyện đã nhận được một bức thư, và nhắc đến những chỉ thị rằng cô và Harriet phải lập tức quay về với người cha đáng yêu này. “Nào Polly, em không vui mừng chút nào sao?” tôi bồi thêm.

Cô không đáp lời. Cô thả rơi cuốn sách xuống và ngừng ru con búp bê; cô đăm đăm nhìn tôi với vẻ nghiêm nghị và thiết tha.

“Em không thích đến chỗ cha sao?”

“Đương nhiên là có chứ ạ,” cuối cùng cô cũng cất lời với cái giọng sắc sảo mà cô thường dùng khi nói chuyện với tôi; và điều đó hoàn toàn khác với giọng điệu cô dùng với bà Bretton, và lại càng khác biệt so với giọng dành riêng cho Graham. Tôi muốn gặng hỏi thêm về suy nghĩ của cô nhưng không: cô nhất định không chịu trò chuyện thêm nữa. Vội vã chạy đến chỗ bà Bretton, cô gặng hỏi và nhận được sự xác nhận cho tin tức của tôi. Trọng lượng và tầm quan trọng của tin tức này khiến cô hoàn toàn giữ vẻ mặt nghiêm túc suốt cả ngày hôm đó. Buổi tối, đúng khoảnh khắc tiếng bước chân Graham bước vào nhà vang lên ở tầng dưới, tôi thấy cô đang ở cạnh tôi. Cô bắt đầu chỉnh lại chiếc ruy băng mặt dây chuyền quanh cổ tôi, cô tháo ra rồi lại cài chiếc lược vào mái tóc tôi; trong lúc đang bận rộn như vậy, Graham bước vào.

“Lát nữa hãy nói cho anh ấy biết nhé,” cô thì thầm; “hãy bảo anh ấy là em sắp đi rồi.”

Trong suốt bữa trà, tôi đã truyền đạt lại thông tin theo ý muốn. Trùng hợp thay, lúc đó Graham đang vô cùng bận tâm về một giải thưởng học tập nào đó mà cậu đang tham gia tranh tài. Tin tức phải được kể lại hai lần thì cậu mới thực sự chú ý, và ngay cả khi đó cậu cũng chỉ lướt qua nó trong khoảnh khắc.

“Polly đi á? Thật tiếc quá! Cô Chuột Nhắt đáng yêu của anh, anh sẽ thấy buồn khi mất đi em đấy: em phải đến chỗ chúng ta nữa nhé, mẹ ơi.”

Và vội vã nuốt vội tách trà, cậu cầm lấy một ngọn nến và chiếc bàn nhỏ dành riêng cho mình cùng đống sách vở, rồi nhanh chóng vùi đầu vào việc học.

“Cô Chuột Nhắt” bò sát đến bên cậu, nằm dài trên tấm thảm ngay dưới chân cậu, mặt áp xuống sàn; lặng ngào và bất động, cô giữ nguyên tư thế và vị trí đó cho đến tận giờ đi ngủ. Có một lúc tôi thấy Graham—hoàn toàn không hay biết gì về sự hiện diện gần kề của cô—đã đẩy cô bằng cái chân bứt rứt của mình. Cô dịch chuyển lùi lại một hoặc hai inch. Chỉ một phút sau, một bàn tay nhỏ xíu luồn ra từ bên dưới khuôn mặt, nơi nó vừa được áp vào, và nhẹ nhàng vuốt ve bàn chân vô tình ấy. Khi được bảo mẫu gọi, cô đứng dậy và rời đi một cách vô cùng ngoan ngoãn, sau khi đã chúc tất cả chúng tôi ngủ ngon bằng một giọng trầm buồn.

Tôi sẽ không nói là mình sợ phải đi ngủ một giờ sau đó; nhưng quả thực tôi bước đi với một dự cảm bất an rằng mình sẽ không tìm thấy đứa bé ấy đang có một giấc ngủ bình yên. Lời cảnh báo của trực giác đã thành hiện thực, khi tôi phát hiện ra cô, lạnh ngắt và tỉnh táo, đậu như một chú chim trắng ở phía ngoài mép giường. Tôi hầu như chẳng biết phải bắt chuyện với cô thế nào; cô không phải là kiểu đứa trẻ có thể dễ dàng quản lý như những đứa khác. Tuy nhiên, chính cô lại là người bắt chuyện với tôi. Khi tôi khép cửa lại và đặt ngọn nến lên bàn trang điểm, cô quay về phía tôi với những lời này:—“Em không thể—không thể ngủ được; và cứ thế này thì em không thể—không thể sống nổi đâu!”

Tôi hỏi cô bị làm sao.

“Đau—đớn—khổ—sở—lắm ạ!” cô nói với giọng ngọng nghịu đáng thương.

“Có cần gọi bà Bretton không em?”

“Nghe ngớ ngẩn hết chỗ nói,” cô thiếu kiên nhẫn đáp lại; và quả thực, tôi thừa biết rằng nếu cô nghe thấy tiếng bước chân của bà Bretton đến gần, cô sẽ rúc vào chăn im lìm như một chú chuột nhắt. Trong khi trút bỏ mọi nét kỳ quặc của mình một cách bất chấp trước mặt tôi—người mà cô thậm chí còn chẳng mảy may tỏ ra chútaffection (tình cảm) nào—cô chưa bao giờ hé lộ với mẹ đỡ đầu của tôi dẫu chỉ một tia sáng về thế giới nội tâm của mình: đối với bà, cô chẳng là gì ngoài một thiếu nữ ngoan ngoãn, có phần kỳ lạ. Tôi kiểm tra cô; má cô đỏ bừng; đôi mắt mở lớn vừa mang vẻ phiền muộn, bừng sáng lại vừa bứt rứt đến đau đớn: trong trạng thái này, rõ ràng là không thể để cô lại một mình cho đến sáng được. Tôi đoán được tình hình lúc bấy giờ.

“Em có muốn chúc Graham ngủ ngon thêm một lần nữa không?” tôi hỏi. “Cậu ấy vẫn chưa về phòng đâu.”

Cô lập tức dang rộng đôi tay nhỏ bé để được bồng lên. Quấn một chiếc khăn choàng quanh người cô, tôi bế cô trở lại phòng khách. Graham lúc đó vừa bước ra.

“Em ấy không thể ngủ được nếu chưa được gặp và nói chuyện với anh thêm một lần nữa,” tôi nói. “Em ấy không thích nghĩ đến chuyện phải rời xa anh.”

“Anh chiều hư em ấy mất thôi,” cậu nói, đón lấy cô từ tay tôi với thái độ vui vẻ và đặt những nụ hôn lên khuôn mặt nóng hổi cùng đôi môi đang hừng hực của cô. “Polly, bây giờ thì em quan tâm đến anh hơn cả cha rồi đấy—”

“Em quan tâm đến anh thật mà, nhưng anh thì chẳng thèm quan tâm đến em chút nào,” cô thì thầm.

Cô được trấn an ngược lại, lại được hôn một cái nữa, rồi được trao trả lại cho tôi, và tôi bế cô đi; nhưng ôi chao, cô chẳng hề được xoa dịu chút nào.

Khi tôi nghĩ cô đã có thể lắng nghe mình, tôi nói—“Paulina, em không nên đau buồn vì Graham không quan tâm đến em nhiều như em quan tâm đến cậu ấy. Đời là thế mà.”

Đôi mắt ngước lên đầy vẻ chất vấn của cô hỏi tại sao.

“Bởi vì cậu ấy là con trai còn em là con gái; cậu ấy mười sáu tuổi trong khi em mới chỉ lên sáu; bản chất của cậu ấy mạnh mẽ và vui tươi, còn em thì ngược lại.”

“Nhưng em yêu quý cậu ấy nhiều thế cơ mà; anh ấy phải yêu quý em một chút chứ.”

“Cậu ấy có mà. Cậu ấy quý em đấy chứ. Em là đứa trẻ cưng của cậu ấy cơ mà.”

“Em là đứa cưng của Graham thật ạ?”

“Ừ, hơn bất kỳ đứa trẻ nào mà chị biết.”

Sự quả quyết đó đã xoa dịu cô; cô mỉm cười trong nỗi thống khổ.

“Nhưng,” tôi tiếp lời, “đừng dằn vặt nữa, và đừng kỳ vọng quá nhiều vào cậu ấy, bằng không cậu ấy sẽ thấy em phiền phức, và khi đó thì mọi chuyện coi như chấm dứt.”

“Chấm dứt!” cô thì thầm lặp lại; “vậy thì em sẽ ngoan. Em sẽ cố gắng ngoan, chị Lucy Snowe ạ.”

Tôi cho cô lên giường đi ngủ.

“Cậu ấy sẽ tha thứ cho em lần này chứ ạ?” cô hỏi, trong lúc tôi đang cởi đồ. Tôi trấn an cô rằng cậu ấy sẽ tha thứ; rằng hiện tại cậu ấy hoàn toàn chưa hề xa lánh cô; rằng từ nay cô chỉ cần cẩn thận hơn trong tương lai là được.

“Làm gì có tương lai,” cô nói: “Em sắp đi rồi. Liệu em có bao giờ—bao giờ—gặp lại anh ấy nữa sau khi em rời khỏi nước Anh không?”

Tôi đáp lại bằng một câu trả lời đầy khích lệ. Ngọn nến được thổi tắt, nửa tiếng đồng hồ nữa trôi qua trong yên lặng. Tôi tưởng cô đã ngủ say, thì cái hình hài trắng muốt ấy lại một lần nữa nhổm dậy trong chiếc nôi nhỏ, và giọng nói nho nhỏ cất lên—“Chị có thích Graham không, chị Snowe?”

“Thích chứ! Ừ, cũng hơi thích.”

“Chỉ hơi thích thôi á? Chị có thích cậu ấy như em không?”

“Chị nghĩ là không. Không: không giống như cách em thích đâu.”

“Chị có thích cậu ấy nhiều không?”

“Chị đã bảo là chị hơi thích rồi mà. Quan tâm đến cậu ấy nhiều làm gì cho mệt: cậu ấy đầy rẫy khuyết điểm cơ mà.”

“Thế ạ?”

“Đứa con trai nào mà chẳng thế.”

“Hơn cả con gái ạ?”

“Rất có thể. Người khôn kẻ ngoan vẫn bảo rằng thật ngốc nghếch khi nghĩ ai đó là hoàn hảo; và nói về chuyện thích hay không thích, chúng ta nên đối xử thân thiện với tất cả mọi người, chứ chẳng tôn thờ ai cả.”

“Chị là người khôn ngoan đấy à?”

“Chị đang cố gắng để trở thành người như thế. Ngủ đi thôi.”

“Em không ngủ được. Chị có thấy đau nhói ngay chỗ này không” (đặt bàn tay nhỏ bé tựa yêu tinh lên lồng ngực yêu tinh của mình), “mỗi khi chị nghĩ đến chuyện chị sẽ phải rời xa Graham; vì nhà của chị không phải ở đây mà?”

“Chắc chắn rồi, Polly,” tôi bảo, “em không nên cảm thấy đau đớn quá mức như thế khi mà chẳng bao lâu nữa em sẽ được đoàn tụ với cha mình. Em quên ông ấy rồi sao? Em không còn muốn làm cô bạn nhỏ của ông ấy nữa à?”

Sự im lặng chết chóc bao trùm sau câu hỏi này.

“Đứa trẻ này, nằm xuống và ngủ đi,” tôi giục giã.

“Giường của em lạnh lắm,” cô nói. “Em chẳng thể làm ấm nó lên được.”

Tôi thấy con bé run rẩy. “Lại đây với chị,” tôi nói, vừa muốn vừa thầm mong mỏi cô sẽ nghe theo: bởi vì cô là một sinh vật tí hon vô cùng kỳ lạ, thất thường, và đặc biệt là hay giở chứng với tôi. Tuy nhiên, cô lại đến ngay lập tức, giống như một con ma nhỏ lướt nhẹ trên tấm thảm. Tôi ôm cô vào lòng. Người cô lạnh ngắt: tôi sưởi ấm cho cô trong vòng tay mình. Cô run lẩy bẩy vì căng thẳng; tôi vỗ về cô. Nhờ được trấn an và nâng niu như thế, cuối cùng cô cũng chìm vào giấc ngủ.

“Quả là một đứa trẻ có một không hai,” tôi thầm nghĩ, khi ngắm nhìn gương mặt đang ngủ say của cô dưới ánh trăng chập chờn, và cẩn trọng, nhẹ nhàng lau đi đôi mắt lấp lánh cùng đôi má đẫm nước mắt của cô bằng chiếc khăn tay của mình. “Rồi con bé sẽ vượt qua thế giới này thế nào đây, hay chiến đấu với cuộc đời này ra sao? Con bé sẽ chịu đựng những cú sốc và sự hất hủi, những tủi nhục và tang thương, mà sách vở và chính lý trí của tôi bảo rằng đã được chuẩn bị sẵn cho mọi kiếp người, bằng cách nào chứ?”

Ngày hôm sau cô rời đi; run rẩy như chiếc lá lúc từ biệt nhưng vẫn cố gắng tự chủ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Charlotte Brontë

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.