Chỉ còn ba ngày nữa, rồi tôi phải quay lại trường nội trú. Tôi gần như đếm từng khoảnh khắc trôi qua trên mặt đồng hồ; ước gì tôi có thể níu kéo thời gian đừng bay đi; thế nhưng chúng vẫn trôi tuột đi trong lúc tôi dõi theo: chúng đã biến mất tự bao giờ trong khi tôi vẫn còn đang nơm nớp sợ hãi ngày chia tay.
– Hôm nay Lucy sẽ không rời khỏi chúng ta đâu, – bà Bretton vừa nói vừa ân cần dỗ dành trong bữa điểm tâm; – con bé thừa biết chúng ta có thể xin gia hạn thêm lần nữa.
– Con sẽ chẳng đời nào xin xỏ dẫu chỉ cần cất một nhời là được, – tôi đáp. – Con chỉ mong sao mau chóng qua được màn từ biệt ấy, để lại được ổn định ở phố Fossette. Con phải đi ngay sáng nay; con phải đi tức khắc; rương hòm của con đã đóng và thắt dây dợ xong xuôi cả rồi.
Thế nhưng, việc đi lại phụ thuộc vào quyết định của Graham; anh ấy từng bảo sẽ đi cùng tôi, ngặt một nỗi anh bận bịu suốt cả ngày, mãi tận chập tối mới về đến nhà. Thế là một cuộc tranh luận nho nhỏ nổ ra. Bà Bretton và con trai nài nỉ tôi ở lại thêm một đêm nữa. Tôi chực khóc đến nơi, lòng bứt rứt và nôn nóng muốn đi cho khuất mắt. Tôi khao khát rời khỏi họ chẳng khác nào kẻ tử tội trên đoạn đầu đài khao khát lưỡi rìu buông xuống: nghĩa là, tôi chỉ muốn chịu đựng xong cơn đau đớn ấy cho rồi. Họ nào đâu thể hiểu tôi đã mong ngóng điều đó đến nhường nào. Trong những chuyện này, tâm trạng của tôi là thứ nằm ngoài tầm trải nghiệm của họ.
Trời đã tối mịt khi Tiến sĩ John đỡ tôi xuống khỏi cỗ xe ngựa trước cửa nhà Madame Beck. Chiếc đèn lồng phía trên đã được thắp sáng; trời lất phất mưa phùn tháng Mười Một, y như cái cảnh đã kéo dài suốt cả ngày hôm ấy: ánh đèn lồng hắt lên lớp đá lát đường ướt sũng. Cảnh tượng lúc này hệt như đêm mà chưa đầy một năm trước, tôi từng lần đầu tiên dừng chân ngay trước ngưỡng cửa này; mọi thứ y hệt chẳng khác chút nào. Tôi nhớ rõ từng hình thù của những viên đá lát đường mà ngày trước tôi từng dán mắt ngắm nghía trong lúc con tim đập thình thịch, chờ đợi cánh cửa nơi tôi đang đứng mở ra – một kẻ đơn độc và đang khẩn cầu. Cũng vào đêm hôm đó, tôi đã thoáng gặp người hiện đang đứng cạnh mình. Tôi đã bao giờ nhắc lại cuộc tao ngộ ấy với anh, hay giải thích về nó chưa? Chưa hề, và tôi cũng chẳng bao giờ có nhã hứng làm điều đó: đó là một ký ức dễ chịu, được cất giấu kín đáo trong tâm trí tôi, và tốt nhất là cứ để nó nằm yên ở đó.
Graham kéo chuông cửa. Cánh cửa bật mở ngay lập tức, bởi đó vừa đúng là lúc các học viên bán trú ra về – thế nên Rosine đang rất tỉnh táo túc trực.
– Anh đừng vào nhé, – tôi bảo anh; nhưng anh vẫn bước chớm vào khoảng tiền sảnh sáng sủa. Tôi không hề muốn anh nhìn thấy cảnh “mắt tôi rưng rưng,” bởi bản tính anh quá đỗi nhân hậu, chẳng bao giờ đành lòng chứng kiến những nỗi buồn bã như thế một cách vô ích. Anh lúc nào cũng muốn chữa lành – muốn xoa dịu – dẫu rằng, dẫu trong vai một y bác sĩ, có lẽ cả phép chữa trị lẫn sự xoa dịu ấy đều vượt quá tầm tay của anh.
– Hãy vững vàng lên nhé, Lucy. Hãy xem mẹ con tôi như những người bạn tri kỷ. Chúng tôi sẽ không quên em đâu.
– Và em cũng sẽ không quên anh, thưa Tiến sĩ John.
Chiếc rương của tôi lúc này đã được khuân vào nhà. Chúng tôi đã bắt tay nhau; anh quay người định đi, nhưng vẫn chưa thấy thỏa mãn: anh chưa làm hay nói đủ để thỏa mãn bản tính hào hiệp của mình.
– Lucy, – anh bước theo tôi, – em có thấy cô đơn lắm khi ở đây không?
– Lúc đầu thì có ạ.
– Thôi được, mẹ tôi sẽ sớm ghé thăm em; còn bây giờ, tôi bảo sẽ làm thế này. Tôi sẽ viết thư – cứ viết bất kỳ câu chuyện nhảm nhí vui vẻ nào nảy ra trong đầu – chịu chứ?
– Trái tim quả cảm và tốt đẹp biết bao! – tôi thầm nghĩ trong lòng; nhưng tôi mỉm cười lắc đầu, rồi bảo: – Anh đừng nghĩ đến chuyện đó làm gì: đừng tự chuốc lấy cái gánh nặng ấy vào người. Anh mà viết thư cho em ư! – anh còn chẳng có thời gian đâu.
– Ồ! Tôi sẽ tìm hoặc tranh thủ thời gian cho bằng được. Tạm biệt em!
Anh đã đi rồi. Cánh cửa nặng nề khép sầm lại: lưỡi rìu đã buông xuống – cơn đau đớn đã trải qua.
Không cho phép bản thân dù chỉ một giây phút suy tư hay cảm thán – nuốt những giọt nước mắt vào trong ngỡ như đang uống rượu cay – tôi bước sang phòng khách của Madame để thực hiện chuyến viếng thăm chào xã giao và bày tỏ sự kính trọng theo lệ thường. Bà đón tiếp tôi bằng vẻ niềm nở được diễn xuất vô cùng hoàn hảo – thậm chí còn tỏ ra hồ hởi, dù ngắn ngủi, trong lời chào mừng. Chỉ mười phút sau là tôi được cho phép lui ra. Từ phòng ăn, tôi rảo bước đến nhà ăn chung, nơi các học sinh và giáo viên lúc này đã tề tựu để tự học buổi tối: một lần nữa, tôi lại nhận được lời chào đón, và tôi nghĩ, đó không hẳn là một sự giả dối trống rỗng. Xong xuôi đâu đấy, tôi tự do lui về phòng ngủ tập thể.
– Liệu Graham có thực sự viết thư không nhỉ? – tôi tự hỏi khi lả người phờ phạc ngồi phịch xuống mép giường.
Lý Trí, lén lút tiến đến bên tôi xuyên qua màn chập tối của căn phòng dài và mờ ảo ấy, điềm tĩnh thì thầm: – “Cậu ta có thể viết một lần. Bản tính cậu ta vốn tốt bụng, biết đâu điều đó sẽ khơi gợi cho cậu ta cố gắng lấy một lần. Nhưng việc đó không thể kéo dài mãi – cũng chẳng thể lặp lại đâu. Thật là ngu ngốc xiết bao nếu ai đó lại đi xây dựng hy vọng trên một lời hứa hẹn như thế – và thật là mất trí xiết bao nếu nhầm lẫn vũng nước mưa chốc lát, chứa đựng vỏn vẹn một ngụm nước trong lòng trũng của nó, với dòng suối nguồn nguyên sinh tuôn trào nuôi dưỡng qua các mùa.”
Tôi cúi gằm đầu; tôi ngồi trầm ngâm thêm cả tiếng đồng hồ nữa. Lý Trí vẫn tiếp tục thì thầm, đặt lên vai tôi một bàn tay khô héo và lạnh ngắt chạm vào tai tôi bằng đôi môi tái xanh giá lạnh của tuổi già.
– “Nếu,” bà ta lầm bầm, “nếu cậu ta thực sự viết thư, thì sao nào? Bộ cô toan tính tìm kiếm niềm vui trong việc đáp thư chắc? Ồ, đồ ngốc! Ta cảnh cáo cô đấy! Hãy viết cho thật vắn tắt. Đừng mong chờ bất kỳ niềm vui sướng nào cho tâm hồn – đừng nuông chiều trí tuệ: đừng buông thả cho bất kỳ cảm xúc nào được bùng lên – đừng cho phép bất kỳ năng lực nào được nghỉ ngơi tận hưởng: đừng tơ tưởng đến việc giao lưu thân thiết: đừng nuôi dưỡng sự gắn kết ngọt ngào nào cả….”
– “Nhưng tôi đã trò chuyện với Graham mà ngài đâu có mắng mỏ gì đâu,” tôi biện bạch.
– “Không,” bà ta đáp, “ta cần gì phải mắng. Trò chuyện là một phương pháp rèn luyện tốt cho cô. Cô đối thoại hãy còn kém cỏi. Trong lúc cô cất lời, sẽ chẳng bao giờ có chuyện quên đi sự kém cõi của bản thân – chẳng có sự khích lệ nào cho những hoang tưởng ảo tưởng: sự đau đớn, nỗi thiếu thốn, cảnh bần hàn hằn in rõ trong ngôn từ của cô….”
– “Nhưng,” tôi lại ngắt lời, “nơi mà thể xác yếu đuối và lời nói kém cõi, thì hà cớ gì lại không thể biến ngôn ngữ viết thành phương tiện để diễn đạt tốt hơn những gì đôi môi lắp bắp có thể thốt ra?”
Lý Trí chỉ lạnh lùng đáp: – “Hãy tự gánh lấy hậu quả nếu cô còn ấp ủ cái ý nghĩ đó, hoặc để cho ảnh hưởng của nó thao túng bất kỳ trang viết nào của cô!”
– “Nhưng nếu tôi có cảm xúc, lẽ nào tôi mãi mãi không được phép giãi bày?”
– “Không bao giờ!” Lý Trí tuyên bố.
Tôi rên rỉ dưới sự cay nghiệt phũ phàng của bà ta. Không bao giờ – không bao giờ – ôi chao cái từ ngữ khắc nghiệt làm sao! Con mụ phù thủy này, Lý Trí này, nhất quyết không để tôi ngẩng đầu lên, hay mỉm cười, hay hy vọng: bà ta sẽ chẳng thể yên giấc nếu tôi chưa bị nghiền nát hoàn toàn, bị khuất phục, bị thuần hóa và gục ngã đến cùng đường. Theo quan điểm của bà ta, tôi sinh ra chỉ để làm lụng đổi lấy miếng ăn, để chờ đợi những đớn đau của cái chết, và mãi mãi chìm đắm trong sự chán nản suốt cả cuộc đời. Lý Trí có thể đúng; thế nhưng cũng chẳng có gì là lạ khi đôi lúc chúng ta cảm thấy thật vui sướng vì được thách thức bà ta, được vùng thoát khỏi gậy gộc của bà ta và dành ra một giờ trốn học cho Trưởng Tưởng – kẻ thù dịu dàng và rực rỡ của chúng ta, Người Cứu Giúp ngọt ngào của chúng ta, Niềm Hi vọng thiêng liêng của chúng ta. Chúng ta sẽ và buộc phải phá bỏ những rào chắn ấy từng hồi, dẫu cho có phải đối mặt với sự trả thù khủng khiếp đang chực chờ khi ta quay về. Lý Trí thù hằn cay độc chẳng khác nào ác quỷ: đối với tôi, bà ta luôn cay độc như một người mẹ kế. Nếu tôi có vâng lời bà ta thì phần lớn cũng chỉ vì sự sợ hãi, chứ nào phải vì tình yêu. Lẽ ra tôi đã chết từ lâu rồi bởi sự đối xử cay nghiệt của bà ta – sự bn xẻn, cái lạnh giá, chiếc bàn ăn trống hoác, chiếc giường băng giá, những đòn roi tàn nhẫn và không dứt của bà ta; nếu không nhờ có Đấng Quyền Năng nhân từ hơn kẻ đang nắm giữ lòng trung thành bí mật và thề nguyện của tôi. Đã bao nhiêu lần Lý Trí đuổi tôi ra ngoài trời đêm giữa lúc giữa đông trên lớp tuyết lạnh giá, chỉ bố thí cho chút thức ăn là chiếc xương gặm dở mà loài chó đã bỏ đi: bà ta đã lạnh lùng thề thốt rằng kho dự trữ của bà ta chẳng còn gì cho tôi nữa – tàn nhẫn cự tuyệt quyền được mưu cầu những điều tốt đẹp hơn của tôi…. Rồi khi ngẩng đầu lên, tôi đã nhìn thấy trên bầu trời một vầng hào quang giữa muôn vì sao vây quanh, mà ngôi sao ở chính giữa và rực rỡ nhất đã rọi xuống một tia sáng đầy đồng cảm và chăm chú. Một linh hồn dịu dàng và tốt đẹp hơn cả Lý Trí của loài người, đã hạ xuống bằng chuyến bay tĩnh lặng giữa chốn hoang vu – mang theo xung quanh mình một bầu không khí mượn từ mùa hạ vĩnh hằng; mang theo hương thơm của những loài hoa chẳng bao giờ tàn phai – hương vị của những cõi cây mang quả ngọt sự sống; mang theo những làn gió tinh khôi từ một thế giới mà ban ngày chẳng cần đến ánh mặt trời chiếu rọi. Nỗi đóm khát của tôi đã được thiên thần nhân hậu này xoa dịu bằng thứ thức ăn ngọt ngào và kỳ lạ, được thu lượm giữa những thiên thần đang mót lúa, gom nhặt mùa gặt trắng như sương trong giờ phút tinh khôi đầu tiên của một ngày chốn thiên đàng; Người đã âu yếm xoa dịu những nỗi sợ hãi khôn cùng vốn làm tơi tả cả sự sống – ân cần mang lại sự nghỉ ngơi cho nỗi mệt mỏi chết chóc – hào phóng ban tặng niềm hy vọng và xung lực cho sự tuyệt vọng đã tê liệt. Hỡi thế lực thiêng liêng, trắc ẩn và cứu rỗi! Khi tôi quỳ gối trước bất kỳ ai ngoài Thượng Đế, thì đó sẽ là dưới đôi chân có cánh và trắng ngời của người, đẹp đẽ trên chốn non cao hay miền bình nguyên rộng lớn. Người ta đã dựng lên những ngôi đền thờ Mặt Trời – những bệ thờ dâng kính Mặt Trăng. Ôi vinh quang lớn lao thay! Chẳng có đôi bàn tay nào xây nên cho Người, chẳng có đôi môi nào thánh hóa Người: mà chính là lòng thành kính của các thế hệ qua bao thời đại vẫn luôn tôn thờ Người. Người cũng có một chốn ngự trị, rộng quá mức cho những bức tường, cao quá đỗi cho những mái vòm – một ngôi đền mà nền móng chính là không gian – với những nghi thức huyền bí diễn ra trước sự chứng kiến, nhằm thắp lên sự hòa hợp của muôn loài thế giới!
Hỡi vị Nữ vương toàn quyền! Người từng có cả một đại quân tử vì đạo để minh chứng cho sự nhẫn nại; một đạo quân tinh hoa được chọn lựa để lập nên những chiến công. Hỡi vị Thần linh không thể chối cãi, bản chất của người thách thức cả sự suy tàn!
Đứa con gái của Thiên Đàng ấy đã nhớ đến tôi đêm nay; nàng nhìn thấy tôi khóc, và nàng đã đến mang theo niềm an ủi: “Hãy ngủ đi,” nàng bảo. “Hãy ngủ cho thật ngon – Ta sẽ dát vàng những giấc mơ của em!”
Nàng đã giữ đúng lời hứa, và canh chừng cho tôi qua suốt một giấc ngủ đêm; thế nhưng đến rạng sáng, Lý Trí lại ra thay phiên gác. Tôi bừng tỉnh với một cảm giác giật mình tựa hồ như có ai đánh thức; ngoài kia mưa đang quất rả rích vào ô cửa kính, và gió thỉnh thoảng lại cất lên tiếng kêu hờn dỗi; chiếc đèn ngủ đang lụi dần trên chiếc bàn tròn màu đen ở giữa phòng ngủ tập thể: trời đã rạng sáng từ bao giờ. Tôi mới thương xót làm sao cho những ai bị nỗi đau tinh thần đánh cho tê dại thay vì được đánh thức! Sáng nay, cơn đau của lúc tỉnh giấc đã giật thốc tôi ra khỏi giường tựa như bàn tay của một tên khổng lồ túm lấy. Tôi thay quần áo nhanh làm sao trong cái lạnh buốt giá của buổi bình minh tái tê! Tôi đã uống ngấu nghiến biết bao nhiêu ngụm nước lạnh buốt như băng trong chiếc bình của mình! Đây vẫn luôn là liều thuốc tinh thần của tôi, thứ mà cũng giống như những kẻ nghiện ngập rượu chè khác, tôi luôn háo hức tìm đến mỗi khi tâm trí rối bời vì những nỗi muộn phiền bực bội.
Chẳng mấy chốc, tiếng chuông reo vang đánh thức toàn trường. Đã thay chỉnh tề trang phục, tôi một mình bước xuống phòng ăn chung, nơi lò sưởi đã được đốt lên và bầu không khí vô cùng ấm áp; trong khi khắp các khu vực còn lại của ngôi nhà đều lạnh giá, với cái rét căm căm sắc lạnh của một mùa đông lục địa: dẫu bây giờ mới chỉ là đầu tháng Mười Một, cơn gió bắc từ sớm thế này đã mang theo cái lạnh tê tái của mùa đông trùm lên khắp châu Âu; tôi nhớ ngày mới đến, tôi từng chẳng mấy ưa gì những chiếc lò sưởi màu đen ấy; thế nhưng giờ đây tôi bắt đầu gắn kết chúng với cảm giác ấm cúng, và đem lòng yêu thích chúng, hệt như cách ở nước Anh chúng ta yêu thích một lò sưởi ấm cúng vậy.
Ngồi xuống trước chiếc lò sưởi đen sẫm mang lại sự an ủi này, tôi ngay lập tức chìm vào một cuộc tranh biện sâu sắc với chính mình về cuộc đời và những cơ may của nó, về định mệnh và những sắc lệnh của nàng. Tâm trí tôi, lúc này đã bình tĩnh và mạnh mẽ hơn đêm qua, tự vạch ra cho mình một số quy tắc độc đoán, cấm tiệt dưới những hình phạt chết chóc mọi sự hoài niệm yếu đuối về hạnh phúc trong quá khứ; ra lệnh phải kiên nhẫn bước đi qua chốn hoang mạc của hiện tại, injunction một sự bấu víu vào niềm tin – một sự dõi theo áng mây và trụ cột vừa khuất phục vừa dẫn dắt, vừa gây kinh ngạc vừa soi sáng – trấn an xung lực muốn sùng bái cuồng nhiệt, kìm hãm cái nhìn khao khát hướng về miền đất hứa xa xôi nơi có những dòng sông mà có lẽ, chẳng bao giờ có thể đặt chân đến ngoại trừ trong những giấc mơ lúc lâm, nơi những đồng cỏ ngọt ngào chỉ có thể ngắm nhìn từ đỉnh núi Nebo hoang vu và ngập tràn mồ mã.
Dần dần, một cảm xúc hỗn hợp vừa kiên cường vừa đau đớn cuộn chặt lấy trái tim tôi, chống đỡ, hay ít ra cũng kìm hãm những nhịp đập của nó, và giúp tôi sẵn sàng cho công việc của ngày mới. Tôi ngẩng đầu lên.
Như tôi đã nói lúc nãy, tôi đang ngồi gần chiếc lò sưởi, được thiết kế âm vào bức tường nằm bên dưới phòng ăn và sảnh chính, nhờ đó mà đủ sức sưởi ấm cho cả hai căn phòng. Xuyên qua chính bức tường đó, và nằm sát bên chiếc lò sưởi, là một ô cửa sổ cũng nhìn thẳng vào sảnh chính; khi tôi ngẩng lên, tua rua của một chiếc mũ chóp, một vầng trán, đôi con mắt đã lấp đầy một ô kính của cửa sổ ấy; ánh nhìn chằm chằm của đôi mắt ấy va chạm trực diện với ánh mắt của tôi: họ đang dõi theo tôi. Mãi đến khoảnh khắc đó tôi mới biết rằng trên má mình vẫn còn vương những giọt nước mắt, nhưng giờ thì tôi đã cảm nhận rõ ràng chúng.
Đây quả là một ngôi nhà kỳ lạ, nơi chẳng có góc nào là thiêng liêng tránh khỏi sự xâm nhập, nơi không một giọt nước mắt nào được rơi, không một suy nghĩ nào được ngẫm ngợi, mà lại không có kẻ dò xét đứng ngay bên để ghi nhận và phỏng đoán. Và kẻ dò xét mới mẻ này, kẻ ở bên ngoài này, kẻ thuộc phái nam này, thứ công việc quái quỉ nào đã đưa hắn đến chốn này vào cái giờ giấc bất thường này chứ? Hắn có quyền quái gì mà lại đường hoàng xâm phạm vào tôi thế này? Chẳng có vị giáo sư nào khác dám bén mảng bước qua sảnh chính trước khi tiếng chuông vào lớp reo lên. M. Emanuel chẳng màng gì đến giờ giấc hay lề lối: có một cuốn sách tham khảo nào đó trong thư viện lớp nhất mà hắn có dịp cần tra cứu; hắn đã đến để tìm nó: và trên đường đi, hắn ngang qua phòng ăn. Hắn vốn có thói quen mọc mắt ở phía trước, phía sau và ở cả hai bên sườn: hắn đã nhìn thấy tôi qua ô cửa sổ nhỏ – hắn bấy giờ đẩy cửa phòng ăn bước vào, và thế là hắn đứng đó.
– Mademoiselle, vous êtes triste.
– Monsieur, j’en ai bien le droit.
– Vous êtes malade de cœur et d’humeur, – hắn tiếp lời. – Cô vừa ủ rũ lại vừa nổi loạn. Ta nhìn thấy trên má cô hai giọt nước mắt mà ta biết chắc là nóng hổi như hai đốm lửa, và mặn chát như hai hạt muối biển. Trong lúc ta nói, cô cứ nhìn ta với ánh mắt thật kỳ lạ. Cô có muốn ta nói cho nghe ta đang liên tưởng đến điều gì khi ngắm nhìn cô lúc này không?
– Thưa Monsieur, chốc nữa tôi sẽ phải đi cầu nguyện; thời gian dành cho việc trò chuyện vào giờ này của tôi vô cùng ít ỏi và ngắn ngủi – xin ngài lượng thứ——
– Ta lượng thứ cho tất cả mọi thứ, – hắn ngắt lời; – tâm trạng của ta lúc này rất mực ôn hòa, chẳng có lời cự tuyệt hay thậm chí là sự lăng mạ nào có thể làm tổn hại đến nó được đâu. Vậy là, cô làm ta liên tưởng đến một con thú hoang cái còn non, mới bị bắt về, chưa được thuần hóa, đang ngắm nhìn với vẻ pha trộn giữa sự hung hăng và nỗi sợ hãi trước lần đầu tiên một kẻ thuần hóa bước vào.
Một lời bắt chuyện thật vô lối! – thật hấp tấp và thô lỗ nếu đem ra nói với một học sinh; còn đối với một giáo viên thì hoàn toàn không thể chấp nhận được. Hắn tưởng làm thế sẽ khiêu khích tôi nổi giận đáp trả; trước đây tôi từng chứng kiến hắn chọc tức những kẻ nóng tính cho đến khi bùng nổ rồi. Nhưng với tôi thì sự cay độc của hắn sẽ chẳng đạt được mục đích gì sất; tôi vẫn ngồi im lặng.
– Trông cô, – hắn nói, – chẳng khác nào kẻ chực chờ nuốt chửng một ngụm độc dược ngọt ngào, và đầy vẻ ghê tởm hất hủi thứ thuốc đắng lành mạnh.
– Thật ra, tôi chưa bao giờ thích thuốc đắng; và tôi cũng chẳng tin là chúng lành mạnh gì cho cam. Và đối với bất cứ thứ gì ngọt ngào, dẫu là độc dược hay thức ăn đi nữa, ngài ít ra cũng không thể chối cãi được phẩm chất tuyệt vời vốn có của nó – đó là sự ngọt ngào. Có lẽ thà chết nhanh chóng bằng một cái chết dễ chịu còn hơn là lê lết kéo dài một cuộc đời tẻ nhạt vô vị.
– Thế nhưng, – hắn bảo, – cô vẫn nên uống liều thuốc đắng của mình cho thật đều đặn mỗi ngày, nếu ta có quyền cho cô uống nó; còn về phần thứ độc dược được yêu thích kia, có lẽ ta sẽ đập nát luôn cái chén đựng nó mất thôi.
Tôi lạnh lùng quay phắt đầu đi, một phần vì sự hiện diện của hắn làm tôi vô cùng chướng mắt, và một phần vì tôi muốn tránh né những câu hỏi: sợ rằng trong tâm trạng hiện tại của mình, sự cố gắng để đáp lời sẽ vượt ngoài tầm kiểm soát của bản thân.
– Nào, – hắn dị giọng hơn, – hãy nói cho ta biết sự thật đi – cô đang đau buồn vì phải chia tay những người bạn của mình – có phải thế không?
Sự dịu dàng đầy ve vãn ấy cũng chẳng dễ chịu gì hơn sự tò mò mang tính xét hỏi. Tôi vẫn im lặng. Hắn bước vào phòng, ngồi xuống chiếc ghế dài cách tôi chừng hai mét, và kiên trì một cách lâu bền – xét theo phong cách của hắn – trong các nỗ lực lôi kéo tôi vào cuộc trò chuyện – những nỗ lực chắc chắn là vô ích, bởi vì tôi chẳng thể nào mở miệng nổi. Cuối cùng, tôi nài nỉ xin hắn hãy để mặc tôi yên. Khi thốt lên lời cầu xin đó, giọng tôi nghẹn ngào, đầu tôi gục xuống đôi tay đang đặt trên mặt bàn. Tôi khóc nức nở, dù rất khẽ khàng. Hắn ngồi đó thêm một lúc nữa. Tôi không hề ngẩng đầu lên cũng chẳng cất lời, cho đến khi tiếng cửa khép lại cùng những bước chân khuất dần báo hiệu rằng hắn đã đi rồi. Những giọt nước mắt ấy hóa ra lại là một sự giải thoát.
Tôi có đủ thời gian để rửa mắt trước bữa điểm tâm, và tôi đoán là mình xuất hiện tại bữa ăn đó với vẻ điềm tĩnh chẳng kém gì bất kỳ ai khác: tuy nhiên, trông tôi không được vui tươi phơi phới cho lắm so với cô tiểu thư đã đặt mình ngồi vào chiếc ghế đối diện tôi, đang ném về phía tôi một cặp mắt có phần nhỏ bé đang lấp lánh vẻ tinh nghịch, và thẳng thừng chìa qua bàn một bàn tay trắng trẻo để đòi bắt tay. Những chuyến du lịch, những cuộc vui chơi và những màn tán tỉnh hình như hợp với Miss Fanshawe vô cùng; cô ta đã trở nên khá mập mạp, đôi má tròn vo như những quả táo. Lần trước tôi gặp cô ta là trong bộ trang phục dạ hội sang trọng. Tôi không biết là trông cô ta có kém phần duyên dáng hơn lúc này hay không trong bộ đồng phục trường, một dạng váy rộng mặc ở nhà kiểu cách lôi thôi bằng chất liệu màu xanh sẫm, in họa tiết ca-rô mờ ảo và xỉn màu với sắc đen. Tôi thậm chí còn cho rằng chiếc áo khoác ngoài tối màu này lại càng làm nổi bật những nét quyến rũ của cô ta; tôn lên nhờ sự tương phản làn da trắng ngần, vẻ tươi thắm rạng rỡ, cùng mái tóc vàng óng ả của cô ta.
– Ta rất vui vì cậu đã quay lại, Timon ạ, – cô ta nói. Timon là một trong số tá cái tên mà cô ta dùng để gọi tôi. – Cậu không biết là tớ đã nhớ cậu biết bao nhiêu trong cái ổ ảm đạm này đâu.
– Ồ, vậy sao? Thế thì, dĩ nhiên là nếu cậu cần tới tớ, cậu hẳn có việc gì đó muốn giao cho tớ làm rồi: vá vớ chẳng hạn. – Tôi chưa bao giờ đoái hoài hay ban ơn cho sự vụ lợi của Ginevra dẫu chỉ một phút hay một xu.
– Vẫn cáu kỉnh và bướng bỉnh như ngày nào! – cô ta bảo. – Tớ cũng đoán trước được phần nào: nếu cậu không chì chiết người ta thì đâu còn là cậu nữa. Nào, thôi đi bà già, tớ hy vọng là cậu vẫn thích cà phê như trước và cực kỳ ghét bánh pistolets cho xem: cậu có muốn đổi chác gì không?
– Tùy cậu muốn làm gì thì làm.
Cách làm này vốn là một thói quen của cô ta nhằm trục lợi cho bản thân. Cô ta không thích cốc cà phê buổi sáng; thứ đồ uống được pha theo kiểu nhà trường ấy không đủ đậm hoặc không đủ ngọt để hợp với khẩu vị của cô ta; và cô ta lại có một chiếc dạ dày tốt, thèm ăn hệt như bất kỳ nữ sinh khỏe mạnh nào khác, đối với món bánh mì cuộn pistolets buổi sáng vốn mới ra lò rất ngon, và mỗi người sẽ được phát một phần định lượng nhất định. Phần định lượng này nhiều hơn mức tôi cần, thế nên tôi thường nhường một nửa cho Ginevra; sự ưu ái đó của tôi chưa bao giờ thay đổi, mặc dù rất nhiều người khác thường thèm thuồng phần thừa thãi ấy; và đổi lại, đôi khi cô ta sẽ chia cho tôi một phần cà phê của mình. Sáng nay tôi cảm thấy rất mừng vì ngụm nước ấy; còn đóm khát thì tôi chẳng có chút nào, nhưng cổ họng thì khô cháy vì khát nước. Tôi chẳng hiểu sao mình lại chọn nhường bánh mì cho Ginevra thay vì người khác; cũng chẳng hiểu sao, nếu có hai người phải dùng chung một chiếc cốc, như đôi khi vẫn xảy ra – chẳng hạn như khi chúng tôi đi dạo đường dài ra vùng ngoại ô và dừng chân nghỉ ngơi giải khát tại một trang trại – tôi lúc nào cũng thu xếp để cô ta là bạn đồng hành uống chung với mình, và thậm chí còn thích để cô ta chiếm phần hơn, dù là bia trắng, rượu ngọt, hay sữa tươi nguyên chất: sự việc cứ diễn ra như thế đấy, và cô ta thừa biết điều đó; thế nên mặc dù chúng tôi cãi cọ nhau hằng ngày, nhưng chưa bao giờ tỏ ra xa cách.
Sau bữa điểm tâm, thói quen của tôi là lui về lớp học thứ nhất, ngồi đọc sách hoặc suy ngẫm (thường là vế sau hơn) ở đó một mình, cho đến khi tiếng chuông điểm chín giờ mở toang tất cả các cánh cửa, đón nhận dòng học sinh ngoại trú và bán trú ùa vào, đồng thời phát tín hiệu bắt đầu sự huyên náo và bận rộn mà cho đến tận năm giờ chiều mới được ngơi nghỉ.
Tôi vừa ngồi xuống vào sáng nay thì có tiếng gõ cửa.
– Xin lỗi Mademoiselle, – một nữ sinh nội trú khẽ khàng bước vào nói; và sau khi lấy từ trong ngăn bàn của mình cuốn sách hay tài liệu cần thiết nào đó, con bé rón rén bước ra, vừa đi vừa lẩm bẩm khi ngang qua chỗ tôi: – “Que mademoiselle est appliquée!”
Chăm chú thật đấy! Mọi phương tiện để chăm chú đều được bày la liệt trước mặt tôi, nhưng tôi chẳng làm gì cả; và đã chẳng làm gì, cũng chẳng có ý định làm gì cả. Thế đấy, thiên hạ cứ hay gán cho chúng ta những đức tính mà ta chẳng hề có. Ngay cả Madame Beck cũng coi tôi là một mụ mọt sách chính hiệu, và thường xuyên nghiêm nghị cảnh cáo tôi không nên học hành quá độ, kẻo “máu dồn cả lên não.” Thật vậy, mọi người ở phố Fossette đều mang một thứ mê tín rằng “Meess Lucie” rất uyên bác; ngoại trừ một ngoại lệ đáng chú ý là M. Emanuel, kẻ bằng những phương thức kỳ lạ của riêng hắn, vốn hoàn toàn vượt ngoài tầm hiểu biết của tôi, đã nắm bắt được một chút ít không mấy sai lệch về năng lực thực sự của tôi, và thường chớp lấy những cơ hội yên tĩnh để thì thầm vào tai tôi sự đắc ý đầy cay độc của hắn về mức độ khiêm tốn của những năng lực ấy. Về phần mình, tôi chẳng bao giờ bận tâm đến sự nghèo nàn này. Tôi vô cùng thích thú việc tự suy ngẫm những ý nghĩ của riêng mình; tôi tìm thấy niềm vui lớn lao trong việc đọc một vài cuốn sách, chứ không phải nhiều: tôi luôn ưu tiên những tác phẩm mà qua phong cách hay cảm xúc của nó, bản chất cá nhân của tác giả được in dấu một cách rõ rệt; tôi thường không tài nào đọc nổi những cuốn sách vô hồn, dẫu chúng có thông minh và xuất sắc đến đâu đi nữa: tôi nhận thức rõ rằng, xét cho cùng về tâm trí của riêng mình, Thượng Đế đã giới hạn năng lực và hành động của nó – tôi tin là mình vô cùng biết ơn vì món quà được ban tặng, chứ không hề có tham vọng vươn tới những ân huệ cao xa hơn, cũng chẳng hề tha thiết bồn chồn theo đuổi sự tu dưỡng cao hơn thế.
Cô học trò lịch sự vừa khuất dạng, thì không một tiếng gõ cửa, chẳng thèm giữ lễ tiết, kẻ đột nhập thứ hai xông xồng xọc vào. Dù tôi có bị mù thì tôi cũng thừa biết đây là ai rồi. Sự kín đáo vốn có trong cung cách ứng xử bấy giờ đã mang lại hiệu quả lành mạnh và thuận lợi cho tôi đối với cách cư xử của các bạn học chung: hiếm khi nào tôi còn phải chịu đựng sự đối xử thô lỗ hay quấy rầy nữa. Hàng ngày khi tôi mới đến, thỉnh thoảng lại có một cô nàng người Đức bộc trực vỗ vai tôi và rủ tôi thi chạy; hoặc một mụ Labassecourienne hung hăng túm lấy cánh tay tôi lôi xềnh xệch ra sân chơi: những lời đề nghị khẩn thiết đòi chơi xích đu tại “Pas de Géant,” hay tham gia vào một trò chơi trốn tìm ầm ĩ nào đó mang tên “Un, deux, trois,” trước đây cũng diễn ra hàng giờ; thế nhưng tất cả những sự quan tâm nhỏ nhặt ấy đã chấm dứt từ lâu rồi – chấm dứt mà tôi thậm chí chẳng cần phải bận tâm ra tay cắt đứt thẳng thừng. Giờ đây tôi chẳng còn phải nơm nớp lo sợ hay chịu đựng bất kỳ hành động suồng sã nào nữa, ngoại trừ từ một phía; và vì đó là người Anh nên tôi có thể chịu đựng được. Ginevra Fanshawe chẳng mảy hê kiêng dè gì – có những lúc – chộp lấy tôi ngay khi tôi đang băng qua sảnh chính, quay vòng tôi trong một điệu waltz cưỡng ép và tận hưởng một cách hả hê sự rối loạn về tinh thần lẫn thể xác mà hành động của cô ta gây ra. Chính là Ginevra Fanshawe vừa xông vào phá hỏng “thời gian rảnh rỗi uyên bác của tôi.” Cô ta kẹp một cuốn sách nhạc khổng lồ dưới nách.
– Đi tập đàn đi, – tôi bảo ngay cô ta: – xéo ngay ra phòng khách nhỏ đi chứ!
– Không đời nào cho đến khi tớ kịp trò chuyện với cậu một chút, chère amie ạ. Tớ biết cậu đã dành kỳ nghỉ ở đâu rồi đấy, và cách cậu bắt đầu lấy lòng các nữ thần duyên dáng, tận hưởng cuộc sống hệt như bất kỳ tiểu thư kiêu kỳ nào khác. Tớ đã nhìn thấy cậu ở buổi hòa nhạc tối hôm nọ, diện đồ, quả thật, trông giống hệt như người bình thường. Thợ may của cậu là ai thế?
– Buôn chuyện nhảm nhí: mới mở đầu nghe hay ho làm sao chứ! Thợ may của tớ á! – vớ vẩn thật! Nào, xéo đi cho khuất mắt tớ đi, Ginevra. Tớ thực sự không cần sự hiện diện của cậu đâu.
– Nhưng khi tớ lại rất cần sự hiện diện của cậu, ange farouche ạ, thì chút miễn cưỡng từ phía cậu có nghĩa lý gì chứ? Dieu merci! tụi mình thừa biết cách điều khiển cô bạn đồng hương tài năng của chúng ta rồi – mụ “gấu cái xứ Anh” uyên bác kia mà. Thế nào, gấu ơi, cậu có quen Isidore không?
– Tớ quen John Bretton.
– Ồ, im đi! (vừa nói cô ta vừa nhét ngón tay vào tai) – cậu làm tớ thủng màng nhĩ với những cách nói lóng tiếng Anh thô lỗ của cậu mất thôi. Mà này, anh John kính yêu của chúng ta dạo này thế nào rồi? Kể cho tớ nghe về anh ấy đi chứ. Tội nghiệp anh ấy chắc đang trong tâm trạng tồi tệ lắm đây. Anh ấy đã nói gì về cách cư xử của tớ tối hôm nọ thế? Trông tớ có độc ác lắm không?
– Cậu nghĩ là tớ thèm để ý đến cậu chắc?
– Đó là một buổi tối tuyệt vời. Ôi, ngài de Hamal thần thánh ấy! Và rồi nhìn kẻ khác hờn dỗi và sắp chết đến nơi ở đằng xa; cùng với bà cụ thân sinh – mẹ chồng tương lai của tớ chứ! Nhưng tớ e rằng tớ và Lady Sara hơi bất lịch sự khi trêu chọc cụ một chút.
– Lady Sara chưa bao giờ trêu chọc cụ ấy cả; còn về những gì cậu đã làm, thì đừng có mà lo lắng dù chỉ một chút: bà Bretton sẽ sống thọ bất chấp lời châm chọc của cậu.
– Có thể chứ: mấy bà già dai như đỉa mà; nhưng mà tội nghiệp anh con trai của cụ chứ! Kể cho tớ nghe anh ấy đã nói gì đi: tớ thấy anh ấy bị đả kích dữ dội lắm.
– Anh ấy bảo trông cậu cứ như thể về mặt tâm hồn thì cậu đã là Madame de Hamal từ đời nào rồi ấy.
– Thật á? – cô ta thích thú kêu lên. – Anh ấy để ý thấy điều đó cơ á? Thật mê ly làm sao! Tớ cứ tưởng anh ấy sẽ phát điên lên vì ghen tuông chứ.
– Ginevra, cậu đã thực sự dứt khoát với Tiến sĩ Bretton chưa? Cậu muốn anh ấy từ bỏ cậu chắc?
– Ồ! Cậu biết thừa là anh ấy không thể làm thế được mà: nhưng mà anh ấy có phát điên lên không?
– Điên hoàn toàn chứ, – tôi hùa theo; – điên khùng như một con thỏ tháng Ba ấy.
– Thế á, vậy mấy cậu đã đưa anh ấy về nhà bằng cách nào vậy?
– Bằng cách nào cơ chứ! Cậu chẳng có chút lòng trắc ẩn nào dành cho người mẹ tội nghiệp của anh ấy và tớ à? Thử tưởng tượng cảnh tụi tớ phải đè nghiến anh ấy xuống xe ngựa, trong khi anh ấy cứ la hét gào thét giữa hai tụi tớ, làm cho ai nấy phát cuồng lên được. Ngay cả người đánh xe cũng đi lạc đường, thế là tụi tớ bị lạc mất tiêu.
– Cậu không đùa đấy chứ? Cậu đang giễu cợt tớ phải không. Này, Lucy Snowe—
– Tớ cam đoan đó là sự thật – và sự thật là Tiến sĩ Bretton nhất định không chịu ngồi trong xe: anh ấy vùng vẫy thoát khỏi bọn tớ, và kiên quyết đòi ngồi ở phu xe phía ngoài.
– Rồi sau đó thì sao?
– Sau đó – khi anh ấy về đến nhà thực sự – thì cảnh tượng ấy vượt ngoài sức miêu tả.
– Ồ, vậy miêu tả lại đi chứ – cậu biết là chuyện đó thú vị lắm mà!
– Thú vị với cậu thôi, Miss Fanshawe ạ? nhưng mà (với vẻ nghiêm trọng lạnh lùng) – cậu biết câu tục ngữ rồi đấy – “Vui thôi đừng vui quá, cẩn thận kẻo họa vào thân.”
– Kể tiếp đi chứ, đồ Timon cưng của tớ.
– Xét theo lương tâm, tớ không thể kể tiếp, trừ phi cậu đảm bảo rằng cậu thực sự có một trái tim.
– Tớ có chứ – một trái tim bao la đến mức cậu chẳng thể ngờ được ấy chứ!
– Tốt! Nếu vậy, cậu chắc sẽ có thể tưởng tượng ra cảnh Tiến sĩ Graham Bretton từ chối bữa tối đầu tiên của mình – món thịt gà, món óc bê được chuẩn bị sẵn để bồi bổ cho anh ấy, cứ thế nằm nguyên trên bàn chẳng thèm đụng đũa tới. Rồi thì——nhưng mà kể lể dài dòng những chi tiết đau lòng ấy cũng chẳng ích gì. Chỉ cần nói thế này cho vuông, rằng chưa bao giờ, ngay cả trong những cơn quấy phá dữ dội nhất thời thơ ấu, mà mẹ anh ấy lại phải vất vả nhét chăn xung quanh người anh ấy như đêm hôm đó.
– Anh ấy không chịu nằm yên á?
– Anh ấy không chịu nằm yên: vấn đề là ở chỗ đó đấy. Chăn có nhét vào đâu vào đấy đi chăng nữa, thì cái khó là phải làm sao giữ cho chúng cứ nằm yên trong đó cơ.
– Thế anh ấy đã nói gì?
– Nói á! Cậu không thể tưởng tượng nổi cảnh anh ấy đòi cho bằng được nàng Ginevra thần thánh của mình, nguyền rủa tên ác quỷ de Hamal đó sao – cứ lẩm bẩm gào thét về những lọn tóc vàng, đôi mắt xanh, đôi tay trắng ngần, những chiếc vòng tay lấp lánh à?
– Không, anh ấy nói thế thật á? Anh ấy nhìn thấy chiếc vòng tay á?
– Nhìn thấy chiếc vòng tay á? Ừ, rõ mồn một như cách tớ nhìn thấy nó vậy: và có lẽ, lần đầu tiên anh ấy cũng nhìn thấy cả vết hằn do chiếc vòng siết chặt quanh cổ tay cậu nữa đấy. Ginevra này (vừa đứng dậy vừa thay đổi giọng điệu), – thôi nào, chúng ta chấm dứt trò này ở đây đi. Cậu mau ra phòng tập đàn đi.
Và tôi mở toang cánh cửa ra.
– Nhưng cậu vẫn chưa kể hết cho tớ nghe mà.
– Tốt nhất là cậu đừng nên đợi đến khi tớ kể hết. Sự ba hoa thừa thãi đó sẽ chẳng mang lại cho cậu niềm vui nào đâu. Giải tán mau!
– Đồ dở hơi khó ưa! – cô ta lầm bầm; nhưng vẫn ngoan ngoãn nghe lời: và quả thực, lớp học thứ nhất là lãnh địa của tôi, và ở đó cô ta không cách nào có thể đường đường chính chính chống lại lệnh đuổi khéo của tôi được.
Thế mà, nói thật lòng thì, chưa bao giờ tôi lại cảm thấy ít bất mãn với cô ta như lúc bấy giờ. Thật là thú vị khi nghĩ đến sự tương phản giữa thực tế và đoạn mô tả của tôi – để nhớ lại cảnh Tiến sĩ John tận hưởng chuyến đi về nhà, ăn uống ngon lành và lui về nghỉ ngơi với sự điềm tĩnh chuẩn mực của một Kitô hữu. Chỉ khi nào nhìn thấy anh thực sự bất hạnh, tôi mới cảm thấy thực sự bực bội trước nguyên nhân vừa xinh đẹp vừa mỏng manh gây ra nỗi thống khổ của anh.
Hai tuần trôi qua; tôi lại một lần nữa quen dần với ách kìm kẹp của nhà trường, và dần chìm từ nỗi đau đớn dữ dội của sự thay đổi sang trạng thái tê dại của thói quen. Một buổi chiều nọ, khi đang băng qua sảnh chính để đến lớp học thứ nhất, nơi tôi được phân công phụ trợ một bài giảng về “văn phong và văn học,” tôi nhìn thấy Rosine, cô gác cổng, đang đứng tựa vào một trong những ô cửa sổ lớn và dài. Dáng đứng của cô ta như thường lệ vô cùng thản nhiên. Cô ta lúc nào cũng đứng theo kiểu “thư giãn;” một tay đút vào túi tạp dề, tay kia lúc này đang cầm một bức thư đưa lên sát mắt, lững thững ngắm nghía phần địa chỉ và thong thả săm soi con dấu.
Một bức thư! Hình thù của một bức thư y hệt như thế đã ám ảnh sâu thẳm trong tâm trí tôi suốt bảy ngày qua. Đêm qua tôi đã mơ thấy một bức thư. Một thứ lực hút mạnh mẽ kéo tôi hướng về bức thư đó; thế nhưng, liệu tôi có dám ngỏ lời xin Rosine cho liếc qua chiếc phong bì trắng toát ấy, với chấm sáp đỏ lừ ở giữa hay không, thì tôi chịu. Không; tôi nghĩ mình hẳn sẽ lủi thủi bước đi trong nỗi sợ hãi bị từ chối bẽ bàng bởi Thất Vọng: trái tim tôi lúc này đập thình thịch như thể tôi đã nghe thấy tiếng bước chân của ả ta đang đến gần. Sự hoảng hốt nhầm lẫn! Hóa ra đó là những bước chân dồn dập của vị Giáo sư Văn học đang sải bước dọc hành lang. Tôi ba chân bốn cẳng chạy trốn trước mặt hắn. Ước gì tôi có thể kịp ngồi ngoan ngoãn vào bàn làm việc trước khi hắn đến, cùng với lớp học dưới sự quản ức của tôi đang trong tư thế sẵn sàng kỷ luật, thì có lẽ hắn sẽ tha không để ý đến tôi; thế mà nếu bị bắt gặp đang lảng vảng ngoài sảnh chính, thể nào tôi cũng sẽ ăn một bài tràng giang đại hải cho xem. Tôi vừa kịp lúc ngồi xuống, ra lệnh giữ trật tự tuyệt đối, lấy đồ thêu ra và bắt đầu cắm cúi làm giữa không gian tĩnh mịch và được rèn giũa quy củ nhất, thì M. Emanuel xồng xọc đẩy tung cửa bước vào với tiếng chốt cửa và cánh panel kêu răng rắc cùng cái cúi đầu sâu hoắm, thừa thãi, báo hiệu trước cơn thịnh nộ.
Như thường lệ, hắn xông vào lớp chúng tôi tựa như một tiếng sét đánh ngang tai; thế nhưng thay vì lao vút như chớp từ cửa ra tới bục giảng, bước chân của hắn lại khựng lại ngay giữa đường tại bàn làm việc của tôi. Quay mặt về phía tôi và ô cửa sổ, quay lưng lại với đám học trò và cả căn phòng, hắn ném cho tôi một ánh nhìn – ánh nhìn mà lẽ ra đã cho phép tôi đứng thẳng người lên và chất vấn xem hắn có ý gì – một ánh nhìn đầy vẻ cau có nghi kỵ.
– Voilà! pour vous, – hắn nói, rút tay từ trong áo ghile ra và đặt lên bàn tôi một bức thư – chính là bức thư tôi từng nhìn thấy trong tay Rosine – bức thư có mặt trước trắng muốt và con dấu độc nhãn màu đỏ son đã in hằn quá rõ ràng và hoàn hảo lên võng mạc trong tâm trí tôi. Tôi nhận ra nó, tôi cảm nhận được đó chính là bức thư của niềm hy vọng, sự thành hiện thực của điều ước, sự giải thoát khỏi mối hoài nghi, tiền chuộc thân khỏi nỗi sợ hãi. Bức thư này đã bị M. Paul, với thói xía vào chuyện người khác không chút kiêng dè, giật lấy từ tay cô gác cổng, và giờ thì chính tay hắn mang đến trao tận nơi.
Lẽ ra tôi phải nổi giận, nhưng lại chẳng có lấy một giây nào cho cảm xúc đó. Đúng vậy: thứ tôi đang cầm trên tay không phải là một mẩu giấy nhỏ, mà là một chiếc phong bì, chắc chắn bên trong phải chứa ít nhất một tờ giấy: cảm giác cầm không hề mỏng manh mà đầm tay, chắc nịch, thỏa mãn. Và đây là phần địa chỉ, “Miss Lucy Snowe,” được viết bằng một nét chữ sạch sẽ, rõ ràng, đều đặn, quyết đoán; và đây là con dấu, tròn vo, đầy đặn, được nhỏ khéo léo bởi những ngón tay không hề run rẩy, được đóng ấn sắc sảo với các chữ cái viết tắt, “J. G. B.” Tôi trải nghiệm một cảm giác hạnh phúc – một cảm xúc vui sướng lan tỏa ấm áp đến tận tim, và chạy râm ran khắp mọi mạch máu trong người. Lần đầu tiên trong đời, một niềm hy vọng đã trở thành hiện thực. Tôi đang cầm trên tay một mẩu niềm vui thật sự đặc quánh: không phải là một giấc mơ, không phải là một hình ảnh tưởng tượng trong đầu, không phải là một trong những thứ cơ may mờ ảo mà trí tưởng tượng vẽ ra và nhân loại phải chịu đói khát bấu víu vào đó chứ chẳng thể sống nổi; không phải là thứ bánh manna mà lúc nãy tôi từng ngậm ngùi ca tụng – thứ mà quả thật, thoạt đầu tan chảy trên môi với vị ngọt ngào kỳ lạ và phi tự nhiên, nhưng rốt cuộc, linh hồn chúng ta chắc chắn sẽ thấy ghê tởm; khao khát đến phát điên thứ thức ăn tự nhiên sinh trưởng từ mặt đất, điên cuồng cầu xin các Thần linh trên trời hãy thu hồi lại thứ sương và tinh chất thần thánh của họ – một thứ dưỡng chất thiêng liêng nhưng lại gây chết chóc cho người phàm. Thứ tôi vừa vớ được không hề ngọt ngào như mưa đá hay nhỏ bé như hạt rau mùi – chẳng phải tấm bánh thánh mỏng manh, cũng chẳng phải mật ong ngọt lịm; mà đó là món ăn dã vị hoang dã của người thợ săn, thứ thịt bổ dưỡng và lành mạnh, kiếm được từ chốn rừng thiêng hay vùng sa mạc, tươi ngon, lành mạnh và duy trì sự sống. Đó chính là thứ mà vị tù trưởng già sắp qua đời từng đòi hỏi ở người con trai Esau của ông, và hứa hẹn đổi lại bằng lời chúc phúc của hơi thở cuối cùng. Đó là một món quà từ trên trời rơi xuống; và trong thâm tâm, tôi đã cảm tạ Thượng Đế vì Ngài đã rủ lòng ban ơn. Còn bề ngoài, tôi chỉ biết cảm tạ con người, cất lời thốt lên: – “Cảm ơn ngài, cảm ơn ngài, Monsieur!”
Monsieur bĩu môi, ném cho tôi một cái lườm sắc lẹm rồi sải bước lên bục giảng. M. Paul hoàn toàn không phải là một người đàn ông nhỏ mút tốt lành gì cho cam, dẫu rằng hắn vẫn có những điểm tốt.
Liệu tôi có đọc bức thư của mình ngay lúc đó và tại chỗ đó không? Liệu tôi có ngấu nghiến món thịt nai ngay lập tức và vội vã, như thể mũi tên của Esau ngày nào cũng bay đi chăng?
Tôi thừa khôn ngoan để biết không làm thế. Chiếc phong bì với phần địa chỉ – con dấu với ba chữ cái rõ mồn một – đã là quá đủ sự ban ơn và dư dả cho hiện tại rồi. Tôi lẻn ra khỏi phòng, lấy chìa khóa của căn phòng ngủ tập thể lớn vốn luôn bị khóa kín vào ban ngày. Tôi bước đến bàn trang điểm của mình; với một sự vội vã và run rẩy sợ rằng Madame sẽ lẻn lên lầu tóm được mình, tôi mở một ngăn kéo, mở khóa chiếc hộp nhỏ, lấy ra một chiếc tráp, và – sau khi đã thỏa thuê ngắm nghía thêm một lần nữa, cùng với sự pha trộn giữa lòng kính sợ, sự thẹn thùng và niềm vui thích khi đưa con dấu lên môi – tôi bọc cẩn thận món báu vật chưa bóc mở ấy, vẫn còn nguyên vẹn và tinh tuyền, vào trong một tờ giấy bạc, đặt nó vào tráp, đóng sập hộp và ngăn kéo lại, khóa ngoặt phòng ngủ tập thể rồi quay trở lại lớp học, mang theo cảm giác hệt như những câu chuyện cổ tích là có thật, và những món quà của bà tiên chẳng phải là giấc mơ. Thật là một cơn điên rồ kỳ diệu và ngọt ngào làm sao! Và bức thư này, nguồn cội của niềm vui đời tôi, vậy mà tôi vẫn chưa hề đọc: thậm chí còn chưa biết nó dài bao nhiêu dòng.
Khi tôi quay trở lại phòng học, ôi chao M. Paul đang lôi đình lôi đì hệt như một trận dịch hạch! Có học sinh nào đó đã không đọc to hay phát âm rõ ràng cho vừa tai và vừa khẩu vị của hắn, và thế là con bé đó cùng vài đứa khác đang khóc nức nở, còn hắn thì đang gào thét trên bục giảng đến mức mặt tái mét cả đi. Thật kỳ lạ làm sao, vừa thấy tôi xuất hiện, hắn liền trút giận lên đầu tôi.
– Tôi có phải là giáo viên chủ nhiệm của đám con gái này không? Tôi có tuyên bố dạy dỗ chúng những phép tắc xứng tầm tiểu thư hay không – và tôi lại đi cho phép, mà hắn dám chắc là còn khích lệ chúng bóp nghẹt tiếng mẹ đẻ ngay trong cổ họng, nhai đi nghiến lại chúng trong kẽ răng, cứ như thể chúng có nỗi niềm đen tối nào đáng hổ thẹn với những từ ngữ thốt ra vậy ư? Thế này mà gọi là khiêm tốn á? Hắn thừa biết thừa. Đó chỉ là một thứ cảm xúc giả tạo ghê tởm – là mầm mống hoặc là điềm báo trước của tội ác. Thà rằng không thèm đếm xỉa đến cái trò nhún nhảy làm dáng này, cái thói chép miệng nhăn nhó này, cái sự nhai nuốt một ngôn ngữ cao quý này, cái vẻ ra điều ta đây làm cao và sự bướng bỉnh đáng ghét của đám học trò lớp nhất này, hắn còn hơn là vứt xơ vứt xác chúng thành một lũ petites maîtresses vô tích sự, và tự giam mình đi dạy bảng chữ cái ABC cho đám trẻ con ở phân khu ba thì hơn.
Tôi có thể nói gì trước tất cả những điều này chứ? Thực sự là chẳng nói được gì cả; và tôi chỉ mong hắn hãy cho phép tôi được im lặng. Cơn bão lại tái diễn.
– Vậy là mọi câu trả lời cho các câu hỏi của hắn đều bị từ chối ư? Có vẻ như ở cái chốn đó – cái phòng khách kiểu cách ra vẻ ta đây của lớp nhất với những tủ sách phô trương, những chiếc bàn học lót dạ nỉ xanh, đống rác rưởi của mấy giá để chậu hoa, mớ đồ bỏ đi của những bức tranh đóng khung và bản đồ, cùng với mụ giám thị người nước ngoài kia chứ lị! – có vẻ như ở đó người ta coi việc Giáo sư Văn học không xứng đáng nhận được một lời hồi đáp là mốt thời thượng nhỉ! Đây quả là những tư tưởng mới mẻ; hắn dám chắc là được nhập khẩu thẳng thừng từ “la Grande Bretagne:” chúng mang đậm cái vị ngạo mạn và kiêu căng của một hòn đảo.
Đợt l lắng thứ hai – đám nữ sinh, những đứa mà xưa nay chưa từng có đứa nào rơi nổi một giọt nước mắt vì những lời quở trách của bất kỳ vị giáo sư nào khác, giờ đây đều tan chảy hệt như những bức tượng tuyết trước cái nóng dữ dội của M. Emanuel: riêng tôi thì vẫn chưa bị dao động lắm, ngồi xuống và đánh liều cầm lại công việc thêu thùa.
Có lẽ chính sự im lặng kéo dài của tôi hoặc cử động khâu vá của bàn tay tôi – đã đẩy M. Emanuel vượt qua ranh giới cuối cùng của sự kiên nhẫn; hắn thực sự nhảymổm khỏi bục giảng. Chiếc lò sưởi nằm gần bàn làm việc của tôi, hắn trút giận lên nó; cánh cửa sắt nhỏ suýt chút nữa thì bị giật tung khỏi bản lề, đống củi bị hất văng tứ tung.
– Est-ce que vous avez l’intention de m’insulter? – hắn càu nhàu hỏi tôi với một giọng điệu thấp và đầy phẫn nộ, trong lúc hắn đang trút giận dưới vỏ bọc sắp xếp lại đống củi lửa.
Đã đến lúc phải xoa dịu hắn đôi chút nếu có thể.
– Mais, Monsieur, – tôi đáp, – tôi có điên mới dám lăng mạ ngài. Tôi nhớ quá rõ việc ngài từng bảo rằng chúng ta sẽ là bạn bè.
Tôi không hề định làm cho giọng mình nghẹn ngào, thế nhưng nó vẫn cứ nghẹn lại: tôi nghĩ, điều đó xảy ra phần lớn là do sự xúc động của niềm vui vừa qua nhiều hơn là bất kỳ cơn hoảng sợ nào ở hiện tại. Dẫu vậy, quả thực có điều gì đó trong cơn giận dữ của M. Paul – một dạng cảm xúc dạt dào – rất dễ khơi gợi nước mắt. Tôi không hề bất hạnh, cũng chẳng sợ hãi gì cho cam, vậy mà tôi vẫn khóc.
– Allons, allons! – hắn bỗng lẩm bẩm, đảo mắt nhìn xung quanh và chứng kiến cảnh tượng ngập lụt toàn diện. – Quả thực ta đúng là một con quái vật và một tên côn đồ. Ta chỉ có đúng một chiếc khăn tay, – hắn nói thêm, – nhưng nếu ta có tới hai mươi chiếc, ta sẽ đưa cho mỗi người các cô một chiếc. Giáo viên của các cô sẽ là đại diện cho các cô. Nào, Miss Lucy.
Và hắn rút ra chìa ra trước mặt tôi một chiếc khăn tay lụa sạch sẽ. Giờ thì, một kẻ nào không rành về M. Paul, một kẻ xa lạ với tính khí và những sự bốc bột của hắn, hẳn sẽ lúng túng trước lời đề nghị này – từ chối không nhận nó – v.v. và v.v. Nhưng tôi thì hiểu rõ một cách cay đắng rằng điều đó tuyệt đối không ổn chút nào: chỉ một chút do dự nhỏ nhoi thôi cũng sẽ đặt dấu chấm hết cho hiệp ước hòa bình đang chớm nở. Tôi đứng dậy bước nửa đường tới đón lấy chiếc khăn tay, nhận lấy nó với tất cả vẻ tao nhã, dùng nó để lau khô nước mắt, rồi ngồi trở lại ghế, giữ nguyên lá cờ hòa hoãn trong tay và trên lòng, đồng thời đặc biệt cẩn thận không thèm chạm vào kim thưa hay đê khâu, kéo hay vải muslin trong suốt thời gian còn lại của buổi học. M. Paul đã liếc nhìn đầy ghen tuông không biết bao nhiêu lần vào những dụng cụ đó; hắn căm ghét chúng tận xương tủy, coi việc thêu thùa là nguyên nhân làm xao nhãng sự tập trung đáng lẽ phải dành cho bản thân hắn. Hắn đã có một bài giảng vô cùng hùng hồn, và cho đến tận cuối buổi, hắn tỏ ra vô cùng tử tế và thân thiện. Trước khi hắn dứt lời, mây mù đã tan biến và ánh mặt trời rọi chiếu – những giọt nước mắt đã được thay thế bằng những nụ cười.
Lúc rời khỏi phòng, hắn lại dừng lại một nhịp ở bàn làm việc của tôi.
– Còn bức thư của cô thì sao? – hắn hỏi, lần này giọng không còn gay gắt cho lắm.
– Tôi vẫn chưa đọc nó, Monsieur ạ.
– A! Nó quá tuyệt vời để đọc ngay một lúc sao; cô để dành nó, hệt như khi ta còn là một cậu bé, ta thường để dành một quả đào mà lớp phấn quả đang độ chín mọng nhất vậy hả?
Lời phỏng đoán ấy quá sát với sự thật, khiến tôi không tài nào ngăn nổi cái nóng bừng bừng đột ngột dâng lên trên khuôn mặt tố cáo tất cả.
– Cô đang tự hứa hẹn với bản thân một khoảnh khắc thú vị, – hắn nói, – khi đọc bức thư đó; cô sẽ mở nó ra khi chỉ có một mình – n’est-ce pas? A! một nụ cười đã trả lời kìa. Thôi được, thôi được! Người ta không nên quá khắt khe; ‘la jeunesse n’a qu’un temps.’”
– Monsieur, Monsieur! – tôi gọi với theo, hay đúng hơn là thì thầm sau lưng hắn khi hắn quay người định bước đi, – xin đừng để tôi hiểu lầm. Đây đơn giản chỉ là một bức thư của bạn bè thôi. Tôi có thể bảo đảm điều đó mà không cần phải đọc nó.
– Je conçois, je conçois: on sait ce que c’est qu’un ami. Bonjour, Mademoiselle!
– Nhưng, Monsieur, khăn tay của ngài đây này.
– Cứ giữ lấy, giữ lấy đi, cho đến khi bức thư được đọc xong, rồi hãy mang trả lại cho ta; ta sẽ đọc được nội dung của bức thư đó trong ánh mắt của cô.
Khi hắn đã đi rồi, đám học sinh đã tuôn hết từ phòng học ra hành lang berceau, rồi từ đó ra khu vườn và sân trường để tận hưởng giờ giải lao quen thuộc trước bữa tối lúc năm giờ, tôi đứng thẫn thờ một phút, ngẩn ngơ xoắn chiếc khăn tay quanh cánh tay mình. Không biết vì lý do gì – có lẽ vì hoan hỉ trước sự trở lại bất ngờ của ánh hào quang tuổi thơ vàng óng, được đánh thức bởi nguồn năng lượng sảng khoái chưa từng có, thấy vui vẻ bởi sự tự do của giờ phút cuối ngày, và trên hết, được an ủi tận đáy lòng bởi ý thức vui sướng về món báu vật đang nằm trong chiếc tráp, cái hộp, ngăn kéo trên lầu – tôi đâm ra nghịch ngợm chiếc khăn tay hệt như một quả bóng, tung nó lên không trung rồi chộp lấy nó khi nó rơi xuống. Trò chơi bị chặn đứng bởi một bàn tay khác không phải của tôi – một bàn tay thò ra từ ống tay áo khoác paletôt và vươn qua vai tôi; nó đã chộp lấy thứ đồ chơi ứng biến ấy và giật phắt đi kèm với những lời đầy hằn học:
– Je vois bien que vous vous moquez de moi et de mes effets.
Thật tình cái ông chú nhỏ đó mới đáng sợ làm sao: hệt như một yêu tinh của sự thất thường và hiện diện khắp nơi: chẳng ai có thể đoán trước được tâm tính hay tung tích của hắn ở đâu.