Villette

Lượt đọc: 244 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24
Ngài De Bassompierre.

❊ ❊ ❊

Những ai sống ẩn dật, có quãng đời chìm khuất sau những bức tường học xá hoặc những mái nhà được canh giữ nghiêm ngặt, thường dễ bị lãng quên trong suốt một thời gian dài bởi những người bạn đang sống ở một thế giới tự do hơn. Không hiểu vì sao, và có lẽ ngay sau một khoảng thời gian giao du vô cùng náo nhiệt — một chuỗi những tình huống nhỏ đầy kích thích mà hệ quả tất yếu của chúng đáng ra phải là sự thắt chặt chứ không phải sự ngắt quãng liên lạc — bỗng xuất hiện một khoảng lặng tĩnh mịch, một khoảng không vô ngôn, một vùng mù mịt kéo dài của sự lãng quên. Vùng trống này cứ thế kéo dài không một lời giải đáp; vừa trọn vẹn lại vừa tối tăm khó hiểu. Những lá thư, những lời nhắn từng xuất hiện dập dìu nay bị cắt đứt; những chuyến viếng thăm vốn đều đặn nay chấm dứt; cuốn sách, tờ báo hay bất kỳ dấu hiệu nào chứng tỏ sự nhớ mông cũng không còn tới nữa.

Lại luôn có những lý do tuyệt vời cho những sự gián đoạn này, giá mà người ẩn dật kia có thể thấu thấu hiểu chúng. Dù kẻ ấy đang nằm im lìm trong tổ kén của mình, những mối quan hệ ngoài kia của y vẫn đang xoay vần trong chính tâm bão của cuộc đời. Khoảng trống ấy trôi qua chậm chạp đối với y đến mức dường như đồng hồ đã ngừng chạy, và những giờ phút không cánh cứ lết đi như những gã lang thang mệt mỏi chỉ chực ngả lưng bên cột mốc — khoảng thời gian ấy, biết đâu lại đang ngập tràn sự kiện và thở dốc vì bận rộn đối với những người bạn của y.

Kẻ ẩn dật — nếu là một kẻ ẩn dật khôn ngoan — sẽ nuốt ngược những suy nghĩ của chính mình, và tự khóa chặt cảm xúc trong những tuần lễ mùa đông nội tâm ấy. Y sẽ hiểu rằng Định mệnh đã an bài để y bắt chước loài sóc chuột vào những dịp như thế, và y sẽ thuận theo tự nhiên: cuộn mình lại thật gọn gàng, chui vào một ngóc ngách trên bức tường đời, và nhẫn nhịn cúi đầu trước cơn bão tuyết đang thổi tới rồi sẽ nhanh chóng vùi lấp y, giữ y đông cứng trong lớp băng suốt cả mùa.

Hãy để y tự nhủ: “Mọi chuyện hoàn toàn đúng đắn: sự việc phải thế nào thì nó mới thế ấy.” Và có lẽ, một ngày nào đó nấm mồ tuyết của y sẽ mở ra, sự dịu dàng của mùa xuân sẽ trở lại, mặt trời và gió nam sẽ chạm đến y; sự đâm chồi của những hàng rào cây, tiếng chim hót ca, và tiếng chảy reo vui của những dòng suối được giải thoát, sẽ gọi y trở về với sự phục sinh đầy ân huệ. Có lẽ điều đó sẽ xảy ra, cũng có khi không: cái lạnh có thể len lỏi vào trái tim y và chẳng bao giờ tan chảy nữa; khi mùa xuân tới, một con quạ hay con ác là có thể sẽ moi ra từ bức tường ấy chỉ còn lại những khúc xương sóc chuột. Chà, dẫu có trong trường hợp đó đi nữa, mọi chuyện vẫn ổn thỏa cả thôi: người ta phải ngầm hiểu rằng từ ban đầu y vốn là kẻ phàm trần, và rồi sẽ có ngày phải đi theo con đường chung của muôn loài xác thịt, “Sớm muộn gì rồi cũng đến lúc.”

Theo sau buổi tối đầy biến động tại nhà hát ấy, là bảy tuần lễ đối với tôi trống trải hệt như bảy tờ giấy trắng tinh: không một dòng chữ được viết lên bất kỳ tờ nào; không một chuyến thăm, không một món quà kỷ niệm.

Vào khoảng giữa quãng thời gian đó, tôi bắt đầu nảy sinh những ảo tưởng rằng đã có chuyện gì xảy ra với những người bạn của mình ở La Terrasse. Khoảng giữa của sự trống vắng luôn là một điểm mù mịt đối với kẻ cô độc: các dây thần kinh của y nhức nhối vì sự chờ đợi mỏi mòn; những mối hoài nghi trước nay vẫn bị kìm nén nay tụ họp lại thành một khối và — với sức mạnh của sự tích tụ — dội ngược lại y bằng một thứ lực mang vị cay đắng của sự trả thù. Đêm tối, một lần nữa, trở thành một khoảng thời gian bất nhân, và giấc ngủ cùng bản chất con người chẳng thể dung hòa: những cú giật mình kỳ lạ và những nỗi dằn vặt quấy phá chiếc giường của y; đám lâu đâi nham hiểm của những giấc mơ xấu, đứng đầu là nỗi kinh hoàng về tai họa và nỗi sợ hãi bệnh hoạn về sự bỏ rơi hoàn toàn, cùng nhau kết bè chống lại y. Tội nghiệp kẻ khốn khổ! Y đã cố hết sức để chịu đựng, nhưng dẫu có cố thế nào đi chăng nữa, y vẫn chỉ là một kẻ khốn khổ tội nghiệp, xanh xao và đang lụi tàn.

Vào những ngày cuối cùng của bảy tuần lễ đằng đẵng ấy, tôi đã phải thừa nhận điều mà suốt sáu tuần trước tôi vẫn một mực chối bỏ — niềm xác tín rằng sự trống vắng này là điều không thể tránh khỏi: hệ quả của hoàn cảnh, sắc lệnh của số phận, một phần định mệnh trong đời tôi và — trên hết thảy — là một vấn đề mà không một câu hỏi nào được phép đặt ra về cội nguồn của nó, không một lời oán thán nào được phép thốt lên cho chuỗi hệ lụy đau đớn mà nó mang lại. Tất nhiên tôi không tự trách bản thân vì nỗi khổ đau ấy; tôi tạ ơn Chúa vì tôi vẫn có một ý thức về công lý đúng đắn hơn là sa vào bất kỳ sự thái quá ngậm ngùi nào của việc tự trách móc; còn về việc trách cứ sự im lặng của người khác, lý trí mách bảo tôi rằng họ vô tội, và trái tim tôi cũng thừa nhận điều đó: nhưng quả là một con đường gập ghềnh và nặng nề để bước qua, và tôi đã khao khát biết bao những ngày tươi đẹp hơn.

Tôi đã thử qua nhiều biện pháp khác nhau để duy trì và lấp đầy sự tồn tại của mình: tôi bắt đầu đan một dải ren thật tỉ mỉ, tôi học tiếng Đức khá chăm chỉ, tôi thực hiện một khóa đọc sách đều đặn bao gồm những cuốn khô khan và dày cộm nhất trong thư viện; trong mọi nỗ lực của mình, tôi đều tỏ ra chuẩn mực hết mức có thể. Liệu có sự sai sót nào ở đâu đó không? Rất có thể. Tôi chỉ biết rằng kết quả mang lại giống như thể tôi đang gặm một chiếc giũa để thỏa mãn cơn đói, hay uống nước muối để giải tỏa cơn khát.

Giờ phút đọa đày của tôi chính là giờ phát thư. Khốn khổ thay, tôi quá thuộc lòng giờ giấc ấy, và đã cố gắng vô ích cũng như kiên trì hòng lừa dối bản thân về sự thật ấy; tôi kinh hãi gọng kìm của sự chờ đợi, và sự sụp đổ bệnh hoạn của nỗi thất vọng vốn hàng ngày vẫn luôn diễn ra trước và sau tiếng chuông quen thuộc đó.

Tôi đoán rằng những con vật bị giam trong lồng, được cho ăn ít ỏi đến mức luôn đứng bên bờ vực của nạn đói, hẳn cũng ngóng đợi thức ăn giống như cách tôi chờ đợi một lá thư. Ồ! — để nói cho thật lòng, và rũ bỏ cái giọng điệu bình tĩnh giả tạo vốn kéo dài quá lâu sẽ làm mòn mỏi sức chịu đựng của tự nhiên — trong bảy tuần lễ đó, tôi đã phải trải qua những nỗi sợ hãi và đớn đau cay đắng, những thử thách nội tâm kỳ lạ, những lần hy vọng sụp đổ thảm hại, những sự lấn tới không thể dung thứ của nỗi tuyệt vọng. Nỗi tuyệt vọng sau cùng ấy đôi khi tiến lại gần tôi đến mức hơi thở của nó xuyên thấu qua người tôi. Tôi từng cảm thấy nó tựa như một luồng khí hay tiếng thở độc hại, thấm sâu vào tận đáy, khiến nhịp đập nơi tim tôi phải ngừng lại, hoặc chỉ có thể tiếp tục dưới một sức nặng không thể diễn tả bằng lời. Lá thư — lá thư được ái mộ biết bao — vẫn không chịu đến; và đó là tất cả những gì ngọt ngào duy nhất trong cuộc đời mà tôi có thể trông mong.

Trong tận cùng của sự thiếu thốn, tôi lại một lần nữa, và nhiều lần nữa, tìm đến xấp giấy nhỏ trong chiếc hộp — năm bức lá thư. Tháng ngày ấy mới rực rỡ làm sao, khi bầu trời của nó từng chứng kiến sự trỗi dậy của năm ngôi sao này! Tôi luôn ghé thăm chúng vào ban đêm, và vì không dám tối nào cũng xin một ngọn nến ở nhà bếp, tôi đã mua một cây nến sáp cùng diêm để thắp, rồi vào giờ tự học lại lẻn lên ký túc xá để thưởng thức cái vỏ bánh mì trong bữa tiệc của Barmecide. Nó chẳng nuôi sống nổi tôi; tôi héo mòn vì nó, và gầy đi trông thấy như một cái bóng: ngoài ra thì tôi chẳng bệnh tật gì.

Đọc sách ở đó có hơi muộn vào một buổi tối nọ, và cảm thấy khả năng đọc đang rời bỏ mình — bởi những bức thư qua việc đọc đi đọc lại liên tục đã mất hết nhựa sống và ý nghĩa: vàng của tôi đang khô héo thành những chiếc lá ngay trước mắt, và tôi đang đau buồn trước sự vỡ mộng ấy — bỗng nhiên một tiếng bước chân thoăn thoắt chạy lên cầu thang. Tôi nhận ra bước chân của Ginevra Fanshawe: chiều hôm đó con bé đã đi ăn tối ở thành phố; giờ thì nó đã trở về, và chắc sẽ đến đây để cất chiếc khăn choàng và mấy thứ linh tinh vào tủ quần áo.

Đúng vậy: nó bước vào, mặc chiếc váy lụa rực rỡ, chiếc khăn choàng tuột khỏi vai, và những lọn tóc xoăn, vì hơi ẩm ban đêm mà duỗi ra một nửa, rũ xuống nặng nề và lững lờ trên cổ. Tôi vừa kịp cất lại những báu vật của mình vào hộp rồi khóa lại thì nó đã đứng ngay bên cạnh, tâm trạng xem chừng chẳng mấy vui vẻ.

“Đúng là một buổi tối tẻ nhạt: bọn họ thật là những kẻ nhàm chán,” nó mở lời.

“Ai cơ? Bà Cholmondeley á? Tớ tưởng cậu vẫn luôn thấy nhà bà ấy vô cùng quyến rũ cơ mà?”

“Tớ có đến nhà bà Cholmondeley đâu.”

“Thật sao! Cậu lại kết giao với người mới à?”

“Chú de Bassompierre của tớ đã tới.”

“Chú de Bassompierre của cậu á! Cậu không vui sao? — Tớ cứ tưởng ngài ấy là người được cưng chiều chứ.”

“Cậu nghĩ sai bét rồi: lão ta thật đáng ghét; tớ căm ghét lão.”

“Vì ngài ấy là người nước ngoài ư? Hay vì lý do trọng đại nào khác?”

“Lão không phải người nước ngoài. Lão ta mang quốc tịch Anh hoi, Chúa mới biết được; và cũng có một cái tên Anh cho đến tận ba hay bốn năm trước; nhưng mẹ lão là người ngoại quốc, thuộc dòng họ de Bassompierre, và một số người trong họ hàng bên đó đã qua đời để lại cho lão điền trang, tước hiệu, và cái họ này: bây giờ lão đã ra dáng một ông lớn lắm rồi.”

“Cậu ghét ngài ấy chỉ vì lý do đó sao?”

“Cậu tưởng tớ không biết má nói gì về lão chắc? Lão không phải chú ruột của tớ, mà là chồng của dì tớ. Má căm ghét lão; má bảo lão đã đối xử tệ bạc đến chết với dì Ginevra: trông lão chẳng khác nào con gấu. Một buổi tối ảm đạm làm sao!” nó tiếp tục lải nhải. “Tớ sẽ không bao giờ đến cái khách sạn to tướng của lão nữa. Thử tượng trưng mà xem, một mình tớ bước vào phòng, rồi một ông lớn năm mươi tuổi tiến đến, và sau vài phút trò chuyện liền quay lưng đi thẳng với tớ, rồi đột ngột bước ra khỏi phòng. Những cách hành xử thật kỳ cục! Tớ dám cá là lương tâm lão đang cắn rứt, vì ở nhà ai cũng bảo tớ là bản sao y chang của dì Ginevra. Má thường tuyên bố rằng sự giống nhau đó thật nực cười.”

“Hôm đó chỉ có một mình cậu là khách thôi sao?”

“Khách duy nhất? Ừ; rồi còn có tiểu thư, con bé em họ của tớ nữa chứ: một cục cưng vừa hư đốn vừa được chiều chuộng.”

“Ngài de Bassompierre có một cô con gái ư?”

“Đúng rồi, đúng rồi: đừng có làm tớ bực mình bằng mấy câu hỏi nữa. Ôi trời! Tớ mệt quá đi mất.”

Nó ngáp dài. Ngả người một cách thiếu khách khí lên giường tôi, nó nói thêm: “Xem ra Mademoiselle suýt bị nghiền nát thành cháo trong vụ hỗn loạn ở nhà hát vài tuần trước.”

“À! Thật thế sao. Và họ đang sống ở một khách sạn lớn trên phố Rue Crécy?”

“Justement. Sao cậu biết hay vậy?”

“Tớ từng đến đó rồi.”

“Ồ, cậu đến rồi á? Thật thế không! Dạo này cậu đi khắp nơi nhỉ. Chắc là mụ già Bretton đã kéo cậu đi rồi. Bà ta và lão Asculapius có đặc quyền ra vào căn hộ của nhà de Bassompierre: hình như ‘thằng con John của tôi’ đã chăm sóc tiểu thư nhân vụ tai nạn của con bé — Tai nạn á? Xì! Toàn làm vẻ ta đây điệu nghệ! Tớ không nghĩ nó bị bóp méo nhiều hơn mức nó đáng phải chịu cho cái thói kiêu kỳ của mình đâu. Và giờ thì họ thân thiết với nhau ra mặt rồi đấy; tớ nghe thoáng đâu về chuyện ‘ngày xửa ngày xưa’ các thứ các nết. Ôi, sao bọn họ lại ngớ ngẩn đến thế cơ chứ!”

“Tất cả ư? Cậu vừa bảo mình cậu là khách duy nhất cơ mà.”

“Tớ nói thế à? Cậu thấy đấy, người ta thường quên mất việc phải kể chi tiết về một mụ già và thằng con trai của bả.”

“Bác sĩ Bretton và phu nhân đã có mặt ở nhà ngài de Bassompierre tối nay ư?”

“Ừ, ừ! đường hoàng chững chạc lắm; và tiểu thư thì đóng vai nữ chủ nhà. Đúng là một con búp bê tự phụ!”

Trở nên chua mẻ và uể oải, tiểu thư Fanshawe bắt đầu bộc lộ những nguyên nhân khiến cô ta rơi vào tình trạng suy sụp. Đã có một sự cắt giảm về lượng trầm hương dâng cúng, một sự chuyển hướng hoặc tước đoạt hoàn toàn những lời ca tụng và sự chú ý; thói kiêu kỳ đã thất bại, và sự tự van đã phải chịu tổn thương. Cô ta nằm đó hậm hực trong cơn u uất.

“Cô de Bassompierre hiện giờ đã hoàn toàn khỏe mạnh chưa?” tôi hỏi.

“Khỏe như cậu hoặc tớ thôi, chắc chắn là vậy; nhưng con bé là một tiểu thư điệu đà, hay làm mình làm mẩy để thu hút sự chú ý của y khoa. Và cứ ngắm cái cảnh mụ thái phu nhân bắt nó nằm dài trên đi-văng, rồi ‘thằng con John của tôi’ ra lệnh cấm cái này kích thích cái nọ — hừm! cảnh tượng thật phát nôn.”

“Sẽ chẳng phát nôn đâu nếu đối tượng được chú ý thay đổi: nếu cậu được thế chỗ của cô de Bassompierre.”

“Thật chứ lị! Tớ căm ghét ‘thằng con John của tôi’ lắm!”

“‘Thằng con John của tôi!’ — cậu đang ám chỉ ai bằng cái tên đó vậy? Mẹ của bác sĩ Bretton có bao giờ gọi ông ấy như thế đâu.”

“Thế thì bà ấy nên gọi thế. Lão John đó quê mùa và cục mịch hệt như gấu vậy.”

“Cậu đang bóp méo sự thật khi nói thế đấy; và vì toàn bộ sự kiên nhẫn của tôi đã cạn sạch, tôi yêu cầu cậu lập tức đứng dậy khỏi chiếc giường kia và xéo khỏi phòng tôi.”

“Đồ nóng tính! Mặt cậu đỏ như hoa thạch anh rồi kìa. Tớ tự hỏi điều gì lúc nào cũng khiến cậu nổi đóa lên một cách dữ dội như thế đối với lão Jean béo thế nhỉ? ‘John Anderson, my Joe, John!’ Ồ, cái tên mới nổi bật làm sao!”

Sôi sục vì sự bực bội — điều mà việc trút giận ra lúc này sẽ là một sự ngu ngốc tuyệt đối — bởi chẳng thể đôi co với cái sinh thể mỏng manh không trọng lượng, con bướm phấn bột ấy; tôi dập tắt ngọn nến, khóa tủ tài liệu lại, và bỏ mặc cô ta ở đó, vì cô ta nhất quyết không chịu rời đi. Dù chỉ là một thứ bia cỏ nhạt nhẽo, cô ta đã biến chất đến mức chua ngoa không thể chịu nổi.

Hôm sau là thứ Năm và là buổi nghỉ nửa ngày. Bữa sáng đã qua; tôi lui về phòng học thứ nhất. Giờ phút đáng sợ, giờ phát thư, đang đến gần, và tôi ngồi chờ đợi nó, chẳng khác nào một kẻ nhìn thấy hồn ma đang đợi chờ bóng ma của mình. Khả năng có thư thấp hơn bao giờ hết; thế nhưng, dẫu tôi có cố gắng thế nào đi nữa, tôi vẫn không thể quên đi thực tế rằng điều đó hoàn toàn có thể xảy ra. Khi những khoảnh khắc ngắn dần, sự bồn chồn và sợ hãi vượt quá mức bình thường ập đến tấn công tôi. Đó là một ngày mùa đông với những cơn gió đông bắc, và từ lâu tôi đã chìm đắm trong mối thâm giao ảm đạm với những cơn gió cùng sự thay đổi của chúng, thứ vốn ít được biết đến và không thể hiểu nổi đối với những kẻ khỏe mạnh. Gió bắc và gió đông mang một sức mạnh khủng khiếp, khiến mọi nỗi đau thêm buốt nhói, mọi niềm sầu muộn thêm đắng cay. Gió nam có thể xoa dịu, gió tây đôi khi có thể vực dậy tinh thần: trừ phi, thực ra, chúng mang theo trên đôi cánh của mình gánh nặng của những đám mây dông, dưới sức nặng và hơi ấm của chúng, mọi sinh lực đều lụi tàn.

Cay đắng và tăm tối hệt như ngày tháng Giêng ấy, tôi nhớ mình đã rời khỏi phòng học, chạy thục mạng không đội mũ ra đến tận cùng khu vườn dài, rồi ngập ngừng lang thang giữa những bụi cây trơ trụi, với niềm hy vọng mong manh rằng tiếng chuông của người đưa thư có thể vang lên khi tôi đang ở ngoài tầm nghe, và nhờ thế tôi có thể tránh được cơn chấn động mà một vài dây thần kinh nào đó — gần như đã bị gặm mòn bởi nhát cắn không nguôi của một ý nghĩ cố định — đang dần trở nên hoàn toàn không thể chịu đựng nổi. Tôi nán lại lâu nhất có thể mà không sợ gây chú ý vì sự vắng mặt của mình. Tôi dùng tạp dề trùm kín đầu và bịt chặt tai lại vì khiếp sợ tiếng leng keng tra tấn, thứ chắc chắn sẽ theo sau bởi một khoảng không vô cảm đến thế, một khoảng chân không cằn cỗi đến thế đối với tôi. Cuối cùng, tôi đánh liều bước trở lại phòng học thứ nhất, nơi, vì chưa điểm chín giờ, nên chưa có học sinh nào được vào. Đập vào mắt tôi đầu tiên là một vật màu trắng trên chiếc bàn đen của tôi, một vật màu trắng, phẳng lì. Bưu phẩm quả thực đã đến; mà tôi lại không hề hay biết. Rosine đã ghé qua xà lim của tôi, và hệt như một vị thiên thần, đã để lại đằng sau món quà rạng rỡ của sự hiện diện nàng. Thứ sáng lóa trên chiếc bàn ấy đích thị là một bức thư, một bức thư thật sự; tôi nhận ra điều đó từ khoảng cách ba thước, và vì tôi chỉ có đúng một người liên lạc trên cõi đời này, thì chắc chắn nó phải xuất phát từ người đó. Anh ấy vẫn còn nhớ đến tôi. Nhịp đập sâu thẳm của lòng biết ơn đã truyền nguồn sinh khí mới vào trái tim tôi.

Tiến lại gần, cúi xuống và ngắm nhìn bức thư, với niềm hy vọng run rẩy nhưng gần như chắc chắn được nhìn thấy một nét chữ quen thuộc, trớ trêu thay, tôi lại tìm thấy một nét chữ mà lúc ấy tôi cho là xa lạ — một nét chữ ngoằn ngoèo nhợt nhạt của phụ nữ, thay vì một nét chữ cứng cáp, nam tính. Lúc đó tôi nghĩ số phận quá khắc nghiệt với mình, và tôi thốt lên thành tiếng: “Thật tàn nhẫn.”

Nhưng tôi cũng vượt qua được nỗi đau đó. Cuộc đời vẫn cứ là cuộc đời, dẫu cho có những nỗi đớn đau nào đi nữa: đôi mắt, đôi tai của chúng ta cùng công dụng của chúng vẫn ở lại với ta, dẫu cho viễn cảnh về những điều ta yêu thích bị tước đoạt hoàn toàn, và âm thanh của những điều vỗ an bị làm cho câm lặng hẳn.

Tôi mở bức tiểu thư: lúc này tôi đã nhận ra nét chữ của nó quen thuộc một cách hoàn hảo. Nó được đề ngày từ “La Terrasse”, và nội dung như sau:—

“LUCY THÂN MẾN, — Ta chợt muốn hỏi dạo này cậu đang làm gì với bản thân trong suốt một hoặc hai tháng qua thế? Không phải vì ta nghi ngờ cậu sẽ gặp chút khó khăn nào trong việc tường thuật lại các hoạt động của mình đâu. Ta dám cá là cậu cũng bận rộn và hạnh phúc chẳng kém gì đám tụi ta ở La Terrasse. Còn về Graham, các mối quan hệ nghề nghiệp của thằng bé ngày càng mở rộng: nó được săn đón và bận rộn đến mức ta cứ bảo rằng nó sắp trở nên tự phụ đến nơi rồi. Hệt như một người mẹ hiền đức chơn chính, ta làm hết sức mình để kìm hãm nó lại: chẳng có chút nịnh hót nào lọt được vào tai nó từ ta đâu, như cậu đã biết đấy. Thế mà, Lucy, nó lại là một chàng trai tuyệt vời: trái tim người mẹ rung lên vì hạnh phúc mỗi khi nhìn thấy nó. Sau khi bị cuốn đi chỗ này chỗ nọ suốt cả ngày trời, phải trải qua thử thách của đủ loại tính khí, chiến đấu với hàng trăm thói thất thường, và đôi khi chứng kiến những nỗi đau đớn tột cùng — có lẽ, thỉnh thoảng, như ta vẫn hay bảo nó, chính nó là kẻ gây ra những nỗi đau ấy — đến tối nó vẫn trở về bên ta với một tâm trạng thật tử tế và dễ chịu, đến nỗi quả thực, ta cứ có cảm giác mình đang sống ở một chốn địa cực luân lý nào đó, và vào những buổi tối tháng Giêng này, ngày của ta lại bắt đầu khi đêm của những người khác vừa buông xuống.

Tuy nhiên, nó vẫn cần phải được quản lý, chấn chỉnh và kìm kẹp, và ta đang làm tốt cái công dịch vụ đó; nhưng thằng bé lại vô cùng linh hoạt đến mức chẳng có cách nào khiến nó thực sự bực bội nổi. Khi ta nghĩ rằng cuối cùng mình đã dồn nó đến mức cáu kỉnh, nó lại quay sang trả đũa ta bằng những câu đùa cợt: nhưng cậu rõ quá mà, cậu thừa biết nó và tất cả những thói hư tật xấu của nó, và ta chỉ là một mụ già ngớ ngẩn khi biến nó thành đề tài cho bức thư này.

Còn về phần ta, ta đã có gã đại lý cũ ở Bretton ghé thăm, và đang ngập đầu ngập cổ vào các vấn đề kinh doanh. Ta vô cùng ao ước có thể giành lại cho Graham ít nhất một phần những gì cha nó để lại. Nó cười trừ trước sự lo lắng của ta về điểm này, bảo ta hãy nhìn và xem cách nó tự lo cho bản thân lẫn ta ra sao, rồi hỏi xem mụ già này còn có thể muốn gì nữa mà chưa có; bóng gió xa xôi về những chiếc khăn turban xanh da trời; buộc tội ta có tham vọng đeo kim cương, thuê người hầu mặc đồng phục, mở khách sạn, và dẫn đầu xu hướng giữa cộng đồng người Anh ở Villette.

Nhân nhắc đến khăn turban xanh da trời, ta ước gì cậu có mặt ở đây với tụi ta tối hôm nọ. Nó đã về nhà trong trạng thái thực sự mệt mỏi, và sau khi ta pha trà cho nó, nó ngả người vào chiếc ghế bành của ta với cái vẻ trơ trẽn thường lệ. Đến sự vui mừng khôn tả của ta, nó đã ngủ thiếp đi. (Cậu biết nó cứ trêu ta về thói hay buồn ngủ thế nào rồi đấy; ta, người mà chưa bao giờ, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dám nhắm mắt vào ban ngày cơ chứ.) Trong lúc nó ngủ, ta thấy trông nó thật khôi ngô làm sao, Lucy ạ; dẫu ta có ngốc nghéi khi tự hào về nó đến thế; nhưng ai mà kiềm lòng được chứ? Hãy chỉ cho ta thấy ai bì kịp nó đi nào. Nhìn đi đâu đi nữa, ta cũng chẳng thấy ai giống nó ở Villette cả. Thế là, ta nảy ra ý định chơi khăm nó một vố: thế là ta lôi chiếc khăn turban xanh da trời ra, và nâng niu nó bằng sự thận trọng tối đa, ta xoay xở đội lên mái đầu của nó món trang sức lộng lẫy này. Ta bảo đảm với cậu là nó hợp đến lạ; trông nó chẳng khác nào một người phương Đông, chỉ tiếc là nó quá trắng trẻo. Tuy nhiên, chẳng ai có thể buộc tội nó có tóc đỏ lúc này được nữa — đó là màu hạt dẻ chính hiệu — màu hạt dẻ sẫm, bóng mượt; và khi ta choàng chiếc khăn cashmere lớn của mình lên người nó, thì một vị bey, dey, hoặc pacha trẻ tuổi khôi ngô chẳng kém gì kẻ cậu muốn thấy đã ra đời ngay tại chỗ.

Đó là một trò giải trí thú vị; nhưng chỉ được tận hưởng một nửa, vì ta chỉ có một mình: lẽ ra cậu nên có mặt ở đó.

Đúng giờ, đại nhân của ta thức tỉnh: chiếc gương soi trên lò sưởi đã nhanh chóng báo cho ngài ấy biết cảnh ngộ của mình: như cậu có thể tưởng tượng, giờ đây ta đang sống dưới sự đe dọa và nỗi sợ hãi về sự trả thù.

Nhưng để đi thẳng vào trọng tâm bức thư của ta. Ta biết thứ Năm là buổi nghỉ nửa ngày ở Rue Fossette: vậy hãy chuẩn bị sẵn sàng, vào lúc năm giờ chiều, ta sẽ cử xe đến đón cậu ra La Terrasse. Nhớ đến đấy nhé: cậu có thể gặp lại vài người quen cũ. Tạm biệt nhé, cô con gái đỡ đầu nhỏ bé khôn ngoan, đáng yêu và nghiêm nghị của ta.— Thân ái,

LOUISA BRETTON.”

Giờ thì, một bức thư như thế có thể vực con người ta dậy! Tôi có lẽ vẫn còn buồn sau khi đọc xong bức thư đó, nhưng tâm trí tôi đã bình tĩnh hơn nhiều; không hẳn là phấn chấn, nhưng chí ít cũng được nhẹ nhõm phần nào. Những người bạn của tôi, ít nhất, vẫn bình an và hạnh phúc; không có tai nạn nào xảy ra với Graham; không có cơn bệnh nào quật ngã mẹ anh ấy — những tai ương từng là giấc mơ và nỗi ám ảnh của tôi bấy lâu nay. Tình cảm của họ dành cho tôi vẫn như xưa — vẫn trọn vẹn như trước. Thế nhưng, thật kỳ lạ làm sao khi nhìn vào bảy tuần lễ của bà Bretton và đem so sánh chúng với bảy tuần lễ của chính tôi! Hơn nữa, thật khôn ngoan biết bao cho những ai rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khi biết giữ im lặng và không bô bô tuyên bố hoàn cảnh ấy đang hành hạ họ ra sao! Thế giới có thể hiểu rất rõ quá trình lụi tàn vì thiếu ăn: có lẽ ít ai có thể thấu hiểu hoặc mường tượng nổi quá trình phát điên vì bị giam cầm đơn độc. Họ nhìn thấy kẻ tù nhân bị chôn vùi lâu ngày được khai quật lên, đã thành một kẻ cuồng loạn hoặc đần độn! — cách thức mà các giác quan rời bỏ y — cách thức mà các dây thần kinh của y, thoạt đầu bị kích thích, phải trải qua những nỗi đau đớn không tên, rồi sau đó chìm vào tê liệt — là một chủ đề quá phức tạp để nghiên cứu, quá trừu tượng để trí tuệ đại chúng có thể thấu triệt. Hãy nói về nó xem! Cậu thà đứng giữa một khu chợ ở châu Âu và rao giảng những lời thâm thúy bằng thứ ngôn ngữ và tâm trạng mà Nebuchadnezzar, vị hoàng đế mắc bệnh hoang tưởng, từng dùng để trò chuyện với những nhà thông thái Chaldea còn đang bối rối của ông ta, còn hơn. Và mong sao, dài lâu thay, những tâm trí mà đối với họ những chủ đề ấy không còn là điều bí ẩn — những kẻ mà sự liên hệ của chúng được thấu cảm sâu sắc — sẽ chỉ chiếm số lượng ít ỏi, và hiếm hoi trong cuộc gặp gỡ. Mong sao người ta vẫn đinh ninh rằng chỉ có những sự thiếu thốn về thể xác mới đáng được cảm thông, còn phần còn lại chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng. Khi thế giới còn trẻ trung và tráng kiện hơn bây giờ, những thử thách về luân lý lại là một ẩn số sâu kín hơn nữa: có lẽ trên toàn cõi Israel chỉ có duy nhất một Saul — và chắc chắn chỉ có duy nhất một David để xoa dịu hoặc thấu hiểu ông.

Cái lạnh sắc bén và tĩnh mịch của buổi sáng sau đó, vào lúc xế chiều, được tiếp nối bởi một luồng hơi thở buốt giá thổi từ những vùng đất hoang vu của nước Nga: vùng đất lạnh giá thở phào qua vùng ôn đới, và đóng băng nó lại hoàn toàn. Một vòm trời nặng trịch, ảm đạm và dày đặc tuyết, từ phương bắc trôi dạt tới, ngự trị trên bầu trời châu Âu đang chờ đợi. Đến xế chiều thì tuyết bắt đầu rơi. Tôi cứ sợ sẽ chẳng có cỗ xe nào đến được, vì cơn bão tuyết trắng thổi dữ dội và dày đặc quá. Nhưng hãy tin ở mẹ đỡ đầu của tôi! Một khi đã ngỏ lời, bà ấy nhất định sẽ đón cho được vị khách của mình. Khoảng sáu giờ, tôi được bế từ cỗ xe qua những bậc thềm phía trước đã bị tuyết vùi lấp, và được đưa qua cánh cửa của La Terrasse.

Chạy qua tiền sảnh và lên lầu vào phòng khách, tôi tìm thấy bà Bretton ở đó — bản thân bà chính là một ngày hè. Dù cho tôi có lạnh gấp đôi đi chăng nữa, cái hôn ân cần và vòng tay xiết chặt đầy thân thiết của bà cũng đủ sưởi ấm cho tôi. Đã quen thuộc từ lâu với những căn phòng có sàn gỗ trần trụi, những chiếc ghế dài đen sì, bàn làm việc và lò sưởi, phòng khách màu xanh lam lúc này đối với tôi trông thật lộng lẫy. Riêng trong đống lửa tựa Giáng sinh ấy đã tỏa ra một thứ ánh sáng đỏ rực và trong trẻo khiến tôi lóa cả mắt.

Khi mẹ đỡ đầu cầm tay tôi một lúc lâu, trò chuyện với tôi, và mắng tôi vì tội gầy đi so với lần gặp trước, bà quả quyết phát hiện ra rằng gió tuyết đã làm rối tung mái tóc của tôi, và bảo tôi lên lầu chỉnh trang lại đồng thời cởi chiếc khăn choàng ra.

Trở về căn phòng màu xanh lá cây nhỏ bé của mình, ở đó tôi cũng tìm thấy một lò sưởi rực lửa và những ngọn nến đã được thắp sáng: một ngọn nến sáp cao đặt ở mỗi bên chiếc gương soi lớn; nhưng giữa những ngọn nến, và trước tấm gương, xuất hiện thứ gì đó đang tự chải chuốt — một sinh thể bồng bềnh, tựa tiên nữ — nhỏ nhắn, mảnh khảnh, trắng muốt — một linh hồn mùa đông.

Tôi xin thề, có một khoảnh khắc tôi đã nghĩ đến Graham và những ảo ảnh ma quái của anh ấy. Với ánh mắt đầy hoài nghi, tôi quan sát chi tiết của bóng hình kỳ ảo mới xuất hiện này. Nó mặc đồ trắng, điểm xuyết nhẹ nhàng bằng những giọt màu đỏ thẫm; thắt lưng của nó có màu đỏ; trên tóc nó có thứ gì đó vừa có lá lại vừa lấp lánh — một vòng hoa nhỏ với lớp sáng bóng của lá thường xuân. Dù là ma quái hay không, ở đây hoàn toàn chẳng có gì đáng sợ cả, và tôi bước tới.

Đột ngột quay phắt lại về phía tôi, một đôi mắt lớn, ẩn dưới hàng lông mi dài, lướt qua kẻ đột nhập là tôi: hàng lông mi vừa đen vừa dài, và chúng làm dịu đi bằng chiếc bóng vẽ của mình nhãn cầu mà chúng bảo vệ.

“À! Cậu đến rồi đấy chứ!” con bé khẽ thốt lên bằng một giọng mềm mại, điềm tĩnh, rồi mỉm cười chậm rãi và đăm đăm nhìn tôi.

Lúc này tôi đã nhận ra nó. Chỉ mới nhìn thấy thể loại khuôn mặt đó một lần, với nét khắc tạc thanh tú và tinh tế ấy, tôi không thể nào không nhận ra.

“Cô de Bassompierre,” tôi thốt lên.

“Không,” câu trả lời là, “không phải cô de Bassompierre đối với cậu!” Tôi không hỏi rốt cuộc nó có thể là ai, mà chờ đợi sự bộc bạch tự nguyện.

“Cậu đã thay đổi, nhưng trông vẫn là cậu,” nó nói, bước lại gần hơn. “Tớ nhớ cậu lắm — gương mặt cậu, màu tóc cậu, đường nét khuôn mặt cậu….”

Tôi đã di chuyển đến bên lò sưởi, và con bé đứng đối diện, đăm đăm nhìn vào tôi; và khi nó nhìn, khuôn mặt nó dần trở nên biểu cảm hơn qua từng suy nghĩ và cảm xúc, cho đến cuối cùng một lớp sương mờ làm lu mờ đi ánh nhìn trong trẻo của nó.

“Nhìn lại quãng thời gian xa xôi ấy khiến tớ suýt khóc,” nó nói: “nhưng còn về chuyện tỏ ra buồn bã hay sướt mướt, đừng có tưởng bở nhé: ngược lại, tớ vô cùng mãn nguyện và vui mừng.”

Cảm thấy tò mò, nhưng hoàn toàn bối rối, tôi chẳng biết phải nói gì. Cuối cùng tôi ấp úng: “Tớ nghĩ là mình chưa từng gặp cậu cho đến đêm hôm đó, vài tuần trước, khi cậu bị thương…?”

Nó mỉm cười. “Cậu quên mất việc tớ từng ngồi vào lòng cậu, từng được bế trong vòng tay cậu, thậm chí từng chung gối với cậu rồi sao? Cậu không còn nhớ đêm mà tớ vừa khóc lóc, hệt như một đứa trẻ hư hỏng tớ vốn thế, chạy đến bên giường cậu, rồi cậu đã ôm lấy tớ vào lòng ư? Cậu không còn chút ký ức nào về sự an ủi và chở che mà qua đó cậu đã xoa dịu một nỗi đau tột cùng sao? Hãy quay về Bretton đi. Hãy nhớ đến ông Home.”

Cuối cùng tôi đã hiểu ra tất cả. “Và cậu chính là bé Polly?”

“Tớ là Paulina Mary Home de Bassompierre.”

Thời gian có thể đổi thay biết bao! Bé Polly từng mang trong những nét nhỏ nhắn, nhợt nhạt, sự đối xứng tựa tiên nữ, và biểu cảm thay đổi khôn lường của mình, một lời hứa hẹn nhất định về sự thú vị và duyên dáng; nhưng Paulina Mary giờ đây đã trở nên xinh đẹp — không phải với vẻ đẹp đập vào mắt như một đóa hoa hồng — tròn trịa, hồng hào và đầy đặn; không phải với những nét tròn trĩnh, hồng hào và mái tóc vàng nhạt của cô em họ Ginevra; mà độ tuổi mười bảy đã ban cho nàng một vẻ quyến rũ tinh tế và dịu dàng không nằm ở làn da, dẫu làn da nàng trắng trẻo và trong trẻo; cũng chẳng nằm ở đường nét, dẫu các đường nét của nàng ngọt ngào và các phần cơ thể được tạo hình hoàn hảo; mà, tôi cho rằng, nó nằm ở một thứ ánh hào quang dịu nhẹ tỏa ra từ chính tâm hồn. Đây không phải là một chiếc bình đục, dẫu vật liệu có đắt tiền đến đâu, mà là một ngọn đèn trong suốt một cách thuần khiết, bảo vệ khỏi sự lụi tàn, nhưng không che khuất khỏi sự sùng kính, một ngọn lửa nguyên sinh và trinh bạch. Khi nói về sức hút của nàng, tôi không muốn phóng đại ngôn từ; nhưng quả thực, chúng đối với tôi vô cùng chân thực và cuốn hút. Dẫu cho mọi thứ đều ở quy mô nhỏ, chính hương thơm mới là thứ mang lại sự khác biệt cho đóa hoa violet trắng này, khiến nó vượt trội hơn cả những đóa hoa trà lớn nhất — đóa thược dược rực rỡ nhất từng nở hoa.

“À! Và cậu vẫn nhớ khoảng thời gian xưa ở Bretton chứ?”

“Tốt hơn,” nó nói, “có lẽ là tốt hơn cậu. Tớ ghi nhớ nó với một sự sắc nét đến từng chi tiết: không chỉ khoảng thời gian đó, mà là từng ngày trong khoảng thời gian ấy, và từng giờ trong những ngày đó.”

“Cậu hẳn đã quên mất vài thứ chứ?”

“Rất ít, tớ tưởng tượng thế.”

“Hồi đó cậu là một sinh thể nhỏ bé với những cảm xúc bột phát: chắc hẳn từ lâu cậu đã vượt qua những ấn tượng mà niềm vui và nỗi buồn, tình cảm và sự chia ly từng in hằn trong tâm trí cậu mười năm trước rồi chứ.”

“Cậu nghĩ rằng tớ đã quên mất mình từng thích ai, và thích họ đến mức độ nào khi còn là một đứa trẻ sao?”

“Sự sắc bén hẳn đã phai mờ — cái nhọn, cái buốt nhói — dấu ấn sâu đậm hẳn đã phải nhạt nhòa và xóa sạch rồi chứ?”

“Tớ có một trí nhớ tốt cho những ngày tháng đó.”

Trông nó có vẻ như thế. Đôi mắt của nó là đôi mắt của một kẻ biết nhớ thương; của một kẻ mà tuổi thơ không phai mờ tựa giấc mơ, và tuổi trẻ cũng chẳng vụt bay như một tia nắng. Nữ nhi ấy sẽ không tiếp nhận cuộc đời một cách lỏng lẻo, rời rạc theo từng phần, rồi để một mùa trôi qua khi bước sang một mùa khác: nàng sẽ gìn giữ và bồi đắp thêm; thường xuyên nhìn lại từ điểm khởi đầu, và cứ thế lớn lên trong sự hài hòa và nhất quán theo năm tháng. Thế nhưng tôi vẫn không thể hoàn toàn chấp nhận niềm tin rằng tất cả những bức tranh đang dồn dập ùa về trong tôi lúc này đều vô cùng sống động và hiện hữu rõ mười mươi đối với nàng. Những gắn bó đầy âu yếm, những trò chơi và cuộc tranh tài với người bạn chơi thuở nhỏ rất mực yêu thương, sự tận tụy kiên nhẫn và chân thành của một trái tim trẻ thơ, những nỗi sợ hãi, sự dè dặt mong manh, những thử thách nhỏ nhặt, nỗi đau xé lòng cuối cùng của sự chia ly… Tôi lần giở lại những điều ấy, và lắc đầu đầy hoài nghi. Nàng vẫn kiên định. “Đứa trẻ lên bảy vẫn đang sống trong thiếu nữ tuổi mười bảy,” nàng nói.

“Cậu từng cực kỳ yêu quý bà Bretton,” tôi nhận xét, có ý muốn thử thách nàng. Nàng chỉnh lại tôi ngay lập tức.

“Không phải cực kỳ yêu quý,” nàng nói; “tớ quý bà ấy: tớ tôn trọng bà ấy y như bây giờ tớ vẫn làm: đối với tớ bà ấy chẳng thay đổi là bao.”

“Bà ấy không thay đổi nhiều lắm,” tôi đồng tình.

Chúng tôi im lặng vài phút. Đưa mắt nhìn quanh căn phòng, nàng nói: “Có rất nhiều thứ ở đây từng xuất hiện ở Bretton! Tớ nhớ chiếc gối cắm kim và chiếc gương soi đó.”

Rõ ràng là nàng không hề ảo tưởng về năng lực trí nhớ của chính mình; ít nhất là không sai lệch ở điểm này.

“Vậy cậu nghĩ rằng, mình hẳn đã nhận ra bà Bretton chứ?” tôi tiếp lời.

“Tớ nhận ra bà ấy một cách hoàn hảo; đường nét khuôn mặt, làn da ngăm ô-liu và mái tóc đen, chiều cao, dáng đi, giọng nói của bà.”

“Còn bác sĩ Bretton, tất nhiên,” tôi tiếp tục, “sẽ là điều nằm ngoài bàn cãi: và quả thực, vì tớ từng chứng kiến cuộc gặp gỡ đầu tiên của cậu với ông ấy, tớ biết rõ rằng ông ấy xuất hiện trước cậu như một kẻ xa lạ.”

“Đêm đầu tiên đó tớ đã hoang mang,” nàng đáp.

“Cuộc nhận ra giữa ông ấy và cha cậu diễn ra như thế nào vậy?”

“Họ trao đổi danh thiếp. Cái tên Graham Bretton và Home de Bassompierre đã làm dấy lên những câu hỏi và sự giải thích. Đó là vào ngày thứ hai; nhưng trước đó tớ đã bắt đầu lờ mờ nhận ra điều gì đó rồi.”

“Sao cơ — nhận ra điều gì cơ?”

“Thì đấy,” nàng nói, “thật kỳ lạ làm sao khi hầu hết mọi người dường như quá chậm chạp trong việc cảm nhận sự thật — không phải là nhìn thấy, mà là cảm nhận! Khi bác sĩ Bretton đến thăm tớ vài lần, ngồi sát bên và trò chuyện với tớ; khi tớ quan sát ánh nhìn trong đôi mắt ông ấy, biểu cảm quanh khóe miệng, hình dáng chiếc cằm, cách cằm cao đầu, và tất cả những gì chúng ta vẫn thường quan sát ở những kẻ tiếp cận mình — làm sao tớ có thể tránh khỏi việc bị sự liên tưởng dẫn dắt để nghĩ đến Graham Bretton? Graham gầy hơn ông ấy, và chưa cao lớn đến thế, lại có khuôn mặt nhẵn nhụi hơn, mái tóc dài và sáng màu hơn, giọng nói cũng — không trầm bằng — giống con gái hơn; thế nhưng ông ấy vẫn chính là Graham, hệt như tớ là bé Polly, hay cậu là Lucy Snowe vậy.”

Tôi cũng suy nghĩ y hệt, nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy suy nghĩ của mình lại trùng khớp với nàng: có những điều nhất định mà trong đó chúng ta hiếm hoi đến mức bắt gặp được hình bóng thứ hai của chính mình, để rồi khi cơ hội kỳ diệu đó xảy ra, nó trông cứ như một phép màu.

“Cậu và Graham từng là bạn chơi thuở nhỏ.”

“Và cậu vẫn nhớ điều đó ư?” nàng ngược lại hỏi tôi.

“Chắc chắn là anh ấy cũng sẽ nhớ thôi,” tôi đáp.

“Tớ chưa từng hỏi ông ấy: rất ít điều có thể khiến tớ ngạc nhiên hơn việc phát hiện ra rằng ông ấy vẫn nhớ. Tớ đoán tính cách của ông ấy vẫn vui tươi và vô tư lự như xưa chứ?”

“Trước kia anh ấy vốn thế ư? Cậu từng ấn tượng như vậy sao? Cậu vẫn nhớ về anh ấy như thế à?”

“Tớ hầu như chẳng nhớ về ông ấy dưới ánh sáng nào khác. Thỉnh thoảng ông ấy chăm chỉ; thỉnh thoảng ông ấy vui vẻ; nhưng dù bận rộn với sách vở hay có hứng thú chơi đùa, tâm trí ông ấy chủ yếu chỉ nghĩ đến sách vở hoặc trò chơi; chẳng mấy bận tâm đến những kẻ cùng ông đọc sách hay giải trí.”

“Thế nhưng anh ấy lại dành sự thiên vị cho cậu.”

“Thiên vị tớ á? Ồ, không! ông ấy có những người bạn chơi khác — những bạn học cùng trường; tớ chẳng có mấy ý nghĩa đối với ông ấy, ngoại trừ những ngày Chủ nhật: vâng, ông ấy rất tử tế vào các ngày Chủ nhật. Tớ nhớ cảnh tay trong tay đi dạo cùng ông ấy đến nhà thờ St. Mary, và việc ông ấy tìm hộ tớ những trang kinh trong sách cầu nguyện; và ông ấy mới ngoan ngoãn, tĩnh lặng làm sao vào những tối Chủ nhật! Mới dịu dàng làm sao đối với một cậu bé kiêu hãnh và hiếu động như thế; mới kiên nhẫn làm sao trước mọi lỗi đọc sách của tớ; và đáng tin cậy làm sao một cách kỳ diệu, bởi ông ấy chưa từng dành những buổi tối đó để la cà ngoài đường: tớ cứ nơm nớp lo sợ rằng ông ấy sẽ nhận lời mời đi đâu đó rồi bỏ rơi tụi tớ; nhưng ông ấy chưa bao giờ làm thế, và dường như cũng chưa bao giờ có ý định đó. Thế nên, tất nhiên, mọi chuyện giờ đây không thể như trước được nữa. Tớ đoán Chủ nhật bây giờ sẽ là ngày bác sĩ Bretton đi ăn tiệm mất thôi…?”

“Các con, xuống đây mau!” tiếng bà Bretton từ dưới lầu vọng lên. Paulina vẫn còn muốn nán lại, nhưng tôi nghiêng mình muốn đi xuống: chúng tôi cùng bước xuống.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Charlotte Brontë

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.