Alf vẫn còn đang ngủ say khi tôi thức dậy vào sáng hôm sau. Tôi đứng ở đầu cầu thang, nhìn lại khuôn mặt tuấn tú nhưng đã rám nắng của cậu ấy, và trong lòng dâng lên một niềm cảm mến lạ lùng mà sâu sắc. Thế nhưng, tôi vẫn chưa chìm đắm trong nỗi dằn vặt của ái tình; thứ tình cảm ấy hãy còn mới mẻ đến mức làm tôi loá mắt.
Khi tôi xuống lầu, Guinea đang cho đàn gà ăn ngoài cửa sổ nhà bếp, còn ông cụ thì thẩn thơ đi lại trong sân với chiếc mũụp sụp xuống để tránh cái nắng xéo rọi. Nhìn thấy tôi, ông gọi lại và bảo rằng bây giờ sẽ cho tôi ngắm những "cục cưng" của ông. Ngay lúc đó, tôi nghe thấy tiếng Guinea vọng ra: "Ông Hawes này, nếu ông ấy định cho chúng chọi nhau thì cứ việc quay lại ngay và bỏ mặc ông ấy nhé," cô nói. "Chúng tôi không cho phép ông ấy tổ chức chọi gà vào Chủ nhật đâu."
Ông cụ liền lớn tiếng: "Này cô Smartjacket, tôi đã đả động gì đến chuyện cho chúng chọi nhau đâu nào. Hawes đấy, mấy người đàn bà này chẳng muốn cho đàn ông chúng tôi lấy một chút vui thú nào cả. Miễn là đàn ông còn cặm cụi làm việc thì phụ nữ chẳng có ý kiến gì; họ có thể trơ mắt nhìn mình cày cuốc đến quỵ ngã, nhưng hễ cứ vừa muốn vui chơi một chút là họ lại bắt đầu càu nhàu, phàn nàn. Tất nhiên là tôi chẳng đời nào để chúng cọi nhau vào ngày Chủ nhật rồi. Thế nhưng một ông thầy tu còn sẵn sàng nuốt chửng một con gà vào ngày Chủ nhật ấy chứ. Ngày nào mà chẳng là của họ. Đến lúc họ đã sấn sổ bước đến thì có khác gì chó chết hay búa đập đâu chứ. Dẫu vậy, như tôi đã nói với cậu đấy, tôi tin tưởng Kinh thánh từ trang bìa này đến trang bìa nọ. Ra đây nào, Hawes."
Tôi ngỡ mình nhận được từ Guinea một nụ cười tán đồng, rồi bước theo chân ông. Khoảng sân nơi ông nuôi gà được quây kín kiên cố chẳng khác gì một cái "lô cốt". Ông cụ mở ổ khóa và ra hiệu cho tôi bước vào. Tôi đặt chân vào trong, và khi người chủ nhà theo sau tôi, chúng tôi được chào đón bằng muôn tiếng kêu cục cục cùng những cú bới đất—đó là màn chào mừng của hai con gà chọi nằm trong một chiếc lồng dây thép được chia làm hai ngăn bởi một vách ván dày dặn. "Tôi chỉ muốn cậu ngắm nghía và đánh giá chúng cho thoả chí tò mò của riêng cậu thôi," ông cụ vừa nói vừa trìu mến nhìn những chú thú cưng có bộ lông óng ánh. "Con gà đỏ đằng này là Sam, còn cái tên ranh mãnh mang bộ lông lốm đốm kia là Bob. Chà, Chúa ơi, cậu chẳng thể biết nuôi một con gà thú vị đến mức nào đâu, và chẳng tài nào tôi hiểu nổi sao một vị mục sư lại có thể nuốt trôi một con gà chọi cơ chứ. Nhưng mà này, hiểu ý tôi chứ, tôi vẫn đứng về phía ngài ấy từ trang đầu đến trang cuối đấy nhé. Trật tự nào, mấy cậu trai; hôm nay không có chọi chẹ gì hết. Phải biết giữ ý tứ chứ, hiểu chưa nào."
Ông nhặt một hạt bắp từ trong túi áo, kẹp giữa hai hàm răng, miệng cười toe toét rồi quỳ rạp xuống, áp sát môi vào những thanh sắt của chuồng con Sam. Chú gà trống liền mổ lấy hạt bắp, còn Bob đứng chứng kiến màn biểu diễn ấy bắt đầu nhảy nhót vì ghen tị. "Cậu đừng bận tâm nhé, Bob," ông cụ đứng dậy, phủii đầu gối rồi nói. "Tao lạ gì mấy trò của mày. Mới cách đây không lâu tao cũng chìa cho mày một hạt thế này, và thề có Chúa là nếu mày không tung một cước vào mắt tao, và nếu tao không né kịp thì giờ này tao đã thành kẻ chột một mắt rồi. Mà họ đang gọi chúng ta ăn sáng kìa. Lúc nào cũng có chuyện chen ngang phá hứa niềm vui của đàn ông hết sức."
Alf chuẩn bị rất tỉ mỉ để cùng tôi đến nhà vị Tướng quân. Ngay dưới tán cây trong sân, cậu đặt một chiếc gương lên chiếc ghế tựa rồi ngồi đó cạo râu. Sau đó, cậu lên lầu mặc một bộ đồ chưa từng diện bao giờ, rồi chốc chốc tôi lại nghe thấy tiếng cậu gọi mẹ réo gọi tìm giúp những chiếc khuy áo và cà vạt bị để lẫn đâu mất. Cậu còn lớn tiếng bảo tôi đừng sốt ruột, rằng cậu đang cố gắng hết sức đây. Sốt ruột ư! Tôi đang ngồi ở khoảng hành lang, lưng tựa vào vách tường, và gần bậc thềm Guinea đang đứng, phóng tầm mắt nhìn xa xăm ra phía khe vực. Cô đã khoác lên mình bộ đồ bằng vải calico rực rỡ, in những bông hoa có cuống màu xanh dài, và tôi thầm nghĩ trong tất cả những chiếc váy mình từng thấy, đây là bộ trang phục đẹp và tôn dáng nhất. Cô nhè nhẹ ngân nga một điệu hát, rồi quay lại tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi ngồi đó; và biết đâu sự ngạc nhiên ấy là thật, bởi vì tôi đã chẳng gây ra chút tiếng động nào khi đặt chiếc ghế áp vào tường.
"Lẽ ra tôi không nên ngân nga một điệu nhảy vào ngày Chủ nhật," cô nói, bước lùi lại và đứng tựa lưng vào bức tường đối diện, hai tay để sau lưng.
"Tôi không hiểu sao ngày nghỉ lại làm cho âm nhạc trở thành điều xấu xa được nhỉ," tôi đáp.
"Bản thân ngày nghỉ thì không làm âm nhạc ra xấu xa," cô đáp lời. "Nhưng tôi thì không tài nào hát thành lời được. Thỉnh thoảng, khi không thể diễn đạt nổi những gì mình đang suy nghĩ, tôi lại ngân nga nó lên. Anh và Alf sẽ đi vắng bao lâu?"
"Bao lâu tùy ý cậu ấy," tôi trả lời. "Tôi đã quyết định sẽ không can thiệp vào độ dài chuyến đi của chúng tôi."
"Thế ra anh chỉ đơn giản là tòng mệnh để chiều theo ý cậu ta thôi ư. Anh chu đáo thật đấy. Mà lúc nào anh cũng dành nhiều sự quan tâm cho người khác thế à? Nếu đúng vậy thì sự kiên nhẫn của anh có lẽ sẽ bị thử thách ghê gớm nếu anh cứ ở lại đây đấy."
"Chịu đựng bất cứ thử thách nào giáng xuống lòng kiên nhẫn của chúng ta vốn là một đức tính," tôi nhận xét—hệt như một ông thầy giáo già ra điều đạo lý—và cô liền giơ hai tay lên, đan chéo sau gáy, nhìn tôi rồi bật cười, một tiếng cười du dương và trầm bổng. Vừa lúc ấy, Alf bước ra hành lang, ngó nghiêng ngắm nghía bộ trang phục của mình từ bên này sang bên khác; và tôi nhìn bộ quần áo mới của cậu với một nỗi lòng ghen tị chẳng khác nào tình thân máu mủ. Cậu cất lời xin lỗi vì đã để tôi phải chờ lâu, nhưng thú thật là tôi chẳng ngại gì mà không thể đứng đó chờ đợi hàng giờ liền, chỉ để ngắm nhìn dáng người uyển chuyển của thiếu nữ ấy đang đứng với hai đôi tay đan sau mái tóc nâu.
Quãng đường không quá xa nên chúng tôi quyết định đi bộ, và chúng tôi chọn một lối tắt băng qua đồng cỏ đang ánh lên sắc tím của mùa hoa sắp nở. Tôi bảo Alf rằng thoạt nhìn người ta có lẽ sẽ tưởng cậu là một vị khách lạ khi đến nhà Tướng quân, và cậu đáp: "Nghĩ theo mộth cách nào đó thì đúng là vậy. Quả thực tôi đã đến đó rất nhiều lần, nhưng lần nào cũng là để phụ giúp làm việc gì đó."
"Thế gia đình họ có vẻ cách biệt và khó gần lắm sao?" tôi hỏi.
"Ồ, họ thân thiện chẳng kém bất kỳ ai mà anh từng gặp đâu, nhưng dĩ nhiên là trong thâm tâm tôi vẫn tự động đặt họ ở một vị thế cao hơn hẳn mình. Lão Tướng quân dường như chẳng mảy may nhận ra rằng tôi đã trưởng thành; lúc nào ông ấy cũng nói chuyện với tôi như thể tôi vẫn là một đứa trẻ—luôn miệng hỏi dạo này bố làm gì và mấy chuyện đại loại thế. Chứ còn bố tôi làm gì thì ông ấy quan tâm quái gì cơ chứ."
"Còn tiểu thư thì sao? Cô ấy trò chuyện với cậu thế nào?" Cậu mất một lúc lâu mới trả lời tôi.
"Tôi đang cố nghĩ xem thế nào đây," cậu nói. "Nói thật với anh là tôi cũng chẳng biết cô ấy trò chuyện với mình ra sao nữa. Tôi chẳng thể nhớ nổi bất cứ điều gì cô ấy từng nói với tôi. Cô ấy gọi tôi là Alf còn tôi gọi cô ấy là Miss Millie, rồi chúng tôi cùng cười trừ trước mấy câu chuyện ngớ ngẩn nào đó, thế thôi là hết chuyện. Nhưng tôi biết chắc rằng ông cụ sẽ không bao giờ đồng ý cho tôi lấy cô ấy đâu. Ông ấy đang nhắm cho con bé những nơi cao sang lắm, nếu không thì đã chẳng tốn ngần ấy tiền cho nó đi ăn học."
"Nhưng dĩ nhiên là bản thân cô ấy cũng sẽ có chính kiến riêng chứ," tôi gợi ý.
"Tôi cũng chẳng rõ nữa," cậu đáp; "nhưng tôi đương nhiên là vẫn hy vọng thế. Anh chẳng thể nào đoán trước được phụ nữ đâu—ít ra là tôi thì không. Lão Tướng quân kết hôn khá muộn màng và chỉ có hai người con. Vợ ông ấy đã qua đời từ nhiều năm trước. Cậu con trai tên Chydister—hay đúng hơn là người đàn ông ấy, vì cậu ta xấp xỉ tuổi tôi—đang đi học xa ở một trường y. Cậu ta chẳng khiến tôi có cảm giác là một kẻ quá ư thông thái, nhưng người ta bảo chữ nghĩa của cậu ta thì cao vời vợi. Ông cụ bảo rằng sẽ đào tạo cậu ta thành vị bác sĩ giỏi nhất xứ này, nếu như các trường đại học có thể làm được điều đó, và tôi cho là họ làm được. Tôi và cậu ta vẫn luôn hòa hợp khá tốt; trước đây cậu ta từng hay lui tới nhà tôi chơi."
Chúng tôi lội qua con lạch bằng cách nhảy từ hòn đá này sang hòn đá khác, rồi tiếp tục đi dọc theo một hàng rào bằng những thanh gỗ mục nát phủ đầy dây leo. Từ vùng đất thấp bên kia văng vẳng tiếng "ộp oạp" của đàn bò khi chúng lội qua thảm cỏ ba lá mọc rậm rạp và đầy nhựa sống. Chúng tôi vượt qua một ngọn đồi nơi tọa lạc một khu "nhà ở của nô lệ" đã hoang phế—dấu tích mục nát của một thời dĩ vãng nay đã trôi dạt vào cõi mơ màng—và sau khi băng qua một thung lũng khác, chúng tôi chầm chậm bước lên triền đất tròn trịa có ngôi nhà của Tướng quân ngự trị trên đỉnh. Alf bắt đầu chùng chân lùi bước, và khi tôi dịu dàng tìm cách động viên, cậu liền thốt lên: "Nhưng anh phải nhớ rằng đây là lần đầu tiên tôi đến đây trong bộ đồ mới đấy nhé, và tôi nói cho anh hay, điều đó tạo ra sự khác biệt lớn lắm đấy."
"Tôi cũng đã lâu lắm rồi chưa đi đâu trong bộ quần áo mới," tôi đáp lại, câu nói khiến cậu bật cười; nhưng tiếng cười vui vẻ của cậu lập tức vụt tắt khi tôi vừa đẩy cánh cổng mở ra. Phía sau ngôi nhà, nơi khoảng đất thoai thoải hướng về phía vườn cây ăn trái, có một dãy nhà nhỏ—cũ kỹ nhưng không hề hoang phế, bởi vì có mấy đứa trẻ da đen đang đùa nghịch quanh hiên và từ đâu đó vọng ra âm thanh trầm đục của một giai điệu nửa tôn giáo, nửa hò vắt ngô. Một con chó già chồm dậy từ dưới gốc cây, nhưng rồi lười biếng nằm vật xuống lại vì thấy việc đứng lên quá nhọc nhằn; một con gà tây kêu cục tác vang lừng, một con công ré lên, và một lão già cao lớn, vạm vỡ bước ra ngoài hiên.
"Cứ tự nhiên bước vào đi," ông cất giọng gọi lớn, rồi ngoái đầu vào trong hành lang ra lệnh cho ai đó mang ra ba chiếc ghế. Và thậm chí khi chúng tôi còn chưa bước lên bậc thềm đá, mệnh lệnh ấy đã được một chú bé da đen thực hiện xong xuôi. "Rất vui được gặp cậu," ông nói khi Alf giới thiệu tôi. "Cậu đến để dạy học phảii không? Lão Perdue đã qua đây và kể cho tôi nghe về chuyện đó rồi. Ngồi xuống đi chứ. Dạo này bố cậu làm gì thế, Alf?"
"Hôm nay thì chẳng làm gì cả," Alf đáp, liếc nhìn tôi.
"Chắc vậy rồi. Mọi người trong nhà đều khỏe chứ? Nghe vậy thì tôi mừng," ông nói tiếp trước khi Alf kịp đáp lời. "Trời dạo này khá ẩm ướt, nhưng cũng đang khô ráo lại rồi."
Ông mặc chiếc áo choàng tắm thêu hình những quả bầu màu tím, đầu để trần và tôi chợt nghĩ chắc ông đang đội tóc giả, bởi vì mái tóc dày và xoăn tít lại ở phần gáy. Khuôn mặt cạo sạch râu của ông đầy đặn và đỏ lựng; đôi môi dày và khuôn miệng rộng. Tôi có thể nhận ra ông là một nhân vật có thế lực lớn, hiện thân cho tinh thần thống trị của miền Nam cũ, và những gì tôi từng đọc cho biết rằng tổ tiên dòng dõi của ông đã đến châu Mỹ với tư cách là chủ một đồn điền lớn ở Virginia.
"Henry!" Tướng quân cất tiếng gọi. "Mang tẩu thuốc lại đây cho ta. Henry!"
"Dạ con ra liền," một tiếng đáp vọng ra từ bên trong. Tẩu thuốc được mang tới, và sau khi được châm lửa bằng một viên than hồng mà chú bé Henry cầm trên lòng bàn tay, khéo léo tung qua tung lại từ bên này sang bên khác, Tướng quân rít vài hơi rồi quay sang nhìn tôi, hỏi xem tôi có thấy nghề dạy học là một công việc béo bở lắm không.
"Chuyện tiền nong đối với tôi chỉ là thứ yếu," tôi đáp. "Mục tiêu của tôi là trở thành một luật sư, và việc dạy học này chỉ là bước đệm để tôi tiến đến đích đó mà thôi."
Ông hắng giọng một tiếng thật to và rè rè. "Tôi nhớ," ông nói, "từng có một tay từ miền Bắc đến đây với cái ý tưởng y hệt như vậy. Hồi đó là trước chiến tranh. Chúng tôi cũng dựng cho hắn một lớp học, và thề có dòng bùn đen trong huyết mạch của lão Satan, chẳng bao lâu sau hắn lại đi gạ gẫm xúi giục bọn nô lệ bỏ trốn khỏi chúng tôi. Hồi ấy tôi có một chiếc đệm lông vũ không dùng đến, còn lão Mills ở đằng kia thì sẵn có một lượng nhựa đường hạng nhất trong tay, và khi chúng tôi xử lí xong vị quý ông đó thì trông hắn chẳng khác gì một nhà thám hiểm Bắc Cực cả. Cậu quê ở đâu thế, chàng trai trẻ?"
Tôi khai quê quán, và rồi ông lại hỏi: "Họ tên nghe được đấy, mà xứ sở đó cũng tốt. Anh cả tôi từng quen một Đại úy Hawes trong cuộc chiến tranh chống người da đỏ Creek."
"Đó là ông nội tôi," tôi đáp. Ông nhìn tôi, vẫn ngậm tẩu thuốc trên môi, rồi bảo: "Thế thì, chàng trai ạ, tôi thực sự rất vui được đón tiếp cậu. Này Alf, bố cậu dạo này làm gì thế?"
"Dạ không làm gì cả thưa bác; hôm nay là Chủ nhật mà," Alf đáp, mặt đỏ bừng. Lão Tướng quân nhìn cậu, hắng giọng rồi nói: "Ừ nhỉ, phải rồi. Mọi người trong nhà đều khỏe cả chứ?"
Tôi nghe tiếng cửa mở rồi khép lại, và tôi thấy Alf cựa quậy, y hệt như cách bố cậu từng cử động khi bất ngờ chạm trán tôi ngoài đường cái. Tôi nghe thấy những bước chân nhẹ nhàng vang lên trong hành lang, rồi một cô gái bước ra. Cô mỉm cười gật đầu chào Alf và Tướng quân giới thiệu tôi với cô. Alf đứng phắt dậy, suýt ngã nhào khỏi ghế và luống cuống mời cô ngồi xuống.
"Ơ không, cứ ngồi đấy đi," cô nói. "Tôi ở lại chừng một phút thôi mà." Cô bước đến một chiếc cột, tựa người vào đó, rồi quay đầu nhìn lại chúng tôi. Trên tóc cô cài một bông hoa, và tay cầm một nụ hoa mộc lan rừng. Người cô hơi nhỏ nhắn, mang một vẻ đẹp có chút hờn dỗi, nhưng tôi cho rằng cô chẳng thể so sánh được với Guinea, mặc cho Alf có ngợi khen cô ta đến mức nào đi nữa. Má cô lúm đồng tiền, và bản thân cô thừa biết lợi thế đó nên cứ hễ ai nói gì là cô lại mỉm cười, thậm chí chẳng ai nói gì cô cũng mỉm cười với sự tĩnh lặng xung quanh.
"Alf này, dạo này Guinea thế nào rồi?" cô hỏi. "Có lẽ đã lâu lắm rồi tôi chưa gặp lại con bé."
"Chắc là từ lần con bé sang đây chơi lần trước," Alf đáp.
"Hèm... m..." một tiếng động phát ra từ cổ họng Tướng quân. "Rồi có ngày hai người sẽ ngồi đong từng bữa ăn của nhau chẳng khác gì bọn người Yankee cho mà xem," ông nói. "Sao mấy người cứ thích trò đùa nhảm nhí ấy nhỉ; muốn gặp nhau thì cứ qua mà thăm viếng. Tôi không biết cậu nghĩ thế nào về vấn đề này, thưa anh bạn trẻ," ông vừa nói vừa quay sang tôi, "chứ tôi chẳng thấy cái gọi là hệ thống trường học công lập này có chút ích lợi gì cả. Và trong số những thứ vô tích sự trên đời này, thì tệ nhất chính là một tên da đen vừa vớ vẩn nhặt nhạnh được dăm chữ nghĩa học đòi làm sang. Chúa mới biết bản tính hắn đã vốn lười biếng vô tích sự rồi, nhưng hễ cứ dạy cho hắn biết đọc thì hắn lại càng trở nên vô dụng triệt để. Cách đây ít lâu, tôi sai một tên nô lệ ra bưu điện, thế mà hắn ung dung cưỡi ngựa đọc nghêu ngao cả tờ báo trải rộng trước mặt trên đường về. Nếu không vì có con bé Millie ngăn lại thì tôi đã lột da hắn ra rồi."
"Nó có biết gì đâu cơ chứ," cô tiểu thư cất giọng bênh vực. "Tội nghiệp nó, bố làm nó sợ muốn chết khiếp."
"Ừ, và tôi ngay lập tức tặng hắn chiếc áo khoác đẹp nhất của mình để chuộc lỗi, không phải với nó, mà là với lương tâm tôi," ông cụ nói. "Nhưng tôi vẫn giữ quan điểm rằng nếu một kẻ da đen, hay bất cứ ai khác đi nữa, đã sinh ra để làm đầy tớ thì cứ làm cho tròn vai đầy tớ đi. Tôi chẳng cần một tên cày thuê cho mình chỉ vì hắn biết đọc biết viết. Chết tiệt thật, tôi thèm quan tâm xem hắn có biết đọc hay không chứ lị. Tôi chỉ cần hắn biết cày bừa. Còn khi tôi chọn bạn bè thì đó lại là chuyện khác hẳn. Hôm nay bố cậu có đi nhà thờ không đấy, Alf?"
"Dạ cháu không rõ thưa bác," Alf đáp, ngượng nghịu nhích người trên ghế, rồi vì quá bối rối cậu lại chồm dậy lắp bắp mời cô gái ngồi.
"Này, cái trò lôi thôi lếch thếch và ngớ ngẩn gì thế này," Tướng quân hỏi, ánh mắt đảo qua đảo lại giữa cô con gái và Alf. "Ôi chao là chúa quỷ, có mỗi cái ghế mà cũng phải làm rùm beng lên thế cơ à. Trong nhà kia thiếu gì năm mươi cái ghế."
Alf lủi thủi ngồi thụp xuống và cô gái bật cười nức nở với một vẻ chân thành đến mức tôi bỗng có thiện cảm hơn với cô rất nhiều, dẫu vậy tôi vẫn cho rằng cô chẳng thể nào sánh được với Guinea. Tướng quân hét lớn gọi Henry mang ra một viên than hồng khác, và khi tẩu thuốc đã được châm lửa lại, ông quay sang tôi và nói: "Cậu không còn thấy bang North State cũ kỹ này như trước nữa rồi phải không, chàng trai. Chà Chúa ơi, biết bao sự lụi tàn đã diễn ra trên cõi đời này kể từ khi tôi còn nhớ được. Thế mà người ta vẫn cứ bảo chúng ta đang ngày càng văn minh hơn đấy. Chết tiệt thật, cậu có gọi cảnh tượng hàng trăm thửa ruộng bị bỏ hoang mọc đầy bụi hồng gai cùng cỏ tranh là văn minh không hả? Nhìn kìa," ông nói thêm, vừa hua hua tay chỉ về phía xa. "Tôi đã từng chứng kiến thời kỳ nơi đó tựa như một khu vườn vậy. Cậu muốn gì?" Câu nói sau được gắt lên với chú bé da đen vừa thình lình xuất hiện.
"Bữa tối ư? Ừ đúng rồi, phải đấy. Nào, ông Hawes, và cả cậu nữa, Alf. Lối này. Tránh ra mau!" Một con chó vừa lủi đi ngang giữa ông và khung cửa. "Lũ chó chết tiệt này sắp chiếm mất cả cái nhà này đến nơi rồi, mà con nào con nấy vô tích sự chẳng nên trò trống gì. Chỉ giỏi rúc xó nằm ì ở đây để mặc cho thỏ tha hồ ăn trụi cả dây đậu. Ngay cả loài chó cũng đã thoái hóa theo tất cả mọi thứ khác rồi còn đâu."
Tôi đi bên cạnh Tướng quân, và khi ngoái đầu nhìn lại, tôi lấy làm hài lòng khi thấy Alf đã gom đủ can đảm để bước theo sát bên cạnh cô gái. Chúng tôi được dẫn vào một phòng ăn dài thườn thượt với phần trần nhà cao lồng lộng. Ngôi nhà này đã được xây dựng từ một thời đại huy hoàng xa xưa, và xung quanh mình, tôi nhận ra một vẻ đẹp đài các nhưng nay đã phôi pha, mờ ảo. Tướng quân ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống, và tôi nhận thấy giọng điệu của ông đã dịu đi phần nào. Ông lầm rầm đọc lời cầu nguyện trên một khoanh thịt cừu lớn, rồi mỉm cười thật rộng với tôi, bảo rằng ông rất hân hạnh được chào đón tôi đến mâm cơm của gia đình. "Nghề nhà giáo," ông nói, "chính là thứ gọt giũa và tinh luyện đi những nét thô kệch bẩm sinh của chúng ta. Phải, thưa cậu, cậu đang gánh vác một trọng trách lớn lao, một công việc mà cậu hoàn toàn có thể tự hào. Giả sử nền giáo dục được phổ biến sâu rộng hơn, giả sử người dân ở cả hai miền Nam Bắc thấu hiểu nhau hơn, thì đã chẳng có cuộc chia rẽ đẫm máu nào xảy ra. Giờ đây, thưa các vị, tôi xin mời các vị cứ tự nhiên dùng bữa, và hãy nhớ rằng tất cả những gì tôi có đều sẵn sàng thuộc về các vị. Khi tuổi già sầm sập kéo đến, chẳng có gì truyền cảm hứng bằng việc nhìn thấy những gương mặt trẻ trung, vồ vập quây quần bên chúng ta. Và đó chính là cách sưởi ấm cho buổi hoàng hôn của cuộc đời. Henry, chuyền bánh mì cho Mr. Jucklin đi, và cả đậu nữa, món đậu sớm nhất của mùa vụ muộn màng này đấy, tôi đảm bảo với cậu đấy. Mr. Hawes, cậu còn nhớ dung nhan của người ông kính yêu của mình không?"
"Thưa Tướng quân, không ạ; ông tôi đã qua đời từ rất nhiều năm trước khi tôi kịp nhớ mặt."
"Thật đáng tiếc làm sao, bởi vì còn gì kích thích hoài bão của chúng ta hơn việc gợi nhắc về diện mạo của một người họ hàng lừng lẫy cơ chứ. Cậu dùng một ít xà lách này nhé, Mr. Hawes? Một món ăn dịu mát, giúp tâm hồn thư thái. Con gái ta, ta phải đề nghị con cứ tự nhiên dùng bữa đi chứ. Thời tiết hôm nay thật tuyệt vời phải không Mr. Hawes, mang theo cả nhựa sống và niềm hy vọng ngập tràn trong không khí."
Thái độ của ông đã thay đổi hoàn toàn biết bao. Đôi mắt từng có vẻ lạnh lùng và sắc bén lúc ông phất tay nhìn ra cánh đồng cỏ úa vàng giờ đây đang rực sáng một thứ ánh ánh dịu dàng thân thiện, và giọng nói vốn dĩ thô ráp, cộc cằn trong suy nghĩ của tôi giờ đây lại rung lên những nốt nhạc đồng cảm đầy phấn khích. Alf, được khích lệ bởi sự tiếp đón nồng hậu của ông cụ, liền thì thầm vài câu với cô gái ngồi bên cạnh, và cô mỉm cười gật đầu, nhưng vẫn một lòng hướng cái tai chăm chú lắng nghe câu chuyện quen thuộc của người cha.
Sau bữa trưa, chúng tôi được dẫn vào phòng đọc sách, nơi lưu trữ rất nhiều sách luật, và Tướng quân, bắt gặp cái nhìn thèm thuồng mà tôi hướng về phía những kệ sách ấy, bèn quay người lại với vẻ bề trên đầy quyến rũ, cúi đầu nói:
"Cậu đã bày tỏ quyết tâm muốn tìm hiểu về luật pháp và thao luyện những mưu chước trong logic của nó; vì thế, nếu cậu chưa tìm được chỗ nào tốt hơn, tôi cầu xin cậu, hãy chọn căn phòng này làm văn phòng của mình, thưa chàng trai."
Mắt Alf trợn tròn lên trước lời đề nghị này, chắc hẳn trong thâm tâm cậu đang xem tôi là kẻ may mắn nhất trên đời này, và bằng sự bộc trực nhà quê của mình, tôi thốt lên: "Ông là người tốt bụng nhất mà cháu từng thấy."
Chúng tôi đã trò chuyện trong căn phòng này suốt hai tiếng đồng hồ hoặc hơn thế, và buổi chiều—hay người miền Nam chúng tôi vẫn gọi là buổi tối—đã ngả về khuya khi tôi tuyên bố rằng đã đến lúc chúng tôi phải lên đường. Alf ngước lên với vẻ ngạc nhiên, và với một giọng điệu đầy nài nỉ xót xa, cậu hỏi liệu có quá muộn lắm không. Tôi hoàn toàn có thể nói cho cậu biết chính xác giờ giấc, nhưng lại ngần ngại không dám lôi chiếc đồng hồ của ông nội ra—sợ rằng Tướng quân và con gái ông sẽ nghĩ rằng tôi đang cố ra oai khoe mẽ, thế nên tôi chỉ đơn giản nói: "Đúng vậy, đã đến lúc chúng ta phải đi rồi."
"Các cậu đừng vội vã thế chứ," Tướng quân phản đối; "đừng để một chút chuyện vặt vãnh mà cướp mất niềm vui được tiếp chuyện các cậu chứ."
Alf có vẻ chần chừ muốn nán lại, nhưng tôi kiên quyết giục giã, thế là chúng tôi đành chào từ biệt. Ông cụ theo chúng tôi ra tận hiên nhà. "Henry!" ông hét lớn, quay ngoắt người lại, "đứa nào quỷ tha ma bắt dám để mở cánh cổng kia thế hả? Ra đóng lại ngay đi, cái đồ khốn lười nhác này. Lũ người mới đến khốn kiếp ở mãi tận bờ lạch cứ coi đất của tao như đường cái quan không bằng. Tao mà không ném đầy bi vào người từng đứa một thì tao thề sẽ treo ngược cổ lên cho mà xem."
"Tôi sẽ không bao giờ quên anh đâu," Alf lên tiếng khi chúng tôi rảo bước trên con đường mòn đi xuống đồng cỏ. "Anh đã hết lòng vực tôi dậy, và anh cứ tin đi, tôi không bao giờ quên những ơn nghĩa kiểu đó đâu. Dĩ nhiên là tôi biết lão già ấy từ thủa bé đến giờ, nhưng chưa bao giờ ông ấy đối xử với tôi tử tế nhường này. Và khi thời cơ đến, nếu tôi có thể tóm được ông ấy trong phòng ăn đó, tôi tin chắc ông ấy sẽ không từ chối tôi đâu. Thật tiếc đứt ruột vì tôi không biết ăn nói khéo léo như anh, nhưng anh cứ ở bên tôi đi, rồi dần dà tôi cũng sẽ ăn nói trôi chảy cho mà xem."
"Ờ, tôi sẽ ở bên cậu," tôi đáp, "nhưng tôi chẳng thấy mình ăn nói có gì gọi là ghê gớm cả. Tôi vừa thấy mình ngốc nghếch y như một con lừa vậy. Thế cô tiểu thư nói gì với cậu thế? Hai người trò chuyện có vẻ thân mật lắm cơ mà bên khung cửa sổ ấy."
"Thề có chúa cứu mạng, tôi chẳng tài nào nhớ nổi cô ấy đã nói gì nữa Bill ạ, nhưng tôi biết chắc rằng từng lời cô ấy thốt ra ngọt ngào tựa mật rót. Tôi sẵn sàng đổi cả sinh mạng này để được ôm cô ấy vào lòng và siết chặt lấy dù chỉ một lần duy nhất. Anh đã bao giờ có cảm giác như thế với một cô gái chưa?"
Tôi cũng đang bắt đầu có đúng cái cảm giác y hệt như thế, nhưng tôi bảo là chưa, nghe vậy cậu liền tiếp lời: "Nhưng rồi có ngày anh cũng sẽ thế thôi, và hễ khi nào điều đó xảy ra, cứ gọi tôi giúp một tay, tôi sẵn sàng làm liền, chẳng cần biết cô gái ấy là ai hay gia thế cao sang cỡ nào. Đã bao nhiêu đêm tôi nằm trên giường và ước gì Millie đang đi một mình trên con đường vắng và có chừng ba gã nào đó lao ra giở trò trêu ghẹo cô ấy, chỉ để tôi có dịp nhảy bổ ra và quét sạch chúng khỏi mặt đất này. Tôi tuy không to con bằng anh, nhưng vì cô ấy, tôi dám cá là mình có thể hạ gục bất cứ ba tên côn đồ nào mà anh từng thấy. Nhân tiện đây, đừng bao giờ nhắc đến tên Millie ở nhà nhé. Mọi người ở đó vẫn chưa biết chuyện tôi đang say đắm cô ấy đâu. Có một điều kiện đang đứng về phía tôi đấy."
"Chuyện gì thế?" tôi hỏi. Cậu ngước nhìn tôi nhưng im lặng, và vì quá tò mò trước thái độ của cậu, tôi vừa định lặp lại câu hỏi thì cậu đã ngắt lời: "Tôi chưa được phép nói ra điều đó lúc này. Anh cũng nhận thấy là Guinea có học thức hơn tôi đúng không. Ầy, học thức của cô ấy có liên quan đến điểm tựa lợi thế của tôi, nhưng tôi lỡ lời nói quá nhiều rồi, chúng ta nên dẹp chủ đề này ở đây thôi."
Tôi đang vô cùng tò mò muốn biết thêm sự tình, bởi vì tôi chợt nhớ lại sự thay đổi thái độ của ông Jucklin vào thời điểm ông nhắc đến chuyện cho con gái đi học xa ở trường nội trú, và tôi cứ nghiền ngẫm mãi điều này trong đầu, thì Alf bỗng nói: "Có một gã thanh niên tên là Dan Stuart thường xuyên đến thăm Millie, và tôi không rõ cô ấy để tâm đến hắn cỡ nào, nhưng gia thế của nhà hắn toàn những kẻ máu mặt, điều đó có thể tạo lợi thế cho hắn. Bác sĩ Etheredge ở ngoài kia chính là họ hàng của hắn, và lão Etheredge từng là chủ của ngót nghét một trăm rưỡi nô lệ đấy. Nhưng đến khi cô gái ấy đứng trước bái đường để kết hôn với bất kỳ kẻ nào khác, họ sẽ thấy tôi xuất hiện ở đó để giơ cao tấm biển phản đối của mình cho mà xem."
Khi chúng tôi về đến nhà, tôi thấy Guinea đang ngồi đọc sách dưới gốc cây, và tôi vừa định bước đến gần cô thì ông cụ cất tiếng gọi tôi. Ngó quanh quẩn, tôi thấy ông đang đứng ở đầu hồi nhà, ra hiệu bảo tôi lại gần. "Ta muốn gặp cậu một lát," ông nói khi tôi bước đến bên. Tôi tự hỏi không biết liệu ông có định lôi tôi đi xem đàn gà của mình nữa không, và tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy ông dẫn mình đi theo hướng ngược lại. Ông ngoái lại nhìn xem chúng tôi đã đi đủ xa chưa, rồi xích lại gần tôi hơn và bảo: "Đây là cách mà ta từng làm nhục lão."
"Làm nhục ai cơ ạ?" tôi hỏi, chẳng mấy vui vẻ gì khi bị bắt phải rời xa cô gái.
"Trị hắn ấy, lão Tướng quân kìa. Lão cứ khăng khăng cáo buộc lũ lợn nhà ta sục sạo vào ruộng nhà lão, và tôi bảo rằng tôi chẳng có hứng thú nhốt lợn của mình lại trong khi lợn của tất cả thiên hạ ngoài kia vẫn đang rông rỗi ngoài đồng, thế là lão mắng tôi là đồ khốn và chúng tôi lao vào xô xát. Tôi tung đòn nhanh đến mức lão chẳng kịp trở tay, tôi chơi một đòn khóa ngoắc hiểm hóc thế là lão ngã kịch sàn, nằm ngay đơ giữa đường cái quan. Và thế là tôi chồm lên người đè nghiến lấy lão. Lão chẳng hé răng nửa lời trong suốt lúc tôi đang vật lộn cho nhừ tử, nhưng khi tôi vừa buông tay cho lão đứng dậy, lão đảo mắt nhìn quanh một vòng rồi nói: 'Lim Jucklin ạ, nếu tao mà nghĩ có kẻ nào đang chứng kiến cảnh này thì tao đã giết quách mày ngay tại chỗ này rồi. Mày là kẻ đầu tiên dám vật ngã một thành viên nhà Lundsford mà vẫn còn sống nhăn răng thế này, và sự mới mẻ đó khiến tao thấy có chút buồn cười. Mày biết thừa là tao chẳng ngán con quỷ nào cả, cứ giữ chặt cái miệng của mày về vụ này đi, rồi chúng ta sẽ cho chìm xuồng luôn.' Và lão nói câu nào là giữ đúng ý câu đó, tôi cũng ngậm chặt miệng thật, không phải vì tôi sợ lão trả thù đâu, mà vì tôi thấy tiếc cho sĩ diện của lão. Cậu từng nghe danh John Mortimer Lacey bao giờ chưa? Chà, ngay sau vụ đó hắn và Lundsford đã thách đấu tay đôi với nhau và Lacey bỏ sang New Orleans rồi chết ở trỏng. Thế nên, đừng có ho loe hé răng gì về chuyện này đấy."
"Về chuyện gì cơ ạ? Chuyện Lacey sang New Orleans rồi chết ở đó ấy ạ?"
"Không, quỷ tha ma bắt cậu đi, chuyện tôi vật ngã lão Tướng quân ấy."
"Cháu sẽ không nói đâu," tôi đáp, rồi tiện thể định khơi gợi lại một thắc mắc đang bám chặt lấy tâm trí mình. "Nhân tiện, ông vừa nhắc đến chuyện gửi con gái đi học ở Raleigh——"
"Quỷ tha ma bắt cậu! Thôi được, chuyện đó thì có quái gì liên quan đến cậu hay bất kỳ ai khác cơ chứ? Tôi sẽ—cậu thứ lỗi cho tôi nhé, chàng trai," ông nhanh chóng nói thêm, cúi đầu chào. "Đầu óc tôi dạo này đôi lúc cứ chập cấn thế nào ấy. Nó mổ thẳng vào mắt tôi đấy, thế mà nếu tôi không né kịp thì giờ này tôi đã thành chột một mắt rồi—thề có danh dự là thế đấy. Thôi nào, chúng ta hãy dẹp cái vụ vật lộn kia lẫn cái chuyện rách việc kia sang một bên, không nhắc lại nữa nhé. Chẳng hiểu sao lúc đầu tôi lại lỡ mồm nói ra cơ chứ, chắc tại lúc ấy đầu óc tôi không được mẫn tuấn cho lắm. Cậu bỏ qua cho cái tính cục cằn hay cáu bẳn của tôi nhé? Giờ thì quay lại đằng kia đi, tiếp tục bàn chuyện sách vở của cậu đi."
"Cháu mới là người phải xin lỗi mới đúng, thưa ông Jucklin. Lẽ ra cháu phải biết điều hơn chứ không nên chõ mũi vào chuyện chẳng dính dáng gì đến mình. Chắc trong con người cháu vẫn còn vương vấn nhiều phần thú tính lắm, và cháu có cảm giác như mình dành gần nửa cuộc đời chỉ để hối hận về những gì đã trót làm ở nửa cuộc đời còn lại."
"Chà, Chúa phù hộ cho tâm hồn cậu, chàng trai, cậu đã làm quái gì sai đâu chứ. Nhưng cậu khiến tôi thấy gần gũi hơn hẳn khi thốt lên những lời ăn năn đó đấy. Tôi đã dành gần trọn cuộc đời mình trong cái tình cảnh ná ná như thế. Sau khi cậu sống ở vùng này đủ lâu, cậu sẽ nghe đồn rằng lão Lim từng thượng cẳng chân hạ cẳng tay trong không biết bao nhiêu trận chiến, nhưng cậu sẽ chẳng bao giờ nghe thấy chuyện có ai từng đánh bại được lão cả. Tuy nhiên, có thể cậu sẽ nghe thấy giai thoại rằng lão từng phi ngựa suốt hai mươi dặm trời lạnh giá chỉ để đến tận nơi cầu xin sự tha thứ của một gã mà lão vừa nện cho nhừ tử. Nào, chúng ta hãy bắt tay nhau ngay tại đây, và nếu cậu gật đầu một tiếng, chúng ta sẽ đi ngay lập tức và cho lũ gà ấy chiến nhau một trận ra trò. À không, hôm nay là Chủ nhật cơ mà. Từ trang bìa đến trang bìa, hiểu chứ. Giờ thì xéo về đằng kia đi nào."
Tôi ngồi cùng Guinea và ngắm nhìn mặt trời khuất dần sau ngọn đồi vàng vọt bị xói mòn. Từ đằng xa tít tắp ở đầu này đến đầu kia thung lũng, văng vẳng tiếng gọi heo ăn chiều cô độc "pig-oo-ee!" của những người nông dân. Chúng tôi nghe thấy tiếng vỗ cánh lạch bạch của đàn gà bay lên chuồng, và những con diều hâu đêm cũng nghe thấy âm thanh ấy, bởi tiếng kêu đói khát, sắc bén của chúng xé toạc bầu không khí tĩnh mịch. Trên một mỏm đá nhẵn nhụi sát rìa khe vực, người anh trai của cô đang đứng, hai tay khoanh trước ngực, phóng tầm mắt ngắm nhìn vùng đất thấp đang chìm dần vào bóng tối, và từ trong ngôi nhà, nơi bà Jucklin ngồi một mình, văng vẳng một giai điệu đượm buồn: "Lạy Chúa, nguồn suối muôn ơn phước."
Đôi mắt cô gái ngước lên bầu trời. "Mỗi buổi chiều buông xuống đều mang theo một điều bí ẩn mới," cô nói. "Chúng ta cứ ngỡ mình biết trước điều gì sẽ xảy ra, nhưng khi chiều tà đến, mọi thứ lại khác hẳn so với ngày hôm qua."
"Và chính nhờ thế mà chúng ta mới có thể tồn tại mà không cảm thấy chán ngấy thế gian này cũng như chán ghét chính bản thân mình," tôi đáp lời. "Tôi chỉ ước mình xuất hiện tựa như buổi chiều tà ấy—mang theo một điều bí ẩn," tôi nói thêm.
Tôi nghe tiếng cười khúc khích như tiếng nhạc của cô và ngay cả trong chập choạng hoàng hôn, tôi vẫn nhận ra ánh rạng ngời từ nụ cười ấy. "Nhưng sao anh lại muốn xuất hiện cùng với một điều bí ẩn cơ chứ?" cô hỏi.
"Để khơi gợi sự tò mò và quan tâm từ những người xung quanh. Ngay cả một con chó hoang tha thẩn đôi khi còn thú vị hơn một chú chó cưng được bảo đảm bởi gia thế của chủ nhân nó. Tôi chưa từng gặp một kẻ bán hàng rong dạo nào mà không khao khát muốn biết về cuộc đời hắn, những cảm xúc, hay những biến cố nào đã đẩy hắn trôi dạt vào cõi vô định, thế nhưng tôi chẳng thể tìm thấy sự hứng thú đó ở một kẻ mà tôi đã tường tận mọi ngóc ngách."
Cô lại bật cười. "Thế anh không giắt lưng lấy một chút bí ẩn cỏn con nào gắn liền với cuộc đời mình hay sao?" cô hỏi.
"Không một chút nào. Tôi đã vùi đầu đọc sách để leo lên cái vị trí cao hơn bác nông dân cày cấy dăm bậc, chỉ có thế thôi. Nếu có chiến tranh, tôi sẽ làm lính trận, nhưng vì thời bình đang yên ả, tôi chọn con đường trở thành luật sư."
"Hẳn là sẽ tuyệt lắm khi được đứng trước công chúng và hùng biện," cô nói. "Nhưng chẳng lẽ anh không thích làm bác sĩ hơn sao?"
Tôi chẳng hiểu sao mình lại thốt ra điều đó, nhưng tôi đáp rằng tôi căm ghét bác sĩ, và cô không hề cười cợt trước câu nói này mà chỉ im lặng. Tôi chờ đợi cô nói gì đó, nhưng cô không thốt thêm một nửa lời. Trời lúc này đã sẩm tối, và tôi chỉ còn lờ mờ nhận ra bóng dáng Alf đang đứng sừng sững trên mỏm đá. Tiếng hát trong nhà đã ngưng bặt.
"Thực ra ý tôi không phải là căm ghét các bác sĩ," tôi nói, tìm cách chữa cháy nếu chẳng may mình vừa lỡ lời; và cô điềm nhiên đáp: "Ồ." "Ý tôi là tôi không muốn hành nghề y," tôi nói thêm, và cô lại đáp gọn lỏn: "Ồ." Một ngọn đèn đã được thắp sáng trong phòng khách, và chúng tôi bước vào đó để hội ngộ cùng lão Lim và vợ ông, những người đang hăng say tranh luận về một vấn đề tôn giáo. Sách Thánh đã dạy rằng bất cứ việc gì tay người làm được thì hãy làm cho trọn vẹn, và vì thế ông cho rằng việc làm hầu như bất cứ chuyện gì vào ngày Chủ nhật cũng đều là đúng đắn cả.
"Kể cả việc tổ chức chọi gà nữa chắc?" vợ ông hỏi.
"Ồ, tôi thừa biết mụ đang nhắm đến điều gì rồi. Biết tỏng từ lúc mụ còn đang vòng vo tam quốc cơ. Khi một người phụ nữ bắt đầu giở trò vòng vo, thì Mr. Hawes ạ, đó là lúc phải đề cao cảnh giác rồi đấy. Vừa nãy tôi bước vào phòng là tôi biết ngay mụ vợ nhà tôi ở đây chuẩn bị quy tội tôi lai rai vài hiệp với Sam và Bob rồi, nhưng xin thề danh dự với cậu là tôi không hề làm thế. Chỉ ghé vào chào hỏi dăm câu với chúng nó thôi mà. Đàn ông có quyền trò chuyện với bạn bè chứ nhỉ; còn nếu không được phép nữa, thì thôi, dẹp tiệm đóng cửa cho rồi."
Alf bước vào và cùng Guinea cất tiếng hát một bài ca cổ, trong khi người cha ngồi đó với những giọt nước mắt lấp lánh khóe mi. Ông nhoài người sang, và tôi nghe thấy ông thì thầm với vợ: "Anh có lai rai nhẹ nhàng một hiệp với chúng nó thật đấy Susan ạ, và anh hy vọng em và Chúa sẽ tha thứ cho anh chuyện này. Nếu em tha thứ thì anh biết Chúa cũng sẽ rộng lượng thôi. Anh quả là một tay nói dối già đời, Susan ạ."
"Không, mình không phải là kẻ nói dối, Lemuel," cô đáp bằng một giọng trầm ấm. "Mình là người đàn ông tuyệt vời nhất trên đời này, và tất cả mọi người đều yêu mến mình."
Tôi nhìn thấy ông siết chặt bàn tay nhăn nheo ấy.
Tôi không sao tài nào chợp mắt được, cứ trằn trọc trong một nỗi bứt rứt lạ kỳ. Alf đang mơ màng nói sảng trong giấc ngủ. Tôi trở dậy, ngồi thừ ra bên cửa sổ một lúc, phóng tầm mắt nhìn ra hướng ngọn đồi xói mòn nơi ánh mặt trời vừa tắt ngấm. Ngày mai công việc của tôi sẽ chính thức bắt đầu. Và kết quả sẽ đi về đâu? Liệu định mệnh sắp đặt để tôi bước lên bục vinh quang của nghề biện hộ, hay tôi chỉ được liệt tên vào kiếp đời của một ông giáo làng nghèo? Phải chăng tình yêu của tôi dành cho cô gái ấy mới mẻ đến độ làm tôi loá mắt? Không, giờ đây nó đã biến thành một thứ ái tình đau đớn và rát bỏng. Nhưng tại sao lại thế? Chỉ vì một từ cụt lủn ấy thôi ư: "Ồ." Tôi mặc quần áo vào, nhón chân rón rén bước xuống lầu và thẩn thơ đi dạo quanh sân. Trăng tròn vành vọtvành vọt, treo là đà sát ngọn những khóm sồi lùn. Một dải ánh sáng lấp lánh trải dài hướng về phía con suối, và tôi chậm rãi bước qua đó. Tôi nghe tiếng nước róc rách tuôn trào từ dưới căn nhà suối lợp đầy rêu phong, và tôi thấy những bóng lá đan xen nhảy múa chập chờn trên những phiến đá phẳng lì. Tôi đứng đó ngẩn ngơ ngắm nhìn những bức tranh thiên nhiên, lắng nghe bản hòa ca của nước; rồi quay gót trở về nhà, đi được một quãng thì tình cờ ngước nhìn lên, và ngay lập tức, toàn thân run lên bắn, tôi chậm rãi khuỵu gối xuống. Tại một trong những ô cửa sổ lớn ở đầu phía đông bắc của ngôi nhà, Guinea đang đứng đó, khoác chiếc áo choàng trắng buông hờ, ánh trăng rọi thẳng vào người cô. Hai tay cô đan chéo sau đầu, đứng lặng thinh tựa như một thánh giá bằng cẩm thạch. Gương mặt cô ngước lên cao, và vầng trăng vàng vọt đang nhuộm màu đồng cho mái tóc nâu của cô—trông cô hệt như một cây thánh giá bằng ngọc ngà được tô điểm vương miện vàng rực rỡ, tôi thầm nghĩ và thành kính sụp lạy. Trán tôi chạm xuống lối đi, và khi tôi ngẩng đầu lên—cây thánh giá đã biến mất.