Tôi đến thị trấn mỗi ngày, và mỗi tối lại trở về trong lòng tràn ngập hy vọng; giờ đây, phiên tòa đã cận kề. Khi công đoạn chọn bồi thẩm đoàn bắt đầu, lão Conkwright đã có mặt cùng những lá đơn bác bỏ của mình. Lão mới sắc sảo làm sao, đôi mắt mới tinh anh làm sao. Và khi màn đêm buông xuống, danh sách bồi thẩm đoàn vẫn hãy còn lâu mới hoàn tất.
"Cứ đà này thì mất khối thời gian đây," tôi nói khi chúng tôi rời phòng xử án.
"Mặc xát nó, dẫu có mất cả ngàn năm; chúng đừng hòng tròng một con cóc nhồi vào cổ phiếu của tôi," cựu thẩm phán đáp. "Cậu có để ý gã cổ dài kia không? Chúng đã dắt mũi được hắn ta rồi, và tôi biết thừa điều đó. Tôi không hoàn toàn yên tâm về gã lùn mà chúng ta đang có, nhưng hy vọng hắn đủ bản lĩnh để giữ mình liêm khiết. Chẳng có nơi đâu lắm mưu mô mẹo mực cho bằng một vụ án mạng ở cái xứ này. Thôi nào, chúng đã tung ra những kẻ tệ hại nhất, và tôi nghĩ ngày mai chúng ta sẽ có chất liệu khá hơn."
Và quả nhiên là thế, bởi bồi thẩm đoàn đã tuyên thệ nhậm chức vào chiều hôm sau. Lời khai ngắn gọn và trực diện đến mức các nhân chứng quá ít ỏi khiến phiên tòa chẳng thể kéo dài; khi tôi đem điều này ra làm nhận định lúc về nhà, hai cụ già vô cùng mừng rỡ, vì họ tuyên bố rằng nó rút ngắn khoảng thời gian đứa con trai vắng nhà. Vào ngày ấn định để mở màn phần tranh tụng, hàng trăm nông dân đã gác lại đồng áng để cưỡi ngựa lên thị trấn, bởi người miền Nam vốn chuộng những bài diễn văn đầy cảm xúc, và tòa án vẫn luôn là sân khấu của họ.
Cụ ông đi bộ cùng tôi một đoạn đường, nhưng dừng lại trước khi tới nơi Stuart từng bị phơi thây.
"Thôi," ông vừa nói vừa quay đầu trở lại, "tôi đoán hôm nay là kết thúc. Ít nhất thì họ cũng sẽ giao vụ việc cho bồi thẩm đoàn, và chắc chẳng mất nhiều thời gian sau những gì vị thẩm phán vừa dặn dò họ đâu. Tôi cảm thấy mọi chuyện sẽ ổn cả thôi. Cậu không nghĩ vậy à?"
Sự thật là tôi không nghĩ thế, nhưng sự tử tế thì không phải lúc nào cũng đi liền với sự thật; thế là tôi đáp: "Mọi thứ đều có vẻ là như vậy. Conkwright sắc bén như gai nhọn và lão sẽ bám riết lấy chúng từ đầu đến cuối."
"Chà chà, nói lại câu ấy xem nào. Thế thì chuẩn không cần chỉnh rồi, ha? Cứ ở lại đó cho đến khi họ xong việc, và cậu sẽ thấy chúng tôi chờ mình lúc trở về."
Tôi gật đầu, vẫy tay chào ông rồi quất ngựa phi đi, và từ đỉnh một ngọn đồi, tôi ngoái nhìn lại vẫn thấy ông đứng lặng lẽ ngoài đường cái. Parker đuổi kịp tôi và hai chúng tôi lại qua mặt một kẻ mà tôi chẳng mảy may muốn chạm trán—Etheredge. Tôi đã gặp hắn ta mỗi ngày trong suốt phiên tòa, từng bắt gặp ánh mắt đờ đẫn của hắn khi tôi đang đứng trên bục khai báo, từng nghe hắn kể lại câu chuyện đầy bất lợi cho chúng tôi.
"Này," hắn cất tiếng khi tôi sắp đi ngang qua. "Chắc chưa quên tôi chứ hả?"
"Trí nhớ của tôi vô phúc thay lại quá tốt nên vẫn lưu giữ rất nhiều điều chướng tai gai mắt," tôi đáp.
"Nghe thế tôi mừng lắm; rất vui vì biết anh chưa quên cuộc hẹn nhỏ của chúng ta."
Hắn sóng vai đi cùng tôi. Con đường chỉ đủ rộng cho hai con ngựa đi song song, và viên cảnh sát phó bèn tụt lại phía sau. "Chúng ta không cần phải đợi đến khi phiên tòa kết thúc đâu," tôi đáp.
"Thế à? Có vẻ anh khá là sốt sắng đấy, nhất là khi ngay sau lưng anh lại có một viên chức công quyền. Này, có vẻ anh trách tôi vì đã tỏ ra quan tâm đến vụ này nhỉ? Thế anh đã dừng lại để suy nghĩ về sự quan tâm của chính mình chưa? Jucklin chẳng có họ hàng gì với anh và có lẽ chẳng bao giờ là thế đâu. Anh có nghe tôi nói gì không? Có lẽ chẳng bao giờ là thế đâu."
"Rất tiếc là hôm nay tôi không mang theo cành táo nào bên mình cả, thưa ông Etheredge."
"Và đó là điều may mắn cho anh đấy. Anh tưởng tôi sẽ để mặc cho anh quất tôi giữa lúc có ngần này người đang đi lại trên đường chắc?"
"Tôi đoán ông chẳng đời nào chịu để tôi làm thế vào bất kỳ lúc nào nếu ông có thể tự lo được cho mình."
“Ồ, tôi cũng chẳng biết nữa. Biết đâu tôi lại để anh tự giải trí nếu xung quanh chẳng có ma nào. Nhưng tôi chẳng có thù hằn gì với anh cả, chàng trai trẻ. Tôi đã sống đủ lâu để tha thứ cho những bồng bột của một thằng nhãi ranh chưa ráo máu đầu.”
Hắn không thể dùng lời nào đâm sâu vào tôi hơn thế; và đôi mắt già nua lờ đờ của hắn nhìn thấu sắc mặt tôi rồi bật cười. "Hơi chạm đến tự ái của anh một chút phải không? Ai trong chúng ta mà chẳng có đôi chỗ mỏng manh trên da thịt, biết không. Anh không cần phải quay lại nhìn đâu; viên cảnh sát vẫn đang đi ngay sau chúng ta đấy."
"Tôi ước gì ông ta đừng xuất hiện trong tầm mắt," tôi đáp.
"Anh không thích hắn ta à? Chà, tôi vẫn luôn nghĩ hắn là một tay khá được đấy chứ. Nhưng tất nhiên, tôi sẵn sàng chấp nhận phán quyết của anh về hắn. Mà nếu anh không thích hắn thì sao lại cứ đứng đợi hắn bắt kịp làm gì?"
"Tôi đang đợi ông cút đi cho khuất mắt đấy, thưa ông," tôi đáp. "Và nếu ông không đi, tôi sẽ đánh văng ông khỏi con ngựa đó."
"Được rồi. Tôi thấy đằng trước có một kẻ có lẽ là bầu bạn hợpạ hơn đấy. Dù sao thì tôi cũng hy vọng sẽ có dịp được giao du thân thiết hơn với anh vào một lúc nào đó trong tương lai. Chào buổi sáng."
Tôi đứng đợi cho đến khi Parker đi tới. "Cậu chán ngấy hắn ta rồi chứ?" cậu ta vừa cười vừa hỏi. "Tôi biết thế nào cậu cũng vậy—hầu như ai cũng thế. Trong hoàn cảnh này mà hắn lại đề nghị đi chung với cậu thì quả là một sự lăng mạ."
"Và tôi với hắn sẽ còn một trận lôi thôi nữa ngay sau khi vụ này ngã ngũ," tôi đáp.
"Ồ, tôi đoán là không đâu. Tôi chẳng hiểu sao một kẻ có óc phán đoán lại muốn dây dưa phiền phức với cậu cơ chứ. Cứ nhìn xem kìa, họ đang ùn ùn kéo về thị trấn kìa. Hy vọng họ sẽ ghé qua hướng này và bỏ phiếu cho tôi trong kỳ bầu cử cảnh sát trưởng sắp tới. Cả phụ nữ nữa chứ. Cậu thấy họ đang bước ra từ cánh cổng kia kìa không?"
Khi chúng tôi phi ngựa vào thị trấn, đường phố đã đông nghịt người, xe ngựa và xe buggy đặc kịch trên quảng trường công cộng. Người bán bánh gừng và rượu táo đã có mặt với hàng quán dựng ngay bậc thềm tòa án, và tiếng hí của những con ngựa tơ cùng tiếng đáp lại đầy thảm thiết của con ngựa mẹ bị cột vào thanh chắn cứ vang vọng khắp thị trấn. Những con chó lần đầu chạm mặt nhau, bằng thứ bản năng tinh ranh của mình, liền phán quyết rằng chúng là kẻ thù, nhưng rồi lại bất ngờ trở thành đồng minh trong một cuộc rượt đuổi sủa vang trời nhằm vào một kẻ đồng loại đang chạy tháo thân dọc con đường với một cái lon thiết buộc lẳng lặng ở đuôi.
Tôi lập tức đến văn phòng của Conkwright và bắt gặp lão đang gác chân lên bàn, thoải mái rít tẩu thuốc lá ngô.
"Ta đang ngẫm nghĩ lại một số điểm mà ta muốn trình bày," lão cất lời khi tôi bước vào.
"Và tôi hy vọng, thưa ông, là ông đang có được tâm trạng phù hợp để trình bày chúng."
“Chẳng nói trước được điều đó đâu. Nghệ thuật hùng biện cũng lén lút và khó nắm bắt chẳng khác gì một con chồn sương lúc đêm về. Cậu chẳng bao giờ biết được khi nào nó sẽ xuất hiện.”
"Nhưng ông có thấy khỏe không?" tôi lo lắng hỏi.
"Ồ, cảm thấy thì tuyệt cú mèo, nhưng điều đó cũng chẳng có mấy ý nghĩa đặc biệt đâu. Thỉnh thoảng một người có thể nghĩ rằng mình khỏe mạnh, nhưng khi đứng lên diễn thuyết thì lại thấy mình đần độn ra. Chắc là tôi sẽ qua khỏi thôi. Dù sao thì cũng sẽ cố hết sức, và nếu có thất bại thì cũng đành chịu. Tưởng chúng ta nên qua đó thì hơn."
Đó là một ngày đầy lo âu đối với tôi. Tôi nhìn Alf, người giờ đây bắt đầu trở nên xanh xao dưới gông cùm ngục tù, và tôi thấy sự phẫn uất trong cậu ta lúc dâng trào lúc lụi tàn khi viên công tố viên của bang vẽ nên hình ảnh cậu ta đang chờ đợi, đang háo hức lắng nghe từng tiếng vó ngựa. Tôi rồi sẽ trở thành luật sư, sẽ bào chữa cho con người ta và buộc tội họ để đổi lấy tiền bạc, thế mà tôi vẫn tự hỏi làm sao mà một thanh niên sáng láng nhường ấy, với thứ nhiệt huyết tưởng chừng như phát ra từ một tiếng kêu oan ức chân chính, lại có thể đứng đó và nói với bồi thẩm đoàn rằng bạn tôi đã thực hiện vụ án mạng tàn độc nhất từng làm luốm đục biên niên sử tội phạm của tiểu bang nhà. Lão già Conkwright vẫn ngồi xoay xoay ngón tay cái, thỉnh thoảng lão lại gật đầu với các bồi thẩm viên như để hướng sự chú ý của họ đến một điều vô lý rành rành. Thế nhưng tôi chẳng tài nào hiểu nổi lão có thể khỏa lấp đi bằng cách nào những bằng chứng cùng những câu từ rực lửa của vị công tố viên đầy nhiệt huyết kia. Cuối cùng thì thời của Conkwright cũng đến, và khi lão đứng lên cất tiếng nói câu đầu tiên, tôi cảm thấy cái lạnh ngắt của sự thất vọng đang len lỏi khắp người. Lão nói chậm rãi và giọng điệu lạnh lùng hệt như phát ra từ một cái miệng bị cóng vì sương giá. Tôi bước ra ngoài và đi lang thang khắp thị trấn, đến chuồng ngựa thuê, nơi một tên nô lệ đang vừa ngân nga câu hát vừa kỳ cọ sống lưng cho con ngựa; đến hiệu thuốc, nơi một y bác sĩ đang băng bó vết thương do viên gạch gây ra trên da đầu của một kẻ say xỉn—tôi đi mãi ra tận rìa thị trấn, nơi những cánh đồng canh tác nằm trải dài, rồi mới quay trở lại. Tôi đang nghĩ về chuyến trở về nhà của mình, về nỗi buồn mà tôi sẽ mang theo, về hai cụ già—về Guinea.
Ai đó gọi tên tôi, và khi quay người lại, tôi nhận ra nhân viên điện tín đang băng qua bãi đất trống. "Rất vui được gặp cậu," cậu ta vừa nói vừa tiến lại chìa tay ra. "Chắc cậu chưa nghe tin gì về cô ấy phải không?"
"Nghe tin về ai cơ?" tôi hỏi, chẳng lấy gì làm vui vẻ khi cậu ta xen vào dòng suy nghĩ đầy sầu muộn của mình.
"Bà McHenry ấy."
"Không, tôi chẳng nghe gì cả. Cô ấy làm sao?"
“Chà, có đủ thứ chuyện về cô ấy ấy chứ. Cô ấy là vợ tôi—mới cưới tối hôm trước đấy. Cậu còn nhớ mảnh vải in hoa mà tôi chỉ cho cậu xem hôm đó, cái hôm tôi bảo rằng mình phải hết sức cẩn thận không? Ấy đấy, chính là cô ấy đấy. Để tôi đi cùng cậu một đoạn. Tán đổ nàng—phải nói là chạy thục mạng thở hồng hộc ấy chứ. Tôi bảo là tôi phải lấy bằng được cô ấy, dĩ nhiên ban đầu nàng còn ngượng ngùng né tránh, nhưng điều đó chẳng thành vấn đề, bởi vì tôi đã đến ba bận một ngày cho đến khi nàng thấy chẳng ích gì mà né tránh nữa; thế là nàng đành chịu thua và tôi túm ngay lấy vị mục sư nào tình cờ lảng vảng ở quanh đó và chẳng mấy chốc lão đã tuyên bố chúng tôi là một đôi long phụng một nhà—gần giống thế. Cứ đi thẳng xuống con đường đó và cậu sẽ thấy vải hoa phơi đầy trên dây phơi nhà tôi bất cứ lúc nào. Này, sẽ là một điều đáng tiếc nếu họ treo cổ anh chàng trẻ tuổi kia đấy. Và tôi sẽ nói cho cậu hay tôi sẽ làm gì. Nếu họ gửi bất cứ thứ gì cho các tờ báo, tôi sẽ cố tình đánh vần sai tên của hắn. Thế nào, chúng ta cũng phải chơi khăm chúng một vố chứ nhỉ? Kìa, thằng nhóc nhà tôi đang đến và chắc là có việc gọi tôi ở văn phòng rồi. Dạo này họ réo tôi liên tục—có vẻ như đang là mùa bận rộn. Hôm nay tôi đã đến văn phòng hai bận rồi đấy.”
Từ rất lâu trước khi đến được tòa án, tôi đã nghe thấy tiếng lão Conkwright gào thét trước bồi thẩm đoàn. Các ô cửa sổ đặc kín người và bên ngoài, đàn ông đang đứng trên những chiếc thùng gỗ, rướn cổ để nhìn lão già trong màn chỉ trích dữ dội của lão. Tôi không thể chen chân nổi vào trong phòng, nhưng đã cố lách đến cửa và đứng đó với dòng máu sục sôi trong lồng ngực. Lúc này thì tôi đã hiểu vì sao người ta lại gọi lão là kẻ có uy lực lớn đến thế. Gương mặt lão rực lên, mái tóc bạc dựng đứng và đôi mắt phóng ra những tia chớp nhắm thẳng vào bồi thẩm đoàn. Tôi không biết lão đã nói trong bao lâu, nhưng tôi biết rằng đột ngột lão im bặt, ngước mắt nhìn lên, rồi dang rộng hai tay hướng về phía bồi thẩm đoàn và nói: "Nguyện xin Chúa trong lòng thương xót vô biên của ngài hãy soi đường chỉ lối cho quyết định của các vị." Lão ngồi xuống, và lúc đó tôi nhận ra không khí đã dịu mát hơn nhờ cơn gió nổi lên khi mặt trời vừa lặn. Viên công tố viên bang phát biểu đôi lời, rồi vị thẩm phán đọc bản tuyên án trước bồi thẩm đoàn, một bài diễn văn ngắn gọn nhưng đầy tâm huyết. Giờ thì cảnh xô đẩy, chen lấn diễn ra—các bồi thẩm viên đang lục tục kéo ra ngoài. Tôi thấy họ dẫn Alf quay lại nhà giam, nhưng tôi không đến gặp cậu ta, bởi trong lòng tôi đang bị giằng xé giữa hy vọng và nỗi sợ hãi. Dù vậy, tôi vẫn tìm đến chỗ vị luật sư già và hỏi xem ông nghĩ thế nào.
"Tôi không biết," ông đáp. "Cậu không thấy khuynh hướng muốn thúc ép mọi thứ diễn ra thật nhanh chóng sao? Tôi không nghĩ họ sẽ phải nghị án lâu đâu."
"Ông vừa có một bài diễn văn tuyệt vời, thưa ông."
"Cũng không tệ, nếu xét đến chất liệu chúng ta đang có. Chúng ta đã rơi vào thế bất lợi. Cậu ta đã đứng đó ngoài đường cái, cậu biết đấy, và đó là một tình tiết rất khó vượt qua."
"Nhưng vị thẩm phán chắc hẳn đã phải động lòng trước bài diễn văn của ông chứ."
"Chà, con trai ạ, tôi nghi ngờ liệu lão ta có nghe thấy nó hay không."
Tôi bỏ đi và lại lang thang quanh thị trấn. Trời đã chạng vạng và chuông quán trọ đang đổ hồi. Trên bậc thềm tòa án và ở quảng trường công cộng, người ta đang bàn tán về phiên tòa và phỏng đoán kết quả. Tôi nghe thấy một người nói: "Lão cựu chiến binh đã chiến đấu rất cừ, nhưng thế lực đối địch quá mạnh. Cược mười đôla là họ sẽ khép tội hắn."
"Có bạn hắn ở đằng kia kìa," một người khác lên tiếng nhắc nhở.[190] "Đừng nói lớn thế."
"Mặc thây đứa nào đứng nghe chứ; tiền đang lên tiếng đây này. Có ai bắt độ không?"
Cách đó không xa có một cây cầu gỗ bắc qua con suối nhỏ, tôi liền đi ra đó, tì tay lên thành cầu và lắng nghe tiếng nước róc rách. Tôi thầm nghĩ đây chắc hẳn là con lạch từng chảy uốn lượn qua nhà mình, thế là tôi bước xuống mép nước và vốc nước rửa cái đầu đang nhức buốt của mình. Chợt tôi nhớ ra mình chưa ăn gì kể từ sáng sớm, bèn định bụng quay về quán trọ, nhưng vừa xoay người đi thì nghe tiếng ai đó gào lên: "Bồi thẩm đoàn đã có quyết định và tòa lại họp rồi!" Tôi cuống cuồng trèo lên và rảo bước về phía tòa án, rồi ngay tại bậc thềm, tôi đụng độ một đám đông đang từ trong đi ra. "Hết chuyện rồi," một người trong số họ nói với tôi. "Chung thân. Conkwright vừa nộp đơn kháng án xin xét xử lại và quan tòa đã chuẩn y."
Tôi vội vã chạy đến nhà giam, nơi họ vừa giải Alf về. Tôi thấy cậu ta đang ngồi trên mép giường. Cậu ta liền đứng dậy khi nhìn thấy tôi.
"Bill," cậu ta cất giọng nhỏ nhẹ và đều đặn, "tớ sẽ không vào nhà tù bang đâu nếu cậu thực sự là bạn của tớ."
"Và cậu thừa biết tớ là thế mà, Alf."
"Vậy thì cậu hãy cho tớ mượn con dao của cậu đi."
"Không, Alf, tớ không thể làm thế được—lúc này thì không. Hãy nhớ rằng chúng ta vẫn còn một cơ hội khác."
"Tớ không nói bây giờ—ý tớ là nếu cơ hội cuối cùng đó thất bại cơ. Giờ tớ muốn cậu làm giúp tớ việc này. Cậu hãy bảo bố rằng ông ấy phải bán ngay trang trại đi và rời khỏi đây đi. Bảo[191] ông ấy rằng tớ sẽ căm hận nếu ông ấy không làm theo lời tớ. Cậu có thể ở lại đây và viết thư cho ông ấy, và nếu tớ không bước ra được sau phiên tòa tới, thì đành chịu, còn nếu tớ ra được, tớ có thể tìm đến với ông ấy. Nghe có vẻ phũ phàng, nhưng ông ấy buộc phải làm thế. Dù sao thì ông ấy cũng đâu có muốn sống ở đây. Cậu sẽ làm chứ?"
"Tớ sẽ làm, vì tớ thấy đây chưa biết chừng lại là một kế sách hay. Không, ông ấy sẽ không sống ở đây đâu. Ông ấy sẽ làm theo điều cậu yêu cầu."
"Thôi, giờ thì về nhà đi và nghỉ ngơi đi. Thề có Chúa là trông cậu cứ như thể vừa trải qua một phiên tòa xét xử tội chết ấy," cậu ta vừa nói vừa cười. "Nhớ bảo với ông ấy rằng tớ không hề suy sụp—mọi chuyện đã diễn ra theo chiều hướng tốt hơn tớ tưởng."
Đêm tối mịt mùng, con đường hoang vắng, và tôi văng vẳng nghe tiếng bò rống cô độc. Thỉnh thoảng lại có một kẻ cưỡi ngựa vượt qua tôi, bởi tôi chẳng hề vội vã gì cho cam trên đường về nhà. Tại một khung cửa rào ven đường, ai đó đang đứng cầm chiếc đèn lồng, và ngay sau lưng tôi là tiếng bánh xe lọc cọc của một cỗ xe cũ kỹ. Tôi dạt sang bên lề để nhường đường, và đúng lúc đó ánh đèn lồng chiếu rọi vào người tôi, một giọng nói cất lên: "Phải cậu đấy không, anh Hawes?"
"Vâng," tôi đáp, quay trở lại lòng đường và lầm lũi đi theo sau chiếc xe buggy.
"Tôi đoán thế," gã ngồi trên xe nói, "vì dạo này quanh đây chẳng mấy ai có vóc người cao lớn như cậu cả. Tôi nghe nói hồi xưa thì có, nhưng giờ thì hết rồi. Khá nhiều chuyện đã xảy ra kể từ cái hôm cậu sang gặp tôi bàn về chuyện trường lớp ấy nhỉ. Tôi là Perdue đây. Nhân tiện, ở nhà tôi có một trăm đôla đang đợi cậu đấy, và nếu cậu không chịu đến lấy thì tôi sẽ sai người mang qua."
[192]"Nhưng tôi đã làm gì cho ông đâu mà nợ nần," tôi đáp.
"Ừ, tiền ở đó và nó là của cậu. Cậu có muốn bị vướng vào mớ rắc rối không thể đi dạy được đâu nào. Như tôi đã nói, tiền ở đó rồi, cậu cứ cầm lấy cho rảnh nợ. Gửi lời chia buồn với hai cụ nhé, nhưng đành chịu thôi chứ biết sao giờ."
Hắn quất ngựa phóng đi, với tay hô lớn rằng sẽ gửi tiền sang vào ngày mai, còn lời từ chối của tôi, nếu thực sự tôi có mở miệng từ chối, thì cũng yếu ớt và ngập ngừng, bởi trong số tất cả mọi người ở cái vùng đó, tôi ngỡ rằng mình đang là kẻ khát khao một trăm đôla hơn ai hết.
Lúc này tôi đã đến gần ngôi nhà. Đã muộn, nhưng ngọn đèn ở phòng khách vẫn sáng trưng. Chẳng có ai ra đón, mặc cho tiếng vó ngựa của tôi nện xuống những viên đá đủ lớn để báo hiệu cho họ biết sự xuất hiện của mình; và khi tôi bước xuống ở cổng, tôi thấy một con ngựa đang bị buộc vào hàng rào. Hẳn là có kẻ nào đó, vì quá sốt sắng mang tin dữ đến trước, nên đã đi trước tôi một bước. Tôi dắt ngựa ra chuồng, đi vào nhà, và vừa đặt chân vào lối đi thì Parker, viên cảnh sát phó, từ phòng khách bước ra. "Tôi cứ nghĩ cậu sẽ quay lại nhà giam ở lại đó một thời gian chứ, thế nên tôi ghé qua đây để báo tin cho họ luôn. Chẳng có gì phiền hà đâu—chỉ là lệch đường một chút thôi mà."
Bên trong mọi thứ chìm trong im lặng. Tôi bước vào trong. Cụ ông đang đứng quay lưng về phía lò sưởi; cụ bà ngồi đặt cuốn sách trên đùi còn Guinea thì đứng bên cửa sổ, thẫn thờ nhìn ra màn đêm u tối. Tôi lặng lẽ ngồi xuống, bởi chẳng biết phải mở lời thế nào, và cứ thế chúng tôi chìm trong tĩnh lặng một hồi lâu. Cụ bà nấc lên, tay siết chặt[193] cuốn sách hơn, còn cụ ông nhìn bà sắc lạnh rồi gần như tự hất tung người lao khỏi phòng. Và chỉ vài khoảnh khắc sau, tôi nghe thấy tiếng ông gầm lên: "Hike, mau lên, Sam! Hike, mau lên, Bob! Có đủ ánh sáng rồi đấy; tụi mày có tận ba cái đèn lồng cơ mà. Hike, mau lên! Cho đến tận cùng, đến tận cùng!"
"Thưa bà Jucklin, bây giờ chưa phải lúc để tuyệt vọng," tôi cất tiếng, và Guinea quay đầu từ phía cửa sổ nhìn lại. "Chúng ta đã giành được một phiên tòa mới, và lần tới mọi thứ nhất định sẽ xoay chiều theo hướng có lợi cho chúng ta. Đó là quy luật của hầu hết những vụ án như thế này. Hãy mạnh mẽ lên thêm chút nữa thôi. Bà từng là trụ cột của chúng ta, và giờ thì bà không được phép để chúng ta gục ngã."
Nàng đứng dậy, cúi đầu chào tôi theo phong cách trang nhã thuở trước, rồi Guinea bước tới chìa tay ra, và chắc hẳn nàng đã nhìn thấy một tia sáng lóe lên trong mắt tôi, nên nàng nói: "Em là em gái của Alf, và cũng là em gái của anh nữa."
Câu nói ấy giáng xuống niềm khát khao thiết tha của trái tim tôi như một gáo nước lạnh; sự sẻ chia của một người chị chẳng thể nào đáp lại tiếng gọi mà bản ngã tôi đang gào thét hướng về nàng. Nhưng tôi nuốt ngược cơn nhói buốt đang dâng lên trong ngực và đáp: "Anh cảm ơn em."
Cụ ông, với những bước chân nặng nề, sải bước vào phòng. "Mọi chuyện đã đi đến tận cùng," ông thì thầm. Hai bàn tay ông đẫm máu. "Mọi chuyện đã đi đến tận cùng, và cả hai con đều đã chết."
Có tiếng gõ cửa dồn dập. Guinea mở cửa và vị Đại tá già bước vào. "Ông Jucklin, tôi có thể nói chuyện riêng với ông được không?" ông ta vừa hỏi vừa cúi chào hai người phụ nữ.
"Không. Có điều gì cần nói, cứ phơi bày hết ra đây."
[194]"Tôi muốn nói chuyện riêng hơn. Ơ kìa, tay ông dính gì thế kia?"
"Mọi chuyện đã đi đến tận cùng rồi đấy, thưa ông, và những gì ông sắp nói cũng hãy cho đến tận cùng đi, dẫu cho nó có đẫm máu gấp ba lần đi nữa."
"Ồ, tôi đến đây không phải vì dồn nén hiềm khích gì đâu, thưa ông. Thưa các quý bà, phiền hai vị và người bạn của chúng ta, anh Hawes, lánh mặt một chút có được không?"
"Họ sẽ ở lại đây, thưa ông," cụ ông đáp, vừa xắn tay áo lên.
"Được thôi, tùy ý ông vậy, thưa ông. Ông Jucklin, nhiều năm trước chúng ta đã lập ra một khế ước——"
"Và tao đã tự nguyền rủa bản thân từ dạo ấy cho đến nay!" cụ ông gầm lên.
"Xin hãy đợi cho tôi nói hết đã, nếu ông không phiền. Chúng ta đã lập ra một khế ước, được thúc đẩy bởi sự bồng bột của tuổi trẻ và sưởi ấm bởi sự nuông chiều quá mức của người làm cha. Tôi biết đây là thời điểm nhạy cảm để đến gặp ông, và tôi không muốn tỏ ra nhẫn tâm, vì mục đích của tôi rất ôn hòa, dẫu cho quyết định của tôi là kiên quyết. Những trái tim non trẻ có thể thầm thì với nhau, và tiếng thì thầm đó có thể là khúc ca du dương, thưa ông; nhưng trong cuộc đời này có những bổn phận quá đỗi cứng rắn để có thể bị làm cho tan chảy hay chệch hướng bởi một giai điệu. Và thưa ông, một trong những bổn phận thiêng liêng nhất có thể trao phó vào tay một người đàn ông chính là bảo đảm rằng danh tiếng của gia tộc, thứ sẽ tiếp tục tồn tại sau khi ông ta xuôi tay nhắm mắt chìm vào cõi vĩnh hằng—xin hãy thứ lỗi cho cách diễn đạt vòng vo của tôi, vì tôi đoan chắc với ông rằng sự vòng vo ấy xuất phát từ lòng tốt—tôi muốn nói rằng bổn phận của tôi lúc này là hướng về những kẻ sẽ mang danh họ của tôi trong tương lai. Tôi tin rằng ngần ấy lời đã đủ để tôi có thể nói thẳng vào vấn đề. Tôi không mảy may nghi ngờ phẩm chất thực sự và sự liêm chính đáng trân trọng[195] trong huyết thống của ông, thưa ông Jucklin, nhưng một thỏa thuận mà chúng ta từng ký kết buộc phải bị hủy bỏ."
Ông ta đứng đó, tay cầm chiếc mũ vành rộng, thò tay vào trong vốc lấy chiếc khăn mùi xoa lau mặt. Lão Lim đăm đăm nhìn ông ta không chớp mắt. "Lời lẽ của tôi nghe có vẻ lạnh lùng và cứng nhắc," vị Đại tá nói tiếp, "và tôi ước gì chúng có thể ấm áp và tự nhiên hơn, nhưng những nỗ lực pha trò của tôi đều hoài công vô ích. Tóm lại một câu, và tôi đã cố gắng hết sức để không phải thốt lên một cách phô phang—đó là thỏa thuận từng ràng buộc chúng ta vào mối quan hệ thông gia tương lai nay chính thức bị hủy bỏ; nhưng tôi không hề có ý rằng con trai ông phạm tội giết người đâu nhé, bởi trong thâm tâm nó có thể tự thấy mình có lý, ngặt nỗi phán quyết của tòa án đã—và tôi ước gì mình tìm được cách nói nào nhẹ nhàng hơn—tòa đã phán quyết nó có tội, và điều đó khiến cho cuộc hôn nhân trở thành chuyện không tưởng. Xin hãy kiên nhẫn với tôi thêm một thoáng nữa, vì tôi xin đoan chắc rằng tôi cũng đang đau đớn vô cùng cùng ông, rằng trái tim tôi đang nhói đau đồng điệu với trái tim ông. Niềm kiêu hãnh gia tộc có thể bị xem là một sở thích lập dị vào cái thời buổi mà sự tao nhã và tôn nghiêm đang bị chế nhạo này, nhưng đó là một sở thích cao đẹp, và tôi đã gìn giữ nó lâu đến mức không thể buông bỏ được. Và giờ đây, xét đến bất kỳ vấn đề nghĩa vụ tài chính nào, chúng ta sẽ quay lưng lại với nó và quên đi sự tồn tại của nó."
Ông ta nhét chiếc khăn mùi xoa vào mũ, chuyển mũ sang tay kia và đứng nhìn Jucklin; và tôi đã tưởng tượng ra cảnh lão già sẽ lồng lộn nhảy dựng lên vì giận dữ, thế nhưng tôi không tài nào nhớ nổi mình từng chứng kiến một sự thờ ơ lạnh lùng nào đến thế. "Tao đeo cựa cho chúng từ sáng sớm và bắt chúng[196] phải chờ đợi cho đến tận cùng, và khi thời khắc đó đến thì nó đến rất nhanh," ông nói.
"Ông Jucklin, tôi đã hy vọng mình giải thích rạch ròi rồi chứ. Tôi đến đây, thưa ông, để hủy bỏ hôn ước do chúng ta sắp đặt một cách dại dột nhằm gắn kết con gái ông với con trai tôi."
"Thằng Bob chết trước, nhưng thằng Sam vẫn lảo đảo bước được, nó ngã quỵ vào người tao và làm nhuốm máu đôi bàn tay tao; và tao phải xin lỗi vì chưa rửa chúng, nhưng vẫn chưa quá muộn để đền bù chút đỉnh đâu. Tao sẽ bôi chúng lên bộ mặt của mày, thưa ông!"
Ông lao tới, nhưng tôi đã kịp tóm lấy ông. "Ông phải thật bình tĩnh và hết sức tỉnh táo chứ, thưa ông Jucklin," tôi vừa ôm chặt lấy ông vừa vội vã nói. "Hãy nhớ rằng hắn đang ở trong nhà ông đấy."
Và điều đó đã làm ông dịu xuống. Ngay cả những kẻ thô kệch nhất chốn rừng rú miền Nam đôi khi cũng được ban cho một sự lịch thiệp đột ngột và gần như kỳ diệu, một sự hồi sinh vô thức của phẩm giá đã mai một từ lâu; và điều đó đã ngự trị trên người cụ ông, để rồi cúi đầu thật thấp, ông nói:
"Tôi xin khiêm tốn tạ lỗi cùng ông."
"Và tôi sẽ là một kẻ bất lương nếu không chấp nhận lời xin lỗi đó," vị Đại tá đáp lại, cúi đầu chào. "Nhưng tôi hy vọng lý trí chứ không phải việc tôi đang đứng dưới mái nhà của ông sẽ chi phối hành xử của ông."
Trong suốt quãng thời gian này, và quả thực là kể từ khoảnh khắc vị Đại tá bước chân vào phòng, Guinea vẫn đứng cạnh chiếc ghế bập bênh nơi mẹ cô đang ngồi; chẳng có chút biến sắc nào[197] trên khuôn mặt nàng, ngoại trừ việc một tay đặt lên lưng ghế, nàng cứ đứng bất động như thế, chỉ trừ khoảnh khắc nàng đưa tay lên đầu mẹ mình ngay lúc tôi vòng tay ôm lấy cụ ông. Tôi đã nhìn thấy điều đó, dẫu động thái của nàng rất nhanh, bởi ánh mắt tôi đang dán vào nàng chứ không phải cha nàng. Và giờ đây vị Đại tá quay sang hướng cô thiếu nữ.
"Con yêu của ta," ông ta cất lời. Nàng hơi nhíu mày, nhưng khóe môi khẽ hé mở một nụ cười lạnh lẽo xuất phát từ tận đáy lòng.
"Đứa con yêu dấu của ta, thật khó để ta thốt lên những lời này với con, vì ta cảm thấy con chỉ có thể coi ta như một con thú vô cảm đang tâm xé nát một trái tim ngây thơ và đằm thắm, và Chúa biết rằng giờ đây ta đang cầu xin sự tha thứ của con, nhưng ở cuộc đời này có những điều tàn nhẫn buộc phải làm, phải làm để những kẻ nối dõi chúng ta không phải chịu chút vết nhơ hằn học nào từ một xã hội khắt khe. Ta là một lão già, con yêu ạ, và chẳng bao lâu nữa sẽ được đưa về nghĩa trang nơi tổ tiên ta đang yên giấc ngàn thu trong danh dự. Họ đã để lại cho ta một cái tên kiêu hãnh và ta không được phép làm vấy bẩn nó. Ngôi mộ cổ nhất ở đó nằm bên trên lồng ngực từng dũng cảm đương đầu với những toán lính cầm giáo mác của lão Cromwell—trái tim cao quý của một hiệp sĩ từng đập trong lồng ngực ấy—và liệu con có thể hỏi——"
"Con chẳng hỏi gì cả, thưa Đại tá."
"Con là một thiếu nữ cao quý."
"Nhưng con trai ông sẽ tìm đến tôi và quỳ gối dưới chân tôi."
Một vệt đỏ bừng lướt qua gương mặt vị Đại tá. "Không, chính với sự đồng thuận hoàn toàn của nó mà ta mới đến đây. Quả thực, ta đã muốn hoãn chuyến đi này lại vào một ngày thích hợp hơn, nhưng nó biết rõ bổn phận của mình và đã giục ta thực hiện nhiệm vụ."
[198]"Anh ấy sẽ quỳ gối dưới chân tôi," nàng nói; và ông ta chưa kịp đáp lời thì chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân ngoài hành lang—những bước chân hoảng loạn. Có khoảnh khắc tiếng lẫy cửa lách cách khô khốc, như thể một bàn tay run rẩy vừa chạm vào nó, rồi Millie xông xáo phá cửa bước vào. Khuôn mặt cô trắng bệch, mái tóc xõa tung ngang vai.
"Các người đã bắt tôi phải tránh xa anh ấy!" cô hét lên, giậm chân thình thịch và trừng mắt nhìn cha mình. "Phải, các người đã bắt tôi phải tránh xa, nhưng tôi đã đến đây rồi và tôi căm ghét các người."
Vị Đại tá già chết sững. "Ông có thể bảo đứa con trai máu lạnh của mình phải làm gì thì làm," cô nói tiếp, "nhưng trái tim tôi là của riêng tôi. Anh ấy đã cầu hôn tôi và tôi sẽ lấy anh ấy—tôi sẽ đột nhập vào nhà tù bang để kết hôn với anh ấy. Còn các người thì từng muốn ép tôi lấy Dan Stuart. Ngay trước khi bị giết, anh ta đã nói với tôi rằng anh ta sẽ giết Alf nếu tôi nói rằng tôi yêu anh ấy. Tôi sẽ đến nhà giam và kết hôn với anh ấy ở đó."
Cô chạy nhào đến bên Guinea, và họ ôm chầm lấy nhau khóc nức nở; còn cụ bà thì ép chặt cuốn sách vào ngực và nấc nghẹn trên đó. Qua lớp râu cứng như dây thép của lão Lim, một nụ cười cay nghiệt và lạnh lùng đang len lỏi hiện ra, còn vị Đại tá thì đang kịch liệt đấu tranh với chính mình. Ông ta cắn chặt môi cho đến khi khóe miệng rướm máu đỏ au.
"Nào, con sẽ về nhà với ta," ông ta nói.
"Con không về!" cô con gái hét lên, vòng tay siết chặt lấy Guinea. "Con không về; con sẽ đến nhà giam."
"Vậy thì tao sẽ lôi mày về nhà."
"Đừng có chạm vào tôi!" cô thét lên, lùi phắt vào góc phòng. "Đừng chạm vào tôi, vì tôi phát điên lên mất rồi. Tôi[199] thèm quan tâm gì đến niềm kiêu hãnh của ông chứ? Tôi thèm quan tâm gì đến nghĩa trang gia tộc chứ? Các người đã cố tâm bóp nát trái tim tôi, nhưng tôi nhất định sẽ lấy anh ấy. Anh ấy đáng giá bằng vạn lần những kẻ máu lạnh như con trai ông. Đừng có chạm vào tôi, thưa cha. Anh Hawes!" cô hét lói lên, "đừng để ông ấy chạm vào tôi."
Vị Đại tá già đã bước lên trước như muốn vung tay tóm lấy cô, nhưng rồi ông ta lùi lại, cúi đầu và nói: "Con là một tiểu thư và ta là một quý ông, những sự thật ấy bảo vệ con khỏi bạo lực từ tay ta, nhưng tại đây ta từ thối con—không, ta không làm thế, con gái ạ. Ta không thể từ bỏ chính máu mủ ruột thịt của mình. Ta sẽ để con lại đây tối nay, với hy vọng rằng khi cơn cuồng nộ này qua đi, lý trí sẽ đưa con trở về nhà. Chào buổi tối."