Bốn tuần trôi qua và những ngày tháng nặng trĩu âu lo, bởi tôi chẳng hề nhận được chút tin tức nào từ Guinea. Tôi đã nghĩ ra hàng trăm lý do có thể khiến nàng không viết thư cho tôi, nhưng điều tồi tệ nhất là tôi sợ rằng nàng đã viết nhưng lá thư ấy đã bị thất lạc.
Một buổi chiều nọ, sau khi vứt xó cuốn sách vì đã quá chán ngấy những nguyên nhân, lý lẽ và sự diễn biến của luật pháp, tôi ngồi thẫn thờ trên một mảng đá gần con suối, miên man suy nghĩ, thì bỗng chốc tôi vùng đứng dậy, trong tâm trí ngập tràn hình ảnh Guinea, tưởng như nàng đang đứng ngay trước mặt. Nhưng khoảnh khắc ấy chỉ kéo dài chốc lát. Một chú hươu non duyên dáng nhảy nhót bước xuống lối mòn, và tâm trí tôi lại bay bổng trở về khoảnh khắc lần đầu tiên tôi nhìn thấy nàng rảo bước trên dải đất quang đãng, nện cứng ấy. Phải, đó là một con hươu, nó chạy dọc theo dòng suối, và chẳng mấy chốc tôi nghe thấy tiếng chó săn sủa vang trong rừng. Tôi quay về phòng và lại cố gắng học tập, nhưng những câu cú lý luận lúc này nghe thật khô khan, chói tai, và tôi bèn ném quách cuốn sách xuống. Tôi quyết định đi câu ở những vũng nước dọc theo dòng suối hướng về phía cối xay. Đất ngoài sân và quanh khu chuồng trại khô khốc đến mức chẳng tài nào tìm nổi một con giun đất, thế là tôi quyết định xới đám rêu ẩm ướt gần con suối. Chiếc cuốc va phải một vật cứng ngắc và một thứ lấp lánh lộ ra. Tôi cúi xuống quan sát, thoạt đầu cứ ngỡ đó là bạc, nhưng không—đó là mica. Tôi cạo sạch lớp rêu và tầng đất mỏng bám phía trên, để rồi sững sờ phát hiện ra cả một vỉa quặng lớn. Tôi cuốc sâu hơn và những khối mica bong lên, tinh khiết và không hề tì vết. Sách vở đã dạy cho tôi biết rằng đây là một thứ tài sản có giá trị, và tôi vô cùng mừng rỡ khi nhận ra nó nằm ngay trên mảnh đất của chính mình. Tôi gom lấy lượng mica nhiều nhất có thể mang theo—quả thực, tôi đã nhét đầy một chiếc hòm, sau đó cẩn thận đắp lại lớp rêu, san phẳng mọi thứ sao cho trông giống như chưa từng bị động chạm. Dòng máu trong người tôi sục sôi vì phấn khích và tôi nơm nớp sợ có kẻ nào đó đã bắt gặp mình. Tôi mang chiếc hòm về phòng, dùng dao tách từng phiến mica mỏng ra, và ngắm nghía nó càng lâu, tôi càng thêm thổn thức trước viễn cảnh giờ đây không còn nằm ở thì tương lai, mà đang nằm gọn trong tầm tay. Và tôi cũng chẳng chần chừ lâu trong việc định đoạt bước đi tiếp theo của mình. Tôi nhớ ra rằng vùng quê chúng tôi từng có một vị khách mang đến từ Nashville, bang Tennessee, một chiếc lò sưởi lớn có gắn những tấm mica ở cửa, và tôi nghĩ sẽ thật khôn ngoan nếu mang chiếc hòm của mình đến thành phố đó, đem món hàng bày ra để thuyết phục ai đó mua lại mỏ mica. Tôi vội vã chạy ra thị trấn sau khi đã giấu kỹ chiếc hòm, thông báo với Conkwright cùng Alf rằng có việc đột xuất buộc tôi phải vắng nhà vài ngày, rồi trở về nhà thuê một người đánh xe đưa ra ga tàu. Tôi vốn sợ rời mắt khỏi chiếc hòm, nhưng đành phải giao nó cho nhân viên ký gửi hành lý, không quên dặn dò anh ta phải hết sức cẩn thận và bịu rằng trong hòm chứa đầy quặng sắt. Anh ta xách giật chiếc hòm lên và quả quyết rằng bên trong chắc chắn chứa đầy chì. Khi mới đến vùng đất này, tôi từng tưởng tượng những đoàn tàu chạy nhanh tựa cánh chim, nhưng giờ đây trông nó chẳng khác nào đang bò lê lết. Đêm buông xuống và tôi lại nấp nỏm lo sợ bọn cướp sẽ tấn công đoàn tàu và làm lộ bí mật của mình; nhưng cuối cùng tôi cũng đến được Nashville, và nỗi lo lắng tiếp theo lại ập đến. Làm sao tôi có thể tìm ra kẻ đã làm ra chiếc lò sưởi kia đây? Tôi mang hòm vào khách sạn, bọc một cục mica vào chiếc khăn tay rồi lên đường đi tìm cửa hàng bán lò sưởi. Chẳng mấy chốc tôi tìm thấy một cửa hàng kim khí, bèn hiên ngang bước vào với vẻ mặt già dặn của dân buôn, cất tiếng hỏi tìm chủ cửa hàng. Một người đàn ông có diện mạo dễ mến bước ra, và tôi liền hỏi ông ta giá mica hiện giờ là bao nhiêu. Ông ta nhìn tôi sắc sảo rồi đáp rằng mình không nắm rõ tình hình thị trường cho lắm, nhưng áng chừng giá của nó dao động từ năm đến hai mươi lăm đô la một pao. "Tuy nhiên, mica thượng hạng thì rất hiếm," ông ta nói, rồi tiện thể hỏi xem tôi có nhu cầu mua mica hay không.
– Không thưa ông, tôi muốn bán. Loại này có phải là hàng tốt không ạ?
Tôi mở gói khăn tay ra và đôi mắt ông ta trợn tròn kinh ngạc.
– Cậu kiếm được thứ này ở đâu thế? – ông ta hỏi.
– Trên đất của tôi ở Bắc Carolina.
– Cậu có nhiều lắm không? – ông ta hỏi vừa dùng dao tách thử từng phiến mỏng.
– Cả tấn ấy chứ.
– Thật thế á! Vậy là cậu vớ được một gia tài rồi đấy. Xưởng chúng tôi không phải nhà sản xuất lớn nên không dùng đến nhiều. Cậu mang theo bao nhiêu?
– Chỉ đúng một hòm thôi.
– Chà, tôi đoán chúng tôi có thể thu mua hết ngần ấy. Cậu mang qua đây đi.
Tôi đã làm theo, và suýt chút nữa không dám tin vào tai mình khi ông ta ngỏ ý trả tôi năm trăm đô la, dẫu bây giờ tôi biết rằng số tiền ấy thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực của nó. Ông ta thảo luận hồi lâu với đối tác của mình, rồi quay lại giao tiền cho tôi, đồng thời gặng hỏi tên tuổi cùng vô số câu hỏi khác. "Này thanh niên," ông ta bảo, "nếu chúng tôi có sẵn tiền mặt thì đã mua đứt cái mỏ đó rồi, ngặt nỗi lại không có sẵn. Thôi thế này nhé, cậu hãy cầm lấy mẫu vật này—chính là miếng này đây—và lập tức lên đường đi Chicago. Tôi biết một số nhà đầu tư ở đó đang rót vốn rất mạnh vào miền Nam, và tôi tin chắc họ sẽ sẵn lòng đưa ra lời đề nghị hấp dẫn cho tài sản của cậu. Nào, để tôi viết tên họ ra một tấm danh thiếp. Thú thật với cậu, chúng tôi cũng có phần hùn hạp với họ đấy. Giờ thì, đừng đem mẫu vật này cho ai khác xem nhé, cứ đi thẳng tới hãng Clarm & Ging, tòa nhà Rookery, Chicago. Ai cũng có thể chỉ đường cho cậu tới đó. Đây là danh thiếp. Chúng tôi sẽ đánh điện báo trước cho họ về việc cậu sắp tới, nên xét theo danh dự thì cậu không được đi nơi khác nữa, hiểu chứ—xem như chúng tôi đã phần nào đặt cọc giao dịch rồi đấy, cậu thấy đấy."
Tôi bước ra khỏi cửa hàng ấy trong sự choáng váng, ngỡ ngàng trước vận may của chính mình. Và tôi lên ngay chuyến tàu đầu tiên đi Chicago. Nếu tiền bạc có thể cứu được Alf, thì giờ đây cậu ấy chắc chắn sẽ được trắng án, và tôi kiêu hãnh ngẫm về sự khác biệt lớn lao mà tôi sẽ tạo ra giữa phiên tòa đầu tiên và phiên tòa cuối cùng của cậu ấy. Nhưng trong suốt thời gian đó, lồng ngực tôi vẫn nặng trĩu một nỗi niềm—sự im lặng đến từ Guinea.
Đoàn tàu đến Chicago vào buổi sáng. Và giờ đây tôi đang đứng giữa một chốn cuồng phong gầm rú—một âm thanh hỗn độn náo động hệt như chân tháp Babel. Khi rảo bước trên con phố, tôi cứ ngẫm như có một trận cuồng phong vừa sổng chuồng và tôi đang đứng ngay tâm của nó. Tôi gọi một chiếc xe mã, bởi sách vở đã dạy tôi phải xử lý ra sao, rồi bảo người đánh xe chở đến tòa nhà Rookery. Hắn ta quất roi phóng bạt mạng, suýt nữa thì va quẹt lật xe bởi những phương tiện khác, tôi liền quát lên bắt hắn chú ý hơn, nhưng hắn cứ thế cắm cổ phóng đi, chẳng thèm đếm xỉa gì đến tôi. Chẳng mấy chốc hắn dừng lại trước một tòa nhà lớn như một mỏm núi bị sụt nửa; và khi bước xuống xe, tôi nhận ra tâm chấn của cơn cuồng phong ấy đã dời theo tôi, bởi tiếng gầm rú và sự hỗn độn ở đây thậm chí còn tồi tệ hơn, đang tụ hội thêm những nguồn lực mới. Thế nhưng chẳng ai cười cợt tôi, chẳng ai chỉ trỏ vào tôi, và thú thật là tôi cảm thấy khá hài lòng về bản thân—một thầy giáo làng, một trợ lý luật sư, đang được một nhà đầu tư lớn mong đợi! Tôi bước qua một mái vòm bằng đá cẩm thạch, hỏi một người đàn ông xem ông ta có biết hãng Clarm & Ging ở đâu không, và hắn chỉ tay về phía chiếc thang máy—tôi thừa biết nó là cái gì—rồi hét lên một con số. Tôi bước vào và được bắn thẳng lên tầng tám. Tôi gõ cửa nhưng chẳng ai mở. Ở đây chẳng có chuông cửa để bấm, thế là tôi gõ to hơn nữa nhưng vẫn chẳng một ai hé cửa. Đây quả không phải là sự tiếp đón nhã nhặn mà tôi hằng mong đợi. Nhưng trong lúc tôi đang đứng đó, một người đàn ông tiến đến và cứ thế bước thẳng vào trong mà không thèm gõ cửa. Tôi nghĩ hắn hẳn là một trong những nhân vật mà tôi đang tìm kiếm, bèn lẽo đẽo bước theo sau, nhưng gã chỉ ngoảnh lại nhìn một cái khi vừa vào trong rồi lại thản nhiên bước ra ngoài mà chẳng nói năng gì. Tôi thấy một người đàn ông đang ngồi bên chiếc bàn giấy, bèn đưa cho ông ta tấm danh thiếp mà người bán đồ kim khí đã cho tôi. Ông ta nhìn lướt qua rồi nói: "À, cậu là Hawes phải không? Mica của cậu đâu?"
Tôi liền đưa nó cho ông ta, và hắn chăm chú săm soi qua một chiếc kính hiển vi. "Cậu đã khai thác sâu xuống dưới bao nhiêu rồi?"
– Không quá sáu phân đâu ạ.
– Thế á? Có nhiều loại kích cỡ thế này không?
– Chắc là cả đoàn tàu chở không hết ấy chứ, thưa ông.
– Ồ, thế cơ à. Nó trải rộng trên diện tích bao nhiêu đất?
– Tôi cũng không rõ lắm. Vẫn chưa khảo sát kỹ.
Câu hỏi này khiến tôi phải suy nghĩ. Mỏ quặng tuy nằm gọn trên đất của tôi, nhưng rất có thể nó đã lan rộng vượt ra ngoài ranh giới. Việc mua lại vài mẫu đất xung quanh vãi rêu ấy là vô cùng cần thiết, và tôi quyết định sẽ làm ngay điều này khi vừa trở về nhà.
– Để xem nào, nhà tư bản nói. Hôm nay là thứ Sáu. Ông Clarm đang đi vắng và phải đến thứ Hai mới về—ông ấy có một ngôi nhà nghỉ mát ở St. Jo, Michigan, và hiện đang ở trển. Nó nằm ngay bên kia hồ thôi. Hay là sáng mai chúng ta qua đó nhỉ. Thuyền khởi hành lúc chín giờ. Chắc sẽ là một chuyến đi thú vị đấy. Quyết định vậy đi nhé.
Ông ta quay lại với công việc của mình cứ như thể việc tôi chấp thuận đề xuất ấy là một điều hiển nhiên đã được định đoạt từ trước. "Làm sao mà cậu tình cờ phát hiện ra nó thế?" – ông ta hỏi mà chẳng thèm ngẩng đầu lên khỏi đống giấy tờ.
– Tôi đào đất để tìm giun câu cá.
Hắn hừ một tiếng. "Chắc là chẳng tìm thấy con giun nào đúng không?"
– Vâng, tôi nghĩ là không có.
– Tôi biết ngay mà. Giun đất và mica không bao giờ cùng tồn tại trên một thổ nhưỡng đâu. Địa hình hiểm trở lắm phải không?
– Có đá tảng ở cả hai bên.
Tôi tự nhủ phải ra dáng một doanh nhân chuyên nghiệp, không chủ động cung cấp thông tin nếu ông ta không hỏi tới; thế là tôi cứ ngồi đó, chăm chú quan sát hắn. Hắn ta là người bộc trực và điều này làm tôi rất ưng ý, bởi nó cho thấy tác phong quyết đoán nhanh chóng. Nhưng ngồi ngắm sự miệt mài của hắn mãi cũng chán, vì tâm trạng hắn cứ phẳng lặng như tờ và hắn giữ nguyên một tư thế gần như chẳng màng dịch chuyển, thế là tôi bắt đầu đi loanh quanh, ngắm nhìn những bức tranh treo tường vẽ các nhà máy và mỏ quặng. Trời oi bức và các khung cửa sổ đều mở toang, tôi phóng tầm mắt nhìn xuống dòng người bận rộn tất bật như kiến cỏ ngoài đường phố. Khung cảnh ấy mới khác biệt làm sao so với tầm nhìn từ ô cửa sổ nhà gỗ cũ kỹ của tôi; nhưng tôi tự nhủ không được tỏ vẻ kinh ngạc lố bịch, bởi sự ngỡ ngàng của một con người chính là tấm gương phản chiếu sự thiếu hiểu biết của kẻ đó.
– Cậu từng làm nghề gì? – nhà tư bản hỏi mà vẫn không ngẩng đầu lên.
– Có thể nói là chẳng làm nghề gì cả. Tôi từng đi dạy học, nhưng dạo gần đây tôi dành toàn bộ thời gian để nghiên cứu luật pháp.
Ông ta ngoảnh lại nhìn tôi rồi lại cắm cúi làm việc. Thời gian cứ thế trôi đi chậm chạp. Tôi nghe tiếng chiếc đồng hồ bỏ túi của hắn kêu lách cách rồi hắn đứng dậy.
– Chúng ta ra ngoài kiếm chút gì lót dạ đi, hắn nói. Có ghé quán nào cụ thể không?
– Không, tôi đáp, cảm thấy vô cùng đắc ý vì hắn cứinh rằng tôi rất rành rẽ các chốn ăn uống ở thị trấn này.
Chúng tôi bước ra hành lang và hắn hét lớn: "Xuống!". Hắn xô tôi vào một cỗ thang máy chen chúc cả đống đàn ông lẫn đàn bà, và mặc cho chúng tôi bị ép chặt vào nhau, chẳng một ai thèm để ý đến sự hiện diện của tôi cả; nhưng vừa bước ra ngoài, một cậu nhóc liền huýt sáo trêu chọc người đi cùng và hét lên: "Này, Samson!" Ông Ging lao vút ra khỏi vòm cổng, và tôi suýt nữa thì đâm sầm vào ông ta khi ông dừng lại trên vỉa hè để nói chuyện với một người quen. Họ song hành đi một quãng khá xa, vừa đi vừa gật đầu ra hiệu, và khi chia tay, Ging bảo với tôi rằng ông vừa mới tậu xong một khu đất phân lô. Nghe vậy, tôi liền tỏ vẻ vui mừng, nhưng trong lòng thì thấp thỏm không yên; tôi sợ rằng trước khi thương vụ khép lại, ông ta sẽ tự vướng bận vào quá nhiều giao dịch khác đến mức chẳng còn đủ tiền mặt để thanh toán cho mỏ mica. Càng đi ông ta càng rảo bước nhanh hơn, và bất thừng hắn lao õm qua một bức cửa tường, để rồi tấm cửa xoay bật ngược trở lại đập thẳng vào mặt tôi. Chúng tôi ngồi xuống một chiếc bàn và ông Ging bảo tôi cứ gọi bất cứ món gì mình thích, còn ông thì chỉ cần một ly cà phê và một phần bánh táo. Tôi đang đói ngấu vì chẳng màng ăn sáng và cảm thấy mình có thể ngốn sạch một miếng bò bít-tết to bằng cả tấm thảm yên ngựa, nhưng tôi đành bảo rằng cà phê với bánh táo là quá đủ với tôi rồi. Ông ta bắn sang tôi hàng loạt câu hỏi liên quan đến mỏ quặng, khoảng cách từ mỏ đến đường tàu, tình trạng của những con đường mòn xe ngựa, và đặc biệt là ông ta muốn biết liệu viên chức thuế vụ địa phương có hay chèn ép những chủ sở hữu bất động sản không thường trú ở đây hay không. Tôi bắt nhịp được cái giọng điệu nói nhanh như bắn súng của ông ta, bèn bập bẹ phun ra những từ ngữ, cố gắng tỏ ra ra dáng thương gia, nhưng chưa kịp trả lời hết các ý của ông ta thì ông đã ăn xong đĩa bánh và đang sốt ruột ngồi chờ tôi.
– Tối nay cậu có muốn đi dạo một vòng không? – ông ta hỏi, và chưa kịp để tôi đáp rằng mình rất muốn đi dạo, dẫu trong đầu chỉ mường tượng mơ hồ về ý của ông, ông đã nói thêm: – Và nếu chiều nay tôi rảnh việc, tôi sẽ dẫn cậu ra khu lò mổ gia súc.
– Tôi thích được ghé thăm thư viện lớn nhất ở đây hơn, tôi đáp.
– Chà, khoản này thì cậu làm khó tôi rồi đấy; tôi chẳng biết nó nằm ở đâu, nhưng chắc chúng ta có thể tìm thấy trên danh bạ.
– Tôi từng nghe nói về Viện Nghệ thuật ở đây. Chắc ông biết nó ở đâu chứ?
– À... ừ... tòa nhà thấp tầng nằm ven hồ ấy mà. Nhưng tôi chưa bao giờ có thời gian để bước chân vào đó. Thôi, chúng ta quay lại văn phòng làm việc nhé.
Tôi cắm cổ chạy đua với ông ta, nhưng cuối cùng vẫn thua sát nút, bởi hắn vốn quen thuộc đường sá hơn; và hắn hô lớn "Lên!" khi lao mình dưới vòm cẩm thạch. Tôi vội chộp lấy tay hắn giữ lại chốc lát, bảo rằng tôi chưa muốn lên sớm thế, rằng mình muốn đi dạo loanh quanh một lát rồi sẽ gặp lại hắn sau.
– Ờ, nhưng cậu sẽ quay lại chứ? Tôi đoán chúng ta sẽ chốt vụ mua bán mỏ quặng nếu thỏa thuận được các điều khoản. Chúng tôi cũng sở hữu một mỏ ở Colorado đấy. Nhất định phải quay lại đấy nhé. Lên nào!
Tôi bước ra giữa chốn cuồng phong đô thị và thầm cười trừ hắn—một nhà nhà tư bản đang ráo riết chạy đua với chứng khó tiêu, chạy đua với thời gian. Thảo nào mà hắn lại hói đầu và gầy guộc đến thế.
Tôi định bụng sẽ tìm một chốn thong thả để từ từ thưởng thức bữa trưa, và quả thực tôi tìm thấy rất nhiều quán xá, nhưng chẳng nơi nào mang lại cảm giác thong thả cả. Cuối cùng tôi vào một khách sạn, đánh một bữa no nê mà không phải nơm nớp lo chiếc ghế của mình bị ai đó tông lật nhào, rồi tôi quay trở lại tòa nhà Rookery. Ông Ging lúc này đang cắm cúi chìm đắm trong công việc, và trong căn phòng thông với phòng làm việc của ông có hai cô gái đang gõ máy đánh chữ lách cách rào rạt như thi thố. Tôi bước vào căn phòng này, và hai cô gái vẫn điềm nhiên làm việc cứ như thể tôi đang ngồi nhà nhìn sang dinh thự của vị Tướng quân thay vì đứng ngay đây ngắm họ. Một tiếng chuông reo vang lên trong phòng của Ging. Một cô gái bước vào trong và tôi nghe thấy giọng ông ta đang tuôn ra xối xả với cô ấy, chốc sau cô nàng quay ra với một tập giấy trên tay, rồi lại hầm hầm trút giận lên chiếc máy chữ. Ging lao vụt ra hành lang và lập tức cả hai cỗ máy đều im bặt, hai cô gái tranh thủ nhấm nháp mấy viên kẹo sô-cô-la, nhưng chỉ một tích tắc sau họ lại nhào vô cỗ máy làm việc như điên dại, bởi Ging đã quay trở lại. Tôi bước ngược vào phòng ông ta, và khi liếc mắt quan sát xung quanh, tôi thấy một cô gái ngước lên nhìn trần nhà rồi lại cúi gằm xuống sàn. Tôi thừa biết nàng đang chế giễu mình, và tận đáy lòng, tôi thầm xem nàng là kẻ thù.
– Tôi rất tiếc, Ging lên tiếng, nhưng có lẽ chiều nay tôi không thể rời văn phòng được rồi. Việc Clarm đi vắng khiến khối lượng công việc trút lên đầu tôi tăng gấp đôi. Dù sao thì tối nay chúng ta sẽ đi dạo. Chắc cậu cũng thường xuyên lui tới đây nhỉ.
– À, dạo này thì không, tôi đáp.
– Không ư? Thế thì chúng ta có thể tìm thấy khối thứ hay ho để thu hút sự chú ý của cậu đấy.
Tôi lại bước ra ngoài và lang thang đi dạo, nhưng không dám đi quá xa cái bóng của tòa nhà Rookery, bởi tôi biết rằng nếu lỡ lạc đường thì sẽ rất xấu hổ khi phải cất công hỏi đường quay về. Tôi thấy một người đàn ông đang đứng trên chiếc thùng gỗ bán bút máy. Hắn ta sở hữu một vốn từ ngữ vô cùng lưu loát, dẫu trông qua tôi thừa biết hắn chẳng qua đào tạo trường lớp gì. Hắn thu hút đám đông bằng những câu chuyện hài hước, cứ như thể mục đích trước tiên của hắn là mang lại tiếng cười giải trí cho công chúng rồi mới tiện thể kiếm sống qua ngày vậy, và lần đầu tiên trong đầu tôi loé lên suy nghĩ rằng kiến thức sách vở không thể thâu tóm tất cả mọi thứ, rằng những kẻ chỉ biết đọc sách suy cho cùng cũng chỉ thu lượm được những kinh nghiệm qua một tay người khác. Chúng ta buộc phải tuân thủ khuôn phép và nhìn nhận những quy chuẩn mà gu thẩm mỹ tốt đã vạch ra, nhưng suy cho cùng, hình mẫu tinh tế nhất và quy chuẩn hoàn hảo nhất chính là năng lực phán đoán bẩm sinh. Đôi khi chỉ một tai ngẫu nhiên cũng đủ khơi dậy thiên tài trong một gã khờ khạo. Tôi từng biết một chàng trai sống rất đỗi bình thường cho đến khi mắc một trận sốt nặng, và khi bình phục, năng lực thực tế của anh ta biến mất hoàn toàn, bù lại anh ta lại viết được một bài thơ chế khiến cả đất nước này phải cười lăn cười bò. Cứ thế, tôi miên man suy nghĩ khi ngắm nhìn gã bán bút máy kia. Hắn chắc chắn là một gã bịp bợm, thế nhưng tôi vẫn không khỏi thán phục trí tưởng tượng phong phú và tài năng thiên bẩm của hắn.
Khi tôi quay trở lại tòa nhà Rookery thì đã thấy Ging chờ sẵn ở đó. "Nào," hắn bảo, "chúng ta sẽ ra ngoài hóng gió một lát rồi đi ăn tối nhé. Cậu có ngại đi xa chừng mười hai dặm không? Cứ cách vài phút lại có chuyến tàu. Tôi có vài mảnh bất động sản muốn cho cậu xem mắt—biết đâu nó lại đóng vai trò quan trọng trong thương vụ của chúng ta đấy."
– Tôi không muốn nó đóng vai trò gì trong thương vụ của chúng ta cả, tôi đáp. Tôi chỉ muốn bán mỏ quặng để lấy tiền mặt.
– Vâng, dĩ nhiên rồi, nhưng biết đâu cậu có thể nhân đôi số tiền của mình nhờ bất động sản thì sao.
– Điều đó có thể đúng, nhưng tôi không phải là nhà đầu cơ; và nếu ông không chuẩn bị sẵn tiền mặt, thì hà cớ gì phải tốn thêm thời gian vô ích nữa.
– Tất nhiên rồi. Chẳng có thời gian nào bị lãng phí cả và sẽ chẳng có phút giây nào phí phạm đâu. Cậu hoàn toàn có thể tin tưởng tôi khi bàn đến chuyện tiết kiệm thời gian. Tôi chỉ nghĩ nhỡ đâu cậu lại thích một căn nhà ở khu Sweet Myrtle thì sao. Nơi đó đẹp tuyệt—có đủ ga, nước sinh hoạt, vỉa hè, hệ thống cống rãnh hẳn hoi. Nhưng nếu cậu không muốn đi thì thôi vậy. Tôi nói thẳng cho cậu hay là chúng tôi đã sẵn sàng thanh toán tiền mặt cho mỏ quặng của cậu rồi đấy. Phía sau chúng tôi là những tập đoàn tài chính hùng mạnh ở miền Đông cơ mà. Thôi, đi thôi nào.
Tối hôm đó chúng tôi đi xem kịch, và đối với tôi, ông Ging quả là một kẻ đồng hành nhà ngắt nhạt nhẽo. Hắn ngáp dài ngáp ngắn suốt vở kịch vĩ đại của Shakespeare, trong khi tôi thì chìm đắm trong cơn ngây ngất râm ran khắp cơ thể. Hắn chê diễn viên đóng quá tệ, và điều đó có thể đúng, nhưng đối với tôi, trước mắt mình chẳng phải diễn viên nào cả mà chính là một Hoàng tử Hamlet bằng xương bằng thịt; chẳng có sân khấu nào hết mà là cả triều đình Elsinore uy nghiêm. Hắn bảo sẽ ghé khách sạn đúng giờ để kịp bắt chuyến phà, và tôi vô cùng nhẹ nhõm khi hắn để tôi được chìm đếm trong không gian riêng của những suy nghĩ. Đúng chín giờ sáng hôm sau, chúng tôi bước lên một con phà màu trắng to lớn, tinh tươm và đầy sức hấp dẫn khiến tôi ngập tràn trong niềm vui sướng cùng sự mong đợi mới mẻ, và khi phà lướt sóng tiến ra giữa lòng hồ, tôi suýt thốt lên tiếng kêu vui mừng bởi khung cảnh trước mắt quá đỗi ngoạn mục. Tôi chưa từng tận mắt chiêm ngưỡng một vùng nước lớn bao giờ, từng chốc cố gắng mường tượng sự uy nghi của những con sóng, và giờ đây tôi đang đứng giữa chốn thơ ca cuộn trào—lúc thì trầm mặc tựa khúc ai ca màu xanh thẳm, lúc lại trong trẻo tựa khúc trữ tình tinh khôi, đổi màu theo từng tầng mây mỏng manh lấp lánh tận tầng cao. Được sinh ra và lớn lên giữa những khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ quả là một đặc ân, nhưng được tận mắt chứng kiến chúng lần đầu tiên vào lúc tâm hồn đã chín muồi, khi các giác quan đang khao khát những ấn tượng mới mẻ, thì thực sự là một hồng ân lớn lao. Sáu mươi dặm đường hành trình trôi qua nhanh như chớp, nhưng Ging lại tỏ ra chán ngán, sốt ruột giật nắp đồng hồ bấm giờ và cằn nhằn rằng chúng tôi đã trễ ít nhất mười lăm phút. Khi bóng dáng đất liền đã khuất hẳn tầm mắt, việc bất chợt nhìn thấy bờ bên kia hiện ra mới lạ lùng làm sao, và việc tự tưởng tượng mình đang cập một bến cảng xứ lạ là một sự liên tưởng tự nhiên nhất đời.
Đến bến tàu, chúng tôi thuê một chiếc xe ngựa chạy xuyên qua thị trấn, ngang qua những khu vườn cây ăn trái mộng mơ, ngược theo dòng sông có bờ dốc đứng để đến một ngôi nhà gỗ lớn tọa lạc trên đỉnh đồi cao. Clarm đang đi dạo trong sân, và với phong thái đảnh đạc cùng sự lịch thiệp vượt ngoài mong đợi—bởi tôi đã để Ging ảnh hưởng đến định kiến ban đầu về tính cách của đối tác hắn—ông ta bắt tay tôi và mời vào nhà. Mẫu vật mica được săm soi kỹ lưỡng, hàng loạt câu hỏi được đặt ra, và sau một hồi, ông Clarm bảo rằng sẽ rất hợp lý nếu ông Ging cùng tôi về quê nhà. Tôi vẫn đinh ninh quyết tâm mua thêm vài mẫu đất nữa, và tôi biết việc này sẽ không mấy dễ dàng nếu Ging kè kè đi theo, bởi hắn sẽ dễ dàng dấy lên sự hoài nghi trong lòng Parker, thế nên tôi đáp rằng mình sẽ không về thẳng nhà ngay, vì còn vướng bận chút công việc kinh doanh phải ghé lại Kentucky một ngày. "Nhưng tất nhiên việc ông Ging đến tận nơi mục sở thị mỏ quặng là điều cần thiết, và ông ấy có thể khởi hành vào ngày sau khi tôi rời đi để đến Purdy vào đúng ngày tôi tới nơi," tôi nói thêm.
Họ đã đồng ý với phương án này, bởi Ging còn phải giải quyết một thương vụ lớn khác đang đi đến hồi kết; và sau khi từ chối lời mời ở lại ăn tối, tôi cáo từ ra về, trong lòng thầm thấy mình thật là một kẻ dối trá, nhưng tôi tự nhủ sự lừa dối này không chỉ có thể châm chước được mà quả thực là một hành động lo xa đáng khen ngợi. Tôi xin mạnh dạn tuyên bố rằng để bảo vệ các lợi ích thương mại của mình, một người đàn ông đôi khi phải là một kẻ dối trá khéo léo và linh hoạt; và tôi không tài nào đồng tình với kiểu người chịu để mặc bản thân bị lừa gạt chỉ cốt sao giữ được cơ hội nói lên sự thật—tôi phải khẳng định rằng mình không thể xem một kẻ như thế là người chồng chu đáo hay người cha khôn ngoan. Hãy sẵn sàng chia đôi xu cuối cùng với bạn bè, đừng khép chặt trái tim trước những mảnh đời khốn khó, nhưng giữa chốn thương trường chiến trường này, hãy mưu cầu chiếm đoạt lợi thế của kẻ thù. Chính bằng lý lẽ này mà tôi đã cố gắng xoa dịu lương tâm khi rảo bước quanh thị trấn, dẫu có không dưới một lần tôi khựng lại, có ý định quay về nói cho họ sự thật. Nhưng lý lực phán đoán—xin phép được gọi nó là lý lực phán đoán—cuối cùng đã thôi thúc tôi giữ nguyên lời nói dối ấy.
Bên ngoài thị trấn là vô số lối đi nhỏ mọc đầy thảm cỏ êm ru cùng những vườn cây ăn trái sum suê hai bên. Giữa vòm lá xanh sẫm, tôi thấp thoáng thấy những quả lê ngả vàng, sắc đỏ rực của những trái táo; và lấp ló sau các bụi cây là những quả mâm xôi chín mọng trông như đôi mắt của chú hươu. Cuối một con ngõ là một khe núi sâu thẳm, một bên là sườn đồi thoai thoải cỏ xanh, bên kia là những bậc thang trồng nho, và tôi bước dọc theo khe núi lãng mạn ấy hệt như đang ở Thụy Sĩ hay nước Pháp vậy. Trên sườn đồi xanh ngắt tọa lạc một ngôi nhà tranh với hàng rào cao bao quanh phía sau, và khi đến gần, tôi chợt nghĩ sẽ thật là một đặc ân dịu êm biết bao nếu được bước chân vào ngôi nhà ấy và trò chuyện cùng những con người bình dị đang sinh sống ở đây. Bỗng nhiên, một tiếng hô vang lên khiến dòng máu trong lồng ngực tôi thót lại——
– Bắt lấy nó, Sam! Xông lên, Bob—bắt lấy nó nào!
Tôi lao vội về phía hàng rào, bấu lấy bờ rào kéo người lên để nhòm vào khoảng sân nhỏ bên kia; và kìa, chính là lão già Lim Jucklin đang quỳ rạp dưới đất, dùng chiếc mũ tát liên hồi xuống mặt đất. Tôi thả người nhảy xuống rồi chạy vòng ra cổng, đẩy nhẹ cánh cổng không phát ra tiếng động và bước hẳn vào trong. Lão già lúc này đang túm cổ một con gà nhét vào giỏ.
– Ồ, mày khoái đánh nhau đến tận phút chót cơ à? Rồi mày sẽ được toại nguyện thôi, cứ đợi đấy, ngay khi ta nhận được tin tức dưới kia gửi lên nhé. Chui vô trong đi. Lại đây nào Bob. Mày cũng phải vào nốt. Nó vừa mổ trúng mào mày phải không? Rõ chán, mày phải học cách né đòn cho dẻo dai hơn chứ. Trông mày chẳng nhanh nhẹn lanh lẹ bằng một con Bob khác mà tao biết đâu đấy. Nào mấy cậu nhóc, mọi chuyện ổn cả rồi, nhưng tao muốn chúng mày phải hiểu rằng... ơ kìa, thề có trận chiến Moses đập đá lấy nước! – lão kêu lên, lồm cồm bò dậy. – Khoan đã nào, đừng có mà táy máy sờ vào tao—ta đéo biết mày là thằng Bill bằng xương bằng thịt hay là hồn ma của nó nữa. Thề có chúa, nếu mày không phải là thằng Bill, tao xin nguyện làm dạ dày bê. Thề có trận chiến Moses đập đá!
Lão chồm tới ôm chầm lấy tôi không buông, và tôi cũng vòng tay ôm lấy lão.
– Đừng kể lể gì với tao lúc này hết nhé Bill. Tao đéo muốn nghe một chữ nào đâu, vì tai tao lúc này điếc đặc như cục đá kê yên ngựa rồi.
– Ông chẳng phải sợ điều gì đâu, bác Jucklin ạ. Cháu mang tin vui đến đây. Alf vẫn chưa ra được, nhưng cậu ấy nhất định sẽ ra. Cháu còn có tin khác nữa——
– Đã bảo là đừng có nói gì cơ mà. Điếc đặc như cục đá kê yên ngựa rồi cơ mà. Tao vứt cái khăn tay chó chết ấy đi đâu mất tiêu rồi nhỉ? Lại đây xem nào—mở tung từ trang đầu đến trang cuối. Mới nhét vào mũ phút trước mà. Cát ở cái bờ hồ quỷ quái này cứ bay vào mắt người ta. Vẫn chưa quen được với nó. Cầu Chúa lượng thứ cho cái tội lỡ miệng chửi thề như thủy thủ của tao nhé. Chắc là nhiễm thói quen từ mấy gã dưới bờ hồ rồi. Từ trang đầu đến trang cuối. Nào, chúng ta vào nhà thôi. Cửa chính vòng ra hướng bên kia đối diện với thung lũng cơ. Để tao vào trước; mày đứng chờ ở ngoài này đi. Cát từ hồ thổi thốc lên cứ bay vào mắt bọn chúng nó nữa kìa. Vẫn chưa quen nổi. Vào đây nào.
Trước hiên nhà mọc đầy hoa thúng quỳ đỏ rực, và tôi đứng đợi giữa khoảng sân ấy cho đến khi lão già mở cửa bước ra.
– Susan này, lão vừa bước vào phòng vừa cất tiếng gọi, cái thế giới này—ngay tại chốn này đây—chứa đựng nhiều điều bất ngờ hệt như một con gà chứa... chứa... ta cũng đéo biết chứa cái gì nữa. Nào, bà đừng có mà sụt sùi sướt mướt nhé, mà... bước vào đi Bill.
Bà cụ bật thốt lên một tiếng kêu rồi lao đến ôm chầm lấy tôi.
– Thôi nào, lão Lim vừa lẩm bẩm vừa lau nước mắt, đừng có khóc lóc thảm thiết thế chứ. Mọi chuyện đều ổn cả rồi. Ngồi xuống đây nào, chúng ta phải ra dáng những người tỉnh táo chứ. Phải thế chứ. Ổn cả rồi đấy, Bill ạ—họ hàng nhà cô ấy từng hiên thân chịu trận ngoài giàn thiêu cơ mà. Guinea đang bước xuống lầu kìa.
Tôi ngước nhìn về phía cầu thang, và Guinea đang rảo bước đi xuống căn phòng. Ôi, nụ cười rạng rỡ trên đôi môi nàng khi tiến về phía tôi! Nhưng nàng không đưa tay ra—nàng tiến đến sát bên tôi, đầu hơi cúi suýt chạm vào người tôi, nhưng đôi tay thì giấu phăng ra phía sau lưng, tôi lờ mờ thấy hai bàn tay đang đan chặt vào nhau. "Chưa đâu," nàng ngước lên nở nụ cười nói. "Nhưng anh đừng có mà nghĩ xấu về em, đừng có nổi giận nhé. Cứ để em được sống theo ý thích kỳ quặc của mình cho đến khi toàn bộ cuộc đời em chính thức thuộc về anh."
– Con mụ này nói năng cứ như thể viết sách ấy nhể! – lão già la lớn. – Cứ để nó nói theo kiểu ấy đi Bill. Bác tuy đéo hiểu hết ý nó muốn ám chỉ cái gì, nhưng bác thừa biết mọi thứ đều tốt đẹp cả. Chúa ơi là Chúa, sao mấy người đàn bà tụi bây không đi kiếm gì cho nó ăn đi hả? Tiện thể kiếm cho tao luôn, đói cồn cào như con gấu cái nuốt chửng đám trẻ con rồi đây này. Tao cầu xin tụi bây ngồi xuống ghế giùm cái. Buông thằng bé ra đi Susan. Chẳng có chuyện gì trắc trở với nó đâu—chỉ là đói rã họng như sói đói thôi chứ gì. Nào, chúng ta cùng ngồi vào bàn thôi.
Với cánh cửa mở toang đón luồng gió mát rượi thổi lồng lộng, với hương thơm ngọt ngào của hoa trái đang mùa chín mọng phảng phất trong không gian, cùng những khóm hoa thúng quỳ khẽ gật đầu chào chúng tôi, chúng ta ngồi bên nhau trong căn phòng khiêm nhường ấy, cảm thấy thân thuộc hệt như ở nhà dẫu đang đứng giữa một vùng đất lạ. Tôi kể cho họ nghe tất cả những chuyện đã xảy ra với mình. Tôi từ tốn dẫn dắt câu chuyện đến việc phát hiện ra mỏ quặng mica. "Và giờ đây," tôi nói thêm, "chúng ta sẽ quay trở lại đó, không còn nghèo khó nữa, mà là giàu có. Không thể biết chắc họ sẽ trả chúng ta bao nhiêu tiền đâu."
– Không phải chúng ta đâu Bill, lão già xen vào, chậm rãi lắc đầu; không phải chúng ta, mà là cậu. Nó là của cậu, của riêng cậu tất. Cậu đã mua mảnh đất đó và tất cả mọi thứ nằm trên hay nằm dưới nó đều thuộc về quyền sở hữu của cậu.
– Không đâu bác Jucklin, nó thuộc về bác, về Alf và cả cháu nữa. Sẽ có đủ phần cho tất cả chúng ta, nhưng dù ít ỏi thế nào đi nữa, bác và Alf nhất định phải được chia phần. Cháu chỉ mới bắt đầu nhận thức trọn vẹn điều đó—nhưng cháu biết chắc chúng ta đã trở nên giàu có. Cháu cần phải quay trở lại đó ngay lập tức, tôi nói thêm. Cháu phải mua lại một vài mảnh đất của Parker, nhưng cháu đã trót gạt Clarm & Ging rằng cháu sẽ ghé lại Kentucky một ngày. Cháu không muốn bọn họ đánh hơi được ý định mua thêm đất. Dù sao thì đó cũng chẳng phải việc của họ. Thế nên cháu phải có mặt ở Purdy trước Ging một ngày. Cháu mang theo sẵn tiền mặt đây rồi, chiều nay chúng ta sẽ cùng lên đường nhé.
Lão già buồn bã lắc đầu. "Bác không đi được đâu Bill; chưa thể quay lại lúc này được. Nếu nó được tuyên trắng án, rũ sạch mọi tội danh, bác sẽ về lại trển, còn nếu không thì bác thề không bao giờ bén mảng đến cái bang đó nữa. Thế nên chúng ta cứ chờ ở đây cho đến khi phiên tòa tiếp theo diễn ra. Bác chẳng quyết định điều gì trước thời điểm đó đâu. Cứ để cậu lo liệu xuôi chèo mát mái mọi việc rồi thông báo kết quả cho bác hay. Bác những nơm nớp lo sợ từ hồi rời khỏi dưới kia, chỉ sợ vô tình nghe ngóng được tin tức gì đó; và bác đã cấm tiệt không cho Guinea viết thư cho cậu. Ngày nào bác cũng dặn con bé 'chưa tới lúc'. Con bé cứ nằng nặc đòi viết, nhưng bác quyết không cho."
– Cháu sẽ chiều theo ý bác, bởi cháu biết mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đấy thôi. Conkwright đã nói thế, và anh ấy là người rành rẽ mọi chuyện. Làm sao mà hai bác lại tình cờ tìm được chốn này thế ạ?
Lão già cười lớn. "Thì thế này nhé con, tụi bác bước lên tàu, và khi nhân viên nhà ga hỏi tụi bác muốn đi đâu, bác bảo cứ chở đi đến tận cùng tuyến đường của nó, chẳng phân biệt xa xôi cách trở gì sất; và mỗi lần đổi tàu bác lại đáp y chang câu nói đó với gã nhân viên tiếp theo. Nhưng rồi về sau tụi nó chảnh chọe quá cơ, nhất quyết không cho tụi bác lên tàu nếu không có vé, thế là đến Louisville bác đành móc hầu bao mua vé đi Chicago. Lúc đặt chân đến Chicago bác chẳng biết phải làm quái gì—thực ra đến bất cứ xó xỉnh nào bác cũng mù tịt chẳng biết làm gì sất; nhưng tụi bác cứ lủi thủi dò dẫm, tạt ngang tạt ngửa kiếm gì lót dạ qua ngày, rồi ngả lưng ngủ tại cái chốn ồn ào hỗn độn nhất mà đời bác từng thấy. Cái hồ nước đã níu chân bác lại, và bác lân la dò la xem chuyến phà đầu tiên khởi hành lúc mấy giờ, thế là tụi bác leo lên phà và tề tựu ở đây này. Khi bác thật thà khai báo với mấy người ở đây quê quán của mình, bác đã gồng mình thủ thế sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay với tụi nó rồi đấy chứ, ngặt nỗi bác phải thú thật rằng chưa ở đâu bác được đối xử tử tế hơn thế này trong đời. Đâu phải tất cả những con người lương thiện đều túm tụm lại hết vào một chỗ đâu con; và chuyến bôn ba giạt trôi này đã mở rộng tầm mắt bác không ít. Ôi, bác nhớ có dạo người ta từng có cái nhìn khinh miệt ra mặt với Conkwright chỉ vì bố nó không sinh ra ở miền Nam đấy thôi. Vậy mà ở đây, ngẫm mà xem, họ giao việc ngay cho bác—đúng hơn thì họ gọi đó là công việc, nhưng bác thấy chẳng khác nào đi chơi—đó là đi hái trái cây. Chứ ở xứ mình á, hễ gã nào muốn nghỉ ngơi thư giãn là xách giỏ đi hái trái cây liền, miễn là kiếm được cây nào có quả. Đấy, thế đấy con ạ, và bác quyết định bám trụ lại chốn này cho đến khi con mèo nhà ta tung ra cú nhảy quyết định ngã ngũ."
Họ chăm chú lắng nghe tôi kể chuyện về chốn cũ quê nhà với ánh mắt đầy trìu mến thiết tha, nhắc về những tán cây quen thuộc, về hòn đá lớn bên mép khe núi. Thậm chí tôi còn kể cho họ nghe việc vị Tướng quân tỏ ra tiếc nuối vì hôn sự đổ vỡ, việc ông ta từng đến như một sứ giả, và lỗi lầm hoàn toàn thuộc về cậu con trai quý tử của ông. Guinea mỉm cười khi nghe đến đây, và tôi ngỡ như đôi mắt nàng bỗng trở nên thẫm màu hơn.
Tôi hay tin chuyến tàu của mình phải tận đêm muộn mới khởi hành. Tôi vô cùng mừng rỡ vì điều đó, bởi nó ban cho tôi thêm chút thời gian lưu luyến ngọt ngào; và vào buổi chiều, Guinea cùng tôi thong thả tản bộ ra bờ sông.
– Chúng ta sẽ thuê một chiếc thuyền nhỏ chèo ngược lên phía trên hòn đảo, tiến sâu vào những ngọn đồi thơ mộng nhé, nàng nói. Nhưng liệu anh có biết chèo thuyền không đấy? – nàng hỏi với vẻ mặt đầy lo lắng.
– Anh từng chèo thuyền vượt qua những dòng nước xiết mạnh hơn thế này nhiều, tôi đáp. Anh từng sống ngay sát bờ một con sông chảy xiết cơ mà.
Chúng tôi bước lên một chiếc thuyền thanh thoát và lướt đi nhẹ tênh trên mặt nước. Giờ là lúc tôi chìm đắm trong sự ngỡ ngàng và miên man ngẫm về những đổi thay đã qua—để thả hồn mơ mộng khi ngắm nhìn nàng ngồi thả một tay khỏa nước, bàn tay nàng, bàn tay của tôi, dẫu nàng chẳng thèm để tôi cầm lấy để dìu bước lên thuyền. Đối với nàng, dẫu đó là một vùng đầm lầy thì cũng trở nên hấp dẫn, huống chi giờ đây chúng tôi đang lang thang giữa chốn thiên đường. Những chiếc thuyền ngược xuôi trên sông; từng đôi tình nhân lướt qua, cất cao tiếng hát. Bờ sông bên này thật yên bình, với những sườn đồi thoai thoải và lác đác dăm ba ngôi nhà; nhưng bờ bên kia lại hoang sơ với những vách đá dựng đứng, những dây leo chằng chịt và những thân cây cổ thụ khổng lồ bị giông bão uốn cong vặn vẹo. Nơi đây một con suối nhỏ tuôn trào tiếng cười róc rách, khiến bao cặp tình nhân phải dừng bước lắng nghe, và trong dòng suối mát rượi ấy, người chèo thuyền trên phố giũ sạch những bàn tay phồng rộp vì chai sạn.
– Guinea, em có thấy vách đá cao ngất nghưởng ẩn giữa những rặng thông đằng kia không?
– Có chứ, trông nó quyến rũ làm sao phải không anh?
– Anh rất vui vì em nghĩ vậy đấy.
– Sao anh lại thấy vui vì điều đó?
– Vì em—ý anh là một người phụ nữ từng khăng khăng làm theo ý mình—biết đâu nàng sẽ sinh sống ở đó. Khi cuối cùng nàng đã chán ngấy lối sống ấy, và khi nàng bước đến bên một người đàn ông với đôi bàn tay rộng mở, anh ta sẽ đưa nàng về một ngôi nhà được cất trên vách đá kia, một chốn nghỉ mát mùa hè. Anh không đùa đâu nhé. Năm tới sẽ có một ngôi nhà xinh đẹp mọc lên ở trên đó. Em không thấy đất ở đó đang được rao bán đấy ư? Và chính trong ngôi nhà ấy, một người đàn ông sẽ đặt bút viết nên câu chuyện lịch sử về một người phụ nữ từng cố chấp làm theo ý mình và về một người đàn ông... ừm, anh khó lòng mà nói gì về hắn ta, nhưng anh sẽ không che đậy những lỗi lầm hay che giấu những điểm yếu kém của hắn đâu.
– Anh thực sự đang nói chuyện nghiêm túc đấy chứ, anh Hawes?
– Thật chứ, anh nói bằng tất cả chân tình. Chẳng lẽ em không—ý anh là, chẳng lẽ người phụ nữ từng kiên quyết làm theo ý mình ấy—chẳng lẽ nàng không thích một tổ ấm ở trên đó hay sao?
Giọng nàng cất lên với tiếng lách cách du dương từng làm tôi say đắm biết bao lần. "Nàng có thể hạnh phúc ở bất cứ nơi đâu miễn là ở bên người đàn ông đã dung túng cho sự ngang bướng của nàng, và em biết chắc nàng sẽ vô cùng thích thú được sinh sống ở trên đó. Còn anh—ý em là người đàn ông ấy—sẽ không đốn hạ bất cứ gốc cây nào chứ?"
– Không một gốc nào hết. Anh sẽ cất ngôi nhà ngay giữa khoảng đất trống đó.
– Thật tuyệt vời, nàng thốt lên. Người ta có thể tạo ra cả một thứ tôn giáo ngọt ngào từ cuộc sống trên chốn ấy, với dòng sông, những ngọn đồi và hòn đảo—đẹp đẽ biết bao.
– Guinea, anh muốn em nói thật cho anh biết một điều. Đã bao giờ em thực sự yêu... hắn ta chưa?
– Khi nào em đến bên anh như em đã hứa, anh sẽ chẳng cần phải gặng hỏi em bất cứ điều gì nữa.
– Nhưng em có thể cho anh đôi chút manh mối về việc anh sẽ phải chờ đợi đến bao giờ không? Lô-gic niềm tin của anh dành cho em là tuyệt đối, nhưng em phải hiểu rằng chờ đợi là một sự hành hạ đớn đau. Giả sử rằng một điều gì đó mà em đang ngóng chờ—giả sử cuối cùng chẳng có chuyện gì xảy ra cả thì sao? Lúc đó thì thế nào?
– Bất luận chuyện gì xảy ra đi nữa, em nhất định sẽ đến bên anh. Em biết điều đó có vẻ ngốc nghếch, em biết những điều em cố gắng giải thích cho anh nghe hãy còn mơ hồ lắm, nhưng... anh sẽ kiên nhẫn chờ thêm một chút nữa, được chứ?
Giọng nàng khẩn khoản biết bao, điệu bộ của nàng tràn ngập vẻ bẽn lẽn xót xa, khiến tôi vội vã trấn an rằng tôi sẽ chờ đợi dẫu nàng có đày ải bắt tôi đợi đến bao lâu đi chăng nữa, và rằng sẽ chẳng bao giờ nàng còn tìm thấy lý do gì để quở trách sự thiếu kiên nhẫn của tôi thêm một lần nào nữa. Nàng mỉm cười cảm ơn tôi kèm theo vô số lời lẽ ngọt ngào tình tứ, và chúng tôi tiếp tục lướt đi, những chiếc thuyền lướt qua ta, văng vẳng tiếng hát của những đôi uyên ương từ phía thượng nguồn lẫn hạ lưu vọng lại. Chúng tôi cập bờ và leo lên vách đá, tôi chọn chính xác vị trí sẽ cất ngôi nhà; chúng tôi lang thang dưới bóng râm và đếm từng phút giây trôi qua vội vã như những cánh chim câu sổng bẫy, chẳng thể nào bắn hạ để níu chúng quay đầu; để rồi chúng cứ thế bay đi, và chẳng mấy chốc đã đến lúc chúng tôi phải quay về khi ánh dương đang dần lịm tắt. Chúng tôi xuôi dòng sông trở lại, miệng khẽ hát khúc ca "Juanita", nàng vừa khỏa tay vầy nước, vừa thẫn thờ chèo thuyền với tâm trạng chia tay, miên man ước ao giá như chuyến tàu lỡ hẹn đừng bao giờ rời bánh.
Nàng đứng sát bên tôi cạnh khung cửa. Lão già đang đứng đợi bên ngoài để tống tiễn tôi ra ga tàu. Nàng cúi đầu và tôi đặt một nụ hôn lên mái tóc thơm ngát của nàng.