Sáng hôm sau, khi tôi rảo bước thật nhanh để bù lại quãng thời gian chần chừ đầy lo lắng ở hành lang và vội vã tiến về phía trường học, tôi chợt nghe thấy tiếng vó ngựa phi nước đại. Ngoảnh đầu lại, tôi trông thấy cụ tướng quân Lundsford đang phi tới như một kỵ binh xung trận. Nhìn thấy tôi, cụ bèn kìm cương lại và cho ngựa đi chậm dần cho tới khi đến một con lạch nhỏ – nơi tôi đang đứng khựng lại bên bờ để nhường đường cho cụ.
– Ơ kìa, chào buổi sáng, thầy Hawes. Quả là một ngày tuyệt đẹp, thưa thầy. Tôi đi cùng đường với thầy một đoạn ngắn, và nếu thầy chịu leo lên đây ngồi phía sau tôi, thầy sẽ được đi nhờ một quãng đấy.
Tôi cảm ơn cụ và bày tỏ rằng mình thích đi bộ hơn nhiều. Cụ vừa cúi đầu vừaõng dõng đáp: – Được thôi, thưa thầy, vậy tôi sẽ xuống ngựa đi bộ cùng thầy cho đến khi nào nhiệm vụ, thưa thầy, buộc chúng ta phải chia tay.
Tôi giục cụ đừng xuống ngựa, bảo rằng tôi có thể dễ dàng đi theo kịp tốc độ của con ngựa, nhưng cụ vẫn chống tay xuống đất tung người xuống ngay cả trước khi vượt qua con suối. Cụ lại cúi đầu một lần nữa và nói rằng mình muốn cùng chịu chung số phận với tôi. Thế là chúng tôi cứ thế bước đi, con ngựa lững thững theo sát phía sau, thỉnh thoảng lại dùng mõm dụi vào vai chủ để tỏ sự quấn quýt và trung thành. Tiết trời đang dần dịu lại, và cụ già ăn vận khá mát mẻ với bộ đồ trắng, đôi giày thấp cổ được đánh bóng lịch sự cùng chiếc mũ phana-ma. Cụ hào hứng cho biết cụ rất vui khi nghe tin tôi đang hòa nhập tốt với ngôi trường, và cụ tin rằng tôi sẽ mang lại những đóng góp to lớn cho cộng đồng.
– Tôi đã nghe về vụ âm mưu của nhà Aimes, – cụ nói, – và tôi rất mừng vì được gặp thầy, bởi tôi muốn bàn với thầy chuyện này. Thực chất của vấn đề không phải là việc dạo trước thầy đã cho tên Bentley kia một trận tơi bời, mà là vì lão già Aimes muốn giở thói hằn học, xúc phạm ngầm tôi bằng cách đối xử tệ bạc với một người từng được đón tiếp tại nhà tôi. Vấn đề là ở chỗ đó, thưa thầy. Lão nghe tin tôi đã chống lưng cho thầy tại bàn ăn nhà mình, và những gì em gái lão kể lại sau đó chỉ là cái cớ để lão bộc lộ cái tính khí thất thường ấy thôi, thưa thầy. Mà, nhân danh... – suýt chút nữa tôi đã thề bồi rồi đấy, thưa thầy. Xưa kia tôi hay chửi thề như một tay quản nô, nhưng tôi mới gia nhập hội thánh cách đây chưa lâu, và từ đó đến nay tôi vẫn luôn phải đi trên dây. Nhưng như tôi đang định nói dở, thầy không được để cho đám người đó làm nhục mình.
– Tôi sẽ làm tròn bổn phận của mình, – tôi đáp, – và bổn phận ấy không cho phép tôi chịu nhục.
– Tuyệt vời, thưa thầy; quá xuất sắc. Nói chung, chúng ta thường không kỳ vọng tìm thấy một khí phách hiên ngang ở một giáo viên – xin lỗi vì sự bộc trực của tôi, bởi như thầy biết đấy, một kẻ phải sống nhờ vào cả cộng đồng, một kẻ luôn tìm cách làm hài lòng nhiều người với đủ mọi tính cách khác nhau thì khó lòng thể hiện được sự độc lập và khí thế hành động vốn là đặc trưng của một người chỉ đứng vững trên danh dự, chẳng cần phải làm vừa lòng ai ngoài ý niệm riêng của bản thân về lẽ phải. Nhưng tôi lại quên mất. Cháu nội của đại úy Hawes thì đâu cần đến bài giáo huấn như thế. Gia tộc Aimes đúng là một lũ vô lại trơ trẽn, thưa thầy, nhưng một người quân tử thì lúc nào cũng có thể đứng cao ngạo mỉm cười trước bọn côn đồ. Scott Aimes, một tên khốn thô lỗ và do đó lại là đứa con cưng của bố hắn, từng có lần đe dọa sẽ trừng trị con trai tôi là Chydister – đứa hiện đang đi học đại học xa nhà. Và khi con tôi kể lại lời đe dọa đó, tôi đã không thốt ra một lời đáp trả nào. Tôi chỉ tay về phía khẩu súng săn treo trên khung cửa phòng đọc sách rồi thầm lặng tiếp tục đọc mục cáo phó trên báo. Khẩu súng ấy vẫn ở đó, thưa thầy, và bất cứ lúc nào thầy cần, cứ cất lời và nó sẽ thuộc về thầy.
Tôi thầm mỉm cười và nghĩ rằng có lẽ mình đang lấy được thiện cảm của cụ tướng quân – trước là nhã ý mở cửa thư viện và giờ là hiến tặng cả súng ống – nên tôi đã ngỏ lời cảm ơn sự quan tâm mà cụ dành cho một kẻ tha hương như tôi.
– Một người miền Nam có giáo dục thì chẳng bao giờ là kẻ tha hương ở miền Nam cả, – cụ bảo. – Chúng ta gắn kết với nhau bằng một tình cảm thắm thiết hơn bất kỳ mối tơ lòng nào từng tồn tại giữa những con người ở các vùng đất khác nhau trên thế giới này. Nhưng ngài lại lắc đầu buồn bã nói thêm: – Tôi chỉ sợ rằng tình cảm ấy đang phai nhạt dần. Giới trẻ của chúng ta đang dần ngấm sâu cái tinh thần thực dụng thương mại của miền Bắc. Tôi rất muốn tiếp tục cuộc trò chuyện thú vị và nâng cao này, nhưng đây là nơi tôi buộc phải chia tay thầy rồi.
– Tôi có thể giúp cụ lên ngựa chứ? – tôi hỏi, khi ấy cũng chẳng biết nên nói gì hơn.
Cụ đẩy lùi vành mũ ra sau và nhìn tôi với vẻ kinh ngạc.
– Thầy thật tốt bụng, nhưng tôi chưa đến nỗi phải cần người nâng đỡ đâu.
Tuy nhiên, cụ nhận ra ngay lời nói của mình hơi quá lời, bèn nở một nụ cười rạng rỡ và nói thêm:
– Xin lỗi vì cách nói năng có phần cộc lốc của tôi, nhưng sự thật là một người đã dành phần lớn cuộc đời gắn liền với yên cương sẽ cảm thấy kinh hãi khi nghĩ đến ngày mình phải cần người khác đỡ lên ngựa.
– Thưa Tướng quân, chính tôi mới là người phải xin lỗi, – tôi đáp và cúi đầu chào lại.
– Ồ không, tôi dám chắc là không! – cụ thốt lên rồi leo lên yên ngựa dễ dàng hơn nhiều so với dự tính của tôi. – Đó là do lòng tốt của thầy, thưa thầy; ấy là sự lịch thiệp, và dẫu sự lịch thiệp đôi khi có thể là một sự nhầm lẫn, thì nó vẫn là một đức tính. Hãy nhìn cánh đồng hoang đằng kia kìa, – cụ ngắt lời. – Thầy có gọi đó là sự tiến bộ của nền văn minh không? Nhân danh... – lại cái thừng đi trên dây đấy – đó chỉ là sự hoang tàn.
Có vẻ như lúc đi bộ bên cạnh, cụ coi tôi như một vị khách quý, nhưng giờ đây, khi đã ngự trên lưng ngựa còn tôi đứng dưới đất, cụ lại nhìn tôi như một người xa lạ tình cờ gặp trên đường.
– Sự trở lại của thịnh vượng, – cụ vừa nói vừa thu dây cương lại, – quả là một sự trở lại tuyệt vời. Thêm chừng một sự trở lại thế này nữa thôi là cái thế giới quái quỷ này sẽ chẳng còn chỗ mà sống nổi. Chúc thầy một buổi sáng tốt lành.
Ngay ngày hôm đó, cậu học trò với vẻ mặt cau có mà tôi từng thấy ở ruộng thuốc lá đã đến lớp. Tôi hỏi tên cậu ta và nhận được câu trả lời rằng cậu ta quên mang theo nó rồi.
– Có lẽ, – tôi nói, – em nên quay về nhà và lấy nó đi.
– Nếu thầy thấy cần nó hơn tôi thì chắc thầy nên tự đi mà lấy.
Câu nói ấy khiến đám trẻ bật cười. Cuộc chiến làm nhục tôi đã chính thức bắt đầu.
– Thầy hiểu vì sao em lại đến đây, – tôi nói, – và thầy phải nhắc em rằng nếu muốn ở lại đây thì em phải tuân thủ nội quy. Tên em là gì?
– Gibblits, – cậu ta đáp. Lũ trẻ cười rộ lên và cậu ta đứng đó nhìn tôi với một nụ cười nửa miệng đầy vẻ nham hiểm.
– Được rồi, trò Gibblits, sách vở của em đâu?
Cậu ta nhếch mép cười với tôi và đáp: – Chả có cuốn nào cả.
– Ờ, vậy cứ ngồi xuống đằng kia đi, lát nữa thầy sẽ tính sổ với em sau.
– Chả ngồi và cũng chả thèm để ai tính sổ hết.
– Thế thì, thầy sẽ tính với em ngay bây giờ đây.
Tôi lao tới túm cổ áo cậu ta, giật xốc lại gần mình rồi giáng cho mấy cái bạt tai. Khi tôi buông tay, cậu ta vừa tru lên vừa chạy thốc ra ngoài, rồi đứng lảng vảng ngoài bìa rừng một lúc để ném đá vào ngôi nhà. Cuộc chiến đã bùng nổ. Tôi thầm nghĩ thế nào trên đường về nhà mình cũng chạm trán với phe cánh nhà Aimes, nhưng khi đi qua tầm nhìn hướng về nhà họ, tôi chẳng thấy bóng dáng ai. Tôi thầm mong được nhìn thấy vẻ hoảng hốt ngọt ngào trên gương mặt Guinea khi tôi kể cho nàng nghe về mối hiểm nguy đang rình rập, và quả thực, có sự ngọt ngào hiện lên trên nét mặt nàng lúc nghe tôi kể, chỉ có điều không phải là nỗi lo sợ, mà là một nụ cười đầy thích thú. Phải chăng nàng chẳng mảy may quan tâm đến tôi? Những thành viên khác trong gia đình tỏ ra vô cùng lo lắng, nhưng điều đó chẳng thể bù đắp nổi sự dửng dưng ngoài mặt của cô gái ấy. Cụ ông hậm hực hừ mũi, bà Jucklin thì cuống quýt đến mức cố pha cho tôi một bát nước cháo ấm giải nhiệt vào bữa tối, thế mà Guinea vẫn bình chân như vại. Khi chúng tôi đã lên lậu trên phòng ngủ, tôi không sao kìm nén được mà phải thốt lên với Alf.
– Ồ, cậu chẳng bao giờ đoán trước được ý nghĩ của con bé đâu, – cậu ta nói. – Không phải vì nó không sợ, mà vì nó ghét phải phơi bày ra mấy cái cảm xúc kiểu đó. Tớ lấy làm tiếc vì chuyện này đã xảy ra lắm chứ. Nhưng chỉ có một lối thoát duy nhất thôi – cứ chiến đấu sòng phẳng nếu chúng dám giở trò tấn công cậu. Tớ không biết chúng định giở trò vào lúc nào, nhưng tớ sẽ dò la tin tức và tớ sẽ ghé qua trường vào chiều nay nếu nghe ngóng được điều gì. Đừng để nó làm cậu bận tâm; cứ coi như đó là một chuyện bất khả kháng đi.
Nó chẳng làm tôi bận tâm – việc tôi có thể đang đứng trước bờ vực của một rắc rối lớn thực ra chẳng hề làm tôi phiền lòng; thế nhưng hình ảnh nụ cười hời hợt của Guinea lại lạnh lùng đè nặng lên trái tim tôi, khiến tôi trằn trọc suốt cả đêm dài. Và khi tôi bước xuống lầu vào lúc bình minh, tôi bắt gặp nàng ở hành lang trên tay đang cầm một ngọn đèn. Nàng ngước nhìn tôi, một tay che ngọn đèn để gió không thổi tắt, rồi nở nụ cười, và trong nụ cười ấy chẳng có chút lạnh lùng nào, song cũng chẳng có lấy một dấu hiệu nào cho thấy nàng vừa trải qua một đêm lo âu trằn trọc. À này tình yêu hỡi, chúng ta cứ đòi hỏi đối phương không chỉ được hạnh phúc mà còn phải đau khổ theo ý muốn của chúng ta. Ta muốn làm mờ đôi mắt người khi mắt ta nhòa lệ; ta muốn bóp nghẹt trái tim người khi lòng ta trĩu nặng, và muốn đâm thấu nó bằng những niềm đau. Thế gian già cỗi này đã rót vào tâm hồn những đứa con của nó thứ trí tuệ tích lũy qua muôn đời, và nếu ta có thể nhìn ngắm từ một cõi khác, ta hẳn sẽ thấy tâm trí của những vĩ nhân lấp lánh tựa những vì sao, thế nhưng trái tim con người cho đến nay vẫn chưa chịu nhận sự giáo huấn nào, vẫn chưa có nổi một tầm nhìn khoáng đạt, mà chỉ biết nghẹn ngào chìm đắm trong chính dòng cảm xúc của riêng mình, y hệt như thuở ban đầu khi người thi sĩ đầu tiên đứng trên đỉnh đồi cất tiếng kêu than với một vị thần vô danh.
Tít tận phía bên kia thung lũng và vượt qua những ngọn đồi, vầng mặt trời đang lấp ló hiện lên sắc nét như một đường viền răng cưa chói lọi khi tôi bước ra để rẽ qua con đường xuyên rừng hướng về phía trường học. Tôi biết cô gái đang đứng ở khung cửa phía sau lưng mình. Alf và cụ ông đã ra đồng từ sớm; tôi có thể nghe thấy tiếng họ đang hò la với lũ ngựa; còn bà Jucklin thì đang ở trên lầu – chỉ còn lại Guinea và tôi ở đó. Tôi quay người nhìn nàng và một lần nữa nàng lại mỉm cười.
– Cả thế giới dường như đang nín thở chờ đợi một điều gì đó xảy ra, – nàng nói. – Với tôi, cảnh tượng lúc nào cũng có vẻ như vậy mỗi khi có một khoảng lặng trong bầu không khí ngay lúc mặt trời mọc.
– Em đúng là một sinh linh nhỏ bé đầy mộng mơ, – tôi đáp.
– Nhỏ bé ư! Ồ, anh không được gọi em là nhỏ bé. Em còn cao hơn cả mẹ cơ mà. Em không muốn làm một kẻ nhỏ bé, dẫu cho điều đó có dễ gợi lòng trắc ẩn hơn đi nữa. Em muốn mình trở thành người có quyền uy kiểm soát.
– Nhưng có điều gì có sức lay động quyền uy hơn là một lời cầu xin chứ? – tôi hỏi.
– Vâng, khi lời cầu xin ấy mang đầy vẻ đáng thương hại, nhưng em chẳng muốn bất kỳ ai phải thương hại mình đâu, – nàng cười nói. – Mấy người to lớn các anh hay có kiểu bề trên lắm. Trông anh sáng nay sắc mặt không được tốt cho lắm đấy, thầy Hawes ạ. Có phải vì anh đang mải lo lắng về mấy đứa con nhà Aimes khốn khổ kia không? Anh có thể tha lỗi cho em được không? – nàng nhanh chóng nói thêm. – Em không hiểu sao mình lại thốt ra câu đó nữa, lẽ ra em phải biết rằng anh chẳng hề sợ bọn chúng.
– Đêm qua tôi ngủ không ngon lắm, – tôi đáp, – nhưng tôi không hề nghĩ về đám con nhà Aimes. Em có muốn biết điều gì đã khiến tôi bận tâm không?
– Có chứ, chắc chắn rồi ạ.
– Việc đó có lẽ đòi hỏi sự bộc trực vượt quá mức cần thiết từ phía tôi, nhưng tôi sẽ nói cho em nghe. Dường như là tôi ngập ngừng.
– Nói tiếp đi chứ, – nàng giục.
– À, dường như là em tỏ ra dửng dưng một cách kỳ lạ khi tôi nói với em rằng tôi có nguy cơ vướng vào rắc rối với đám người đó.
Nàng đứng tựa đầu vào khung cửa. Tôi đăm đăm nhìn nàng, cố gắng dò tìm chút biểu hiện cảm xúc nào đó, nhưng chẳng thấy tăm tích của sự quan động nào; nàng vẫn bình thản và kín đáo.
– Em không hiểu tại sao anh lại nghĩ thế nữa, – nàng nói. – Sao em lại có thể nhẫn tâm đến vậy cơ chứ. Em thực sự lấy làm tiếc nếu có điều gì đó sắp làm gián đoạn công việc ở trường học.
– Ồ, – tôi đáp, có lẽ mang theo cả chút cay đắng trong giọng nói, – thực ra nó chẳng đáng là bao – ý tôi là lời đe dọa của mấy tên côn đồ đó – và việc tôi cứ nhắc đi nhắc lại về nó chẳng khác nào tự biến mình thành một kẻ ngốc. Hy vọng em sẽ tha thứ cho tôi.
Tôi vội vã bước đi với ngọn lửa giận vô lý sục sôi trong lòng, và tôi nghĩ thật may mắn làm sao khi sáng hôm ấy trên đường đến trường tôi đã không chạm trán với bất kỳ thành viên nào của gia đình nhà Aimes.
Mọi việc diễn ra suôn sẻ như thường lệ; giờ ra chơi đến, lũ trẻ hò hét vang dội trong khu rừng, và thời điểm tan trường sắp đến thì Alf thình lình bước vào với một khẩu súng săn trên tay. Cậu gật đầu chào tôi và chọn một chỗ ngồi tận góc phòng phía sau cùng, ra điều cẩn trọng để không làm gián đoạn những nghi thức cuối ngày. Và khi đứa học trò cuối cùng đã rời đi, người bạn của tôi bước lên phía trước, đầu khẽ lắc lư.
– Có rắc rối gì nữa thế? – tôi hỏi, với tay lấy chiếc mũ.
– Cất ngay cái mũ đó lên đi, trừ phi cậu muốn đội nó ở trong nhà này luôn, – cậu ta nói. – Tớ vừa dò la được tin bọn chúng đang mai phục sẵn để đón đường cậu đấy, và giờ mà đi về thì không an toàn chút nào đâu; chúng ta phải chờ cho đến tối mịt thôi. Ồ, bọn chúng nhất định sẽ tóm được cậu nếu cậu cứ đi lúc này đấy. Tớ nghe nói chúng đã lượn ra thị trấn và tha hồ nốc đẫy whiskey rồi. Ồ, giờ thì chúng gan lì chẳng khác nào sư tử ấy chứ. Nhưng chúng ta sẽ trị được chúng thôi. Cứ chờ tới tối hẳn rồi đi đường tắt qua rừng, và sáng mai chúng ta sẽ sang xem chúng còn muốn buông lời gì nữa.
– Alf, tôi chẳng biết phải bày tỏ lòng biết ơn của mình với cậu thế nào cho phải. Cậu đang phải gánh chịu một rủi ro quá lớn...
– Đừng có nhắc đến chuyện đó nữa, Bill. Cậu đã đứng về phía tớ cơ mà – cùng tớ hiên ngang bước thẳng vào nhà vị Tướng quân, và tớ tự nhủ rằng nếu cậu có sa chân vào hoàn cảnh ngặt nghèo nào thì tớ cũng sẽ có mặt để sát cánh cùng cậu. Cậu có mang theo súng lục chứ?
– Có, và tôi vô cùng mừng vì đã không chạm trán tên nào trong số bọn chúng trên đường tới đây. Dù vậy, có gặp ngoài đường thì tôi cũng chẳng nhận ra nổi mặt mũi đứa nào.
– Rồi chẳng mấy chốc cậu sẽ nhận ra chúng thôi. Mấy cánh cửa này có khóa được không?
– Tôi nghĩ là không, hoặc ít ra thì chúng cũng rất dễ bị phá tung. Cậu có nghĩ là bọn chúng sẽ...
– Bọn chúng bây giờ thì chuyện quái gì cũng dám làm hết, – cậu ta cắt lời. – Hơn nữa có đúng bốn tên đủ vóc dáng để thượng cẳng chân hạ cẳng tay – ý tớ là đám thanh niên ấy, chứ lão già kia thì còn đủ khôn hồn để tránh xa mấy vụ này.
– Thế thì thật lạ, – tôi nói, – khi lão ta lại không có đủ sự khôn ngoan để ngăn cản các con trai mình, vì lão thừa biết sẽ chẳng có điều gì tốt đẹp xảy ra từ mấy chuyện này.
– Điều đó thì đúng hoàn toàn rồi, – Alf đáp, – nhưng tớ từng nghe nói cậu chẳng thể lý luận nổi với bản năng của một con thú vô tri, và tớ biết rằng việc đôi co với hơi men nồng nặc cũng là vô ích. Nào, mau đẩy cái bàn viết này chặn sát cánh cửa kia xem nào, – cậu ta nói tiếp. – Thêm lần nữa đi, đẩy mạnh vào. Được rồi đấy. Giờ chúng ta sẽ chồng đống ghế dài chặn nốt cánh cửa bên kia. Còn mấy ô cửa sổ thì đành chịu chết chẳng làm gì được, chỉ đành tìm cách né tránh đường đạn của chúng thôi.
– Cậu nghĩ chúng sẽ bắn xuyên qua cửa sổ chứ? – tôi hỏi.
Cậu ta khựng lại, tay vẫn nắm chặt lấy một đầu chiếc ghế dài, quay sang nhìn tôi.
– Bill à, nếu không biết rõ về cậu thì tớ đã thề là cậu không phải người miền Nam rồi đấy. Cậu không biết rằng khi lũ rác rưởi da trắng nổi giận thì chúng sẵn sàng làm bất cứ thứ gì hay sao? Cậu không biết rằng chúng chẳng bao giờ thèm đếm xỉa đến hậu quả ra sao hay sao?
– Tôi biết tất cả những điều đó chứ, – tôi đáp, – nhưng tôi đang suy xét về nguyên cớ của sự việc. Tôi biết nếu cậu cho bọn nhà quê nghèo một lý do thì chúng sẽ làm mọi chuyện tới cùng, nhưng liệu tôi đã cho chúng một lý do nào chưa?
– Cậu đã trao cho chúng tất cả những cái cớ mà chúng thèm muốn rồi. Thêm một chiếc ghế nữa nào. Thế. Và giờ thì mức độ điên cuồng trong cuộc giao tranh của chúng sẽ phụ thuộc vào lượng rượu mà chúng đang mang theo người đấy. Tớ không hề hé răng với ai ở nhà là tớ sang đây đâu – chỉ bảo với họ rằng tớ có thể sẽ gặp cậu và hai đứa sẽ về muộn thôi. Tớ sẽ chẳng lấy làm ngạc nhiên nếu...
Từ ngoài khu rừng vang lên một tiếng nổ đanh gọn của khẩu súng ngắn, tấm kính cửa sổ vỡ vụn thành một vòng tròn, một tiếng rít sắc lẹm vang lên và một mảng đất sét trát tường ở bức vách đối diện liền văng tung tóe.
– Tớ đã bảo mà phải không? – Alf nói, nhìn tôi với vẻ đắc ý như thể chứng thực cho lời tiên tri của mình. – Cậu né sang phía bên kia đi, còn tớ sẽ giữ chỗ này. Nằm rạp xuống sàn và ngắm qua khe hở giữa mấy khúc gỗ xem nếu tìm được chỗ trống, còn không thì cậy bớt đất ra, nhưng phải thật nhẹ nhàng nhé; bọn chúng có thể nhìn thấy đấy. Kìa, hắn lại ở đằng kia kìa.
Tấm kính ở ô cửa sổ còn lại cũng vỡ nát.
– Không sao đâu, – Alf điềm tĩnh nói. – Bọn chúng có thể sẽ xông lên tấn công chúng ta chốc nữa thôi, và lúc đó chúng ta sẽ cho chúng biết tay. Cậu tìm được chỗ nào chưa?
– Tôi làm xong rồi đây, – tôi đáp, nằm phẳng lì trên sàn nhà dán mắt nhìn ra ngoài. Phía bên tôi chưa có phát súng nào được bắn ra, và tôi bắt đầu nghĩ rằng toàn bộ đám tấn công đang tập trung đối đầu với phía của Alf thì trong ánh chiều đang nhạt dần, tôi thoáng thấy một bóng người đang đứng cạnh một gốc cây cách đó chưa đầy năm mươi thước. Hắn dường như đang nói chuyện với ai đó, vì tôi thấy hắn quay đầu lại và gật gù. Tôi không muốn tước đoạt mạng sống của hắn, dẫu luật pháp rành rành đứng về phía tôi, nhưng một người hoàn toàn có thể đứng vai kề vai với công lý mà vẫn làm tổn thương chính lương tâm của mình.
Một bóng người nữa lọt vào tầm mắt giữa những lùm cây, có vẻ như nhô lên từ bóng tối của đám lá rậm rạp, và rồi một tiếng hô vang dội cất lên:
– Lũ hèn nhát kia, giỏi thì bước ra đây!
– Đừng thốt ra một tiếng nào hết, – Alf dặn. – Bọn chúng đang cố dò tìm vị trí của cậu đấy. Tớ vẫn chưa thấy bóng dáng ai cả, và trời thì sắp tối mịt đến nơi rồi. Nhưng tớ cho rằng cả hai chúng ta tốt hơn nên cùng nã súng để bọn chúng biết rằng ở đây có nhiều hơn một người. Chúng ta đâu có muốn chiếm chút lợi thế nào trước bọn chúng đâu cơ chứ, – cậu ta cười cợt nói thêm.
– Trông chúng ta chẳng giống như đang chiếm lợi thế chút nào cả, – tôi đáp. – Tôi hoàn toàn có thể hạ gục một tên đấy, Alf ạ.
– Quỷ thật, thật á? Thế thì làm đi chứ. Nào, để tớ xử lý hắn cho.
– Không, – tôi từ chối, xua tay ngăn cậu ta ra khỏi cái lỗ ngắm của mình. – Tốt hơn hết là đừng tước mạng sống của hắn cho đến khi chúng ta bị ép đến đường cùng.
– Nhưng giờ chúng ta bị dồn đến đường cùng rồi còn gì, cậu không thấy sao? Bọn chúng vừa nổ súng vào chúng ta đấy. Kìa, cậu thấy chưa!
Có vẻ như chúng vừa bắn một loạt đạn. – Để tớ xử lý hắn cho, – Alf nói.
– Để tôi thử xem sao, – tôi đáp. Rồi tôi thọc nòng súng lục qua khe hở, làm bộ nhắm thật cẩn thận và siết cò.
– Cậu hạ được hắn chưa? – Alf hỏi.
– Không biết nữa; trời tối quá chẳng nhìn rõ lắm.
– Thôi được, nếu tớ mà tóm được tên nào thì hắn xác định đi đời nhà ma, – cậu ta đáp, quay trở lại vị trí quan sát của mình. Chỉ một khoảnh khắc sau, tiếng súng nổ gần như đồng thời từ cả hai nòng khẩu súng của cậu ta đã làm rung chuyển cả căn nhà.
– Chẳng biết có bắn trúng tên nào không nữa, – cậu ta vừa nói vừa giật lùi lại để bắt đầu nạp đạn, – vì tối mịt thế này chẳng nhìn thấy gì rõ cả, nhưng tớ cá là hắn đang tưởng tượng có một trận cuồng phong vừa càn quét qua đám lùm cây đấy. Trời tối đặc thế này thì chẳng thấy gì nữa đâu, việc duy nhất chúng ta có thể làm lúc này là chờ đợi thôi.
– Chờ cái gì? – tôi hỏi.
– Chờ bọn chúng tìm cách phá cửa xông vào chứ gì nữa. Tớ nghĩ chúng sẽ làm thế sau khi đã nốc thêm vài ngụm từ cái chai kia. Bây giờ chúng ta hãy giữ im lặng tuyệt đối và quan sát nhé.
Mặt trăng vẫn chưa mọc và khu rừng vây quanh chúng ta tựa như một bức tường đen đặc. Gió chẳng thổi, không khí bên trong căn nhà ngột ngạt đến bức bối, và tôi có thể nghe rõ tiếng trái tim mình đang đập thình thịch nhói vào mặt sàn. Giờ thì nhìn ra ngoài cũng chẳng để làm gì nữa, vì chẳng thể trông thấy thứ gì nổi, tôi liền đứng dậy rồi ngồi bệt xuống, lưng tựa vào bức tường, cẩn thận tránh xa cái lỗ nhỏ mà mình vừa đục ra. Căn nhà tối đen như mực đến nỗi tôi chẳng thể nhìn thấy Alf đâu, nhưng tôi vẫn nghe thấy tiếng cậu ta, bởi cậu ta đang khẽ ngân nga một giai điệu:
– Hi, Bettie Martin, nhón gót cho thật xinh.
Mấy ngày nay cậu ta cứ ủ rũ chìm đắm trong nỗi sầu muộn vì tình yêu, thế nhưng giờ đây trong khoảnh khắc hiểm nguy này, tâm hồn cậu ta dường như lại trở nên nhẹ nhõm và ngân vang theo một điệu nhảy tưng bừng. Tôi từng chứng kiến không ít kẻ cảm thấy râm ran phấn khích đến tê người giữa bầu không khí đầy hiểm họa, cảm nhận được dòng máu sôi sục trào dâng và một niềm vui sướng tột độ, nhưng đó là trong những thời điểm kích động tột cùng, một thứ niềm vui sử thi kỳ lạ; thế nhưng làm sao một con người đang nằm phục trong bóng tối, mỏi mòn chờ đợi một thứ hiểm họa chưa rõ hình hài – làm sao hắn có thể trút bỏ gánh nặng trĩu oằn để cất lên một khúc ca tươi vui phơi phới cho được?
Tít dưới lòng thung lũng, một con cú mèo đang cất tiếng kêu rên rỉ, và bạn tình của nó trên đỉnh đồi liền cất giọng đáp trả tiếng gọi ấy, trong khi ngay trong căn phòng cạnh tôi là tiếng vỗ cánh phành phịch của một con dơi. Và rồi Alf bỗng im bặt đến mức tôi tưởng cậu ta đã thiếp ngủ mất rồi, nhưng chỉ lát sau tôi lại nghe tiếng cậu ta huýt sáo nhè nhẹ:
– Hi, Bettie Martin, nhón nhón gót cho thật xinh.
– Cậu có vẻ thảnh thơi tận hưởng ghê nhỉ, – tôi lên tiếng. – Nếu cậu mang theo một cây vĩ cầm thì khéo chúng ta đã có thể mở hội nhảy múa rồi đấy.
Tôi nghe thấy tiếng cậu ta khúc khích cười khi đang trườn người trên sàn nhà.
– Thú vị phết chứ bộ, – cậu ta nói, – đây là trò giải trí đích thực duy nhất mà tớ có từ hồi... tớ định nói là từ hồi chiến tranh, ngặt nỗi khi ấy tớ còn quá nhỏ để có thể nhập cuộc.
– Cậu nghĩ lúc này bọn chúng đang định giở trò gì hả Alf? – tôi hỏi.
– Chịu chết chẳng biết bọn chúng đang tính mưu gì nữa. Cậu thấy chán ngấy rồi phả?
– Thôi nào, tôi chẳng muốn cứ ngồi lỳ ở đây suốt cả đêm đâu. Chúng ta còn chờ cái gì nữa chứ?
– Lúc này thì khó mà đoán trước được điều gì, và nếu chẳng chốc nữa mà không có thêm tín hiệu nào khả quan hơn thì chúng ta sẽ phá vỡ cuộc hẹn này rồi chuồn về nhà thôi. Tiếng gì thế nhỉ?
Tôi lắng tai nghe nhưng ban đầu chẳng thấy động tĩnh gì, và vừa định mở lời bảo rằng chắc đó chỉ là con cú mèo lúc nãy lại sà đến gần hơn, thì từ một góc của ngôi nhà vang lên một tiếng lách tách đanh gọn từ đằng xa. Tôi nghe thấy tiếng Alf sột soạt đứng phắt dậy.
– Tiêu chúng ta rồi!
Quả đúng là như vậy, bởi lúc này chúng tôi đã có thể nhìn thấy ánh lửa bùng lên rực hồng hắt vào những lùm cây, và chỉ một khoảnh khắc sau, một tia sáng sắc nhọn rọi thốc vào bên trong, chiếu rõ hình bóng người bạn của tôi đang đứng đó với hai bàn tay thọc sâu vào trong túi quần.
– Mấy khúc gỗ cũ khô cong như thuốc súng thế kia cơ mà, – cậu ta thản nhiên nhận xét. – Chẳng mất mấy chốc để thiêu rụi cái xó này đâu.
– Thế chúng ta tính phải làm gì bây giờ? – tôi kêu lên. Lúc này căn phòng đã sáng rực lên và những cái bóng đang nhảy múa ngoằn ngoèo trên vách tường.
– Tớ đang suy nghĩ đây, – cậu ta vừa nói vừa đảo mắt nhìn xung quanh. – Bọn chúng sẽ bắt đầu xả súng vào đây ngay khi cái đầu hồi này cháy trụi cho mà xem. Ước gì lúc nãy tớ thấy được cái tên khốn kiếp lẻn ra đây châm lửa này nhỉ. Ồ kìa, ngọn lửa đã bén lên tận mái nhà rồi kìa.
Tôi cố gắng tỏ ra bình tĩnh và thản nhiên không kém gì cậu ta, thế nhưng lúc này tôi đã thực sự hoảng hốt và cuống cuồng thốt lên:
– Chúng ta sẽ bị thiêu chết như lũ chuột trong rọ mất thôi!
– Ồ, tớ cho là không đâu. Nào, chúng ta hãy cạy một tấm ván sàn lên rồi chui xuống dưới đó, nếu luồn ra được phía lùm cây thì chúng ta sẽ an toàn thôi. Có một khe hở ở đây này. Nhưng tớ không sao cạy nó lên được, – cậu ta nói thêm sau khi đã cố hết sức giằng giật tấm ván. – Cậu thử thọc ngón tay vào đây xem có được không.
Tôi quỵ xuống đầu gối, thọc mấy ngón tay vào khe hở. Ngọn lửa lúc bấy giờ đã lan rộng với tốc độ chóng mặt khiến không khí trở nên nóng rát và ánh lửa đỏ rực nhảy múa trên bức tường nơi cái bóng lúc nãy vừa bò tới; đồng thời chúng tôi nghe thấy tiếng đám con nhà Aimes hò hét điên cuồng ở khu rừng cách đó không xa. Dồn hết sức lực, tôi giật mạnh tấm ván lên; tôi chồm người dậy dồn trụ chân, và với một cú giật dứt khoát, tấm ván bùng bật tung lên với tiếng rách toạc kéo tôi ngã ngửa ra sàn nhà.
– Tiến lên nào, – Alf điềm tĩnh đứng đó nói, kẹp khẩu súng dưới nách. – Chui xuống dưới này rồi tìm đường mò ra phía đầu bên kia đi.
– Cậu xuống trước đi, Alf.
– Tớ thì vội gì đâu. Nhưng có lẽ tớ biết có một cửa ngõ mà lũ cừu hay chui qua vào mùa đông đấy. Theo sát tớ nhé.
Chúng tôi lao đầu xuống lớp bụi dày đặc ngột ngạt. Khắp nơi, lũ cừu và heo từng đào những cái ổ sâu hoắm trong lúc cuồng chân những đêm trời giá rét, thế nhưng có những chỗ sàn nhà nằm sát rạt mặt đất khiến tôi gần như chẳng thể bò lọt qua nổi. Chúng tôi nghe thấy một đầu mái nhà sập xuống, và tiếp sau đó là một loạt đạn nổ rền vang từ khu rừng vọng lại.
– Tớ đã bảo mà phải không? – Alf nói. – Dù sao thì chúng ta cũng nắm được chiến thuật của bọn chúng rồi. Tớ không nghĩ cậu có thể lách qua nổi chỗ này đâu, Bill à. Khoan đã, tớ có thể dùng súng gạt bớt đống đất đá này xuống. Ước gì lúc này tớ có một chiếc rìu nhỉ. Cậu đã bao giờ nhận ra một chiếc rìu tiện lợi thế nào chưa?
– Vì Chúa, để tôi tự xử lý cho, Alf. Tôi cảm nhận được sức nóng rồi đấy. Toàn bộ cái nhà này sẽ sập đè lên đầu chúng ta trong tích tắc nữa thôi. Thế là đủ rồi; tôi có thể lách người qua được.
Alf trườn người vào một trong những cái hố sâu và với tay ra sau kéo tôi qua.
– Bill, trông cái chỗ này cứ như được sinh ra để dành riêng cho cậu vậy, chỉ có điều tớ ước gì người ta làm nó rộng thêm chút xíu nữa thôi. Lại lần nữa nào.
Và thế là tôi giãy giụa còn cậu ta thì kéo hết sức.
– Tiêu tôi rồi, Alf ạ; tôi không chui ra nổi đâu. Cựu lấy thân mình trước đi nếu có thể.
– Nếu cậu không chui ra nổi thì tớ thừa biết là cậu chưa tiêu đời đâu, Bill, – cậu ta vừa đáp vừa cười, nhưng đó là một nụ cười tuyệt vọng hơn là vui thích. – Đừng có bỏ cuộc. Thêm lần nữa xem nào. Cậu sắp ra được rồi đấy. Tớ nói có sai đâu nào? – Cậu ta lại cười lên, nhưng lần này không phải nụ cười tuyệt vọng nữa. Lúc này chúng tôi đã chạm tới vách tường, ngay tại cái lỗ mà lũ cừu vẫn thường dùng để chui ra chui vào. – Lần này cậu ra trước đi, Bill nhé. Lệch hẳn sang phía bên trái ấy. Mấy lùm cây cách đây chưa đầy mười lăm bước chân đâu.
Với chút ít khó khăn, tôi đã lách người chui lọt qua lỗ hổng. Và giờ thì tôi đang đứng giữa một vùng ánh sáng chói chang và hầm hập hơi nóng. Một cơn gió nổi lên cùng ngọn lửa bùng cháy, phía sau lưng tôi là tiếng gầm rú đinh tai và tiếng đổ rạp của những thanh xà nhà. Tôi chẳng buồn ngẩng đầu nhìn lại mà lao thẳng về phía bụi rậm đang oằn mình ngả nghiêng như thể bị một cơn cuồng phong càn quét; và chỉ chưa đầy một phút sau khi thoát ra khoảng không bên ngoài, tôi đã đang bò xuyên qua một bụi gai đen đặc với Alf bám sát gót chân ngay phía sau. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã tìm thấy một lối đi của loài cừu bị che phủ bởi những thảm gai góc, và nhờ thế chúng tôi có thể di chuyển nhanh hơn. Đám con nhà Aimes vẫn tiếp tục nã đạn vào ngôi nhà đang bốc cháy dữ dội, rõ ràng là chúng vẫn chưa phát hiện ra việc chúng tôi đã tẩu thoát.
– Giờ thì chúng ta có thể đi bộ được rồi, – Alf thì thầm. – Rẽ xuống hướng bên phải này và tận dụng mấy bụi sumac làm bức bình phong che khuất tầm nhìn của chúng. Giờ thì chúng ta an toàn rồi.
Không một ai thốt thêm lời nào nữa cho đến khi chúng tôi leo lên tới một gò đất cao cách đó một khoảng khá xa. Lúc bấy giờ chúng tôi mới dừng chân và quay lại nhìn phía sau. Ngôi nhà cũ giờ đây chỉ còn là một đống tro tàn ngùn ngụt lửa đỏ. Alf đang đảo mắt dòm ngó xuyên qua những tán cây, rồi bỗng chốc ánh nhìn của cậu ta khựng lại. Cậu lên đạn khẩu súng và kê nó lên vai.
– Đừng, – tôi can thiệp. – Cậu sẽ chỉ phải hối hận thôi. Tôi chộp lấy khẩu súng và cả hai búa đập đạn đều sập xuống bàn tay tôi.
– Tránh ra! – cậu ta quát lệnh.
– Không, – tôi nói, bàn tay vẫn nằm gọn dưới búa đập. – Cậu không được làm thế.
Cậu ta trừng mắt nhìn tôi một thoáng rồi đành chịu để tôi giật lấy khẩu súng. Ngọn lửa lúc này đang lụi dần, và khi đưa mắt nhìn sang phía bên trái – hướng xuất phát những phát súng lúc nãy, tôi trông thấy hai tên trong đám con nhà Aimes đang đứng dưới một gốc cây.
– Bill, tớ thừa sức tiễn cả hai thằng chúng nó về chầu trời đấy, – Alf cất giọng buồn bã nói.
– Tôi biết chứ, anh bạn thân mến ạ, nhưng cậu không được làm thế. Cậu sẽ phải ân hận suốt đời đấy. Hãy để pháp luật trừng trị bọn chúng vào ngày mai.
– Không phải ngày mai đâu Bill, mà là ngay đêm nay. Ngày mai thì chúng chuồn mất tiêu rồi còn đâu.
– Được thôi; tùy cậu quyết định. Viên chức công quyền gần nhất ở đâu?
– Có một viên phó cảnh sát sinh sống cách đây chừng hai dặm, nằm ở phía bên phải đường về nhà chúng ta. Đi thôi.
Sau khi vòng qua một đoạn đường xuyên qua khu rừng, chúng tôi bước ra đường cái và rảo bước thật nhanh. Chúng tôi có lẽ đã đi được gần nửa quãng đường đến nhà viên phó cảnh sát thì nghe thấy tiếng đám con nhà Aimes đang lò dò bám theo sau, vừa say khướt vừa hò hét inh ỏi.
– Bọn chúng tưởng chúng ta bị thiêu cháy tiêu đời rồi đấy; nhưng chúng ta sẽ cho chúng sáng mắt ra. Nào, tránh vào lùm cây ven đường đi, và khi bọn chúng đi ngang qua, chúng ta sẽ cho chúng nếm mùi.
– Chúng ta sẽ ẩn nấp vào lùm cây, – tôi nói, – nhưng chúng ta sẽ không nã đạn vào bọn chúng đâu. Sang phía bên này đi. Đưa khẩu súng đây cho tôi.
Cậu ta giao khẩu súng cho tôi, và khi đứng sát bên tôi chờ đợi lũ côn đồ đi qua, tôi thầm nghĩ cậu ta gây ra một tiếng động ồn ào quá mức cần thiết, cứ như thể cốt để thu hút sự chú ý của chúng nhằm kiếm cớ nổ súng vậy.
– Giữ im lặng đi, Alf, – tôi thì thầm.
Bọn chúng lneb bước dọc theo con đường, miệng nghêu ngao một khúc ca tục tĩu. Có khoảnh khắc tôi gần như dao động muốn trả lại khẩu súng cho Alf, thế nhưng bài học vỡ lòng ngày trước – vụ mai phục tên Bentley – đã kịp thời kìm hãm tôi lại. Chúng tôi nghe thấy bọn khốn nạn vừa cười cợt vừa trò chuyện ngắt quãng giữa những câu hát.
– Có một khúc thịt heo quay nhắm lúc này thì tuyệt cú mèo đấy Scott ạ. Tao thấy bụng dạ cứ cồn cào ngứa ngáy làm sao sau màn phấn khích tối nay ấy.
– Ờ, nếu mày đang đói cuồng lên và thèm thịt heo đến thế, sao mày không quay lại cái xó đằng kia mà quắp lấy một miếng bọn mình vừa quay lúc nãy nhỉ?
Bàn tay Alf xiết chặt lấy đôi nòng súng và giật mạnh một cái, nhưng tôi đã gỡ ngón tay cậu ta ra và thì thầm:
– Thôi mặc kệ chúng đi. Chẳng có chút danh dự hay lòng trả thù nào khi đi bắn hạ một con thú cả.
– Tớ đoán là cậu nói đúng, – cậu ta đáp, nhưng không hề hạ giọng thì thầm chút nào, và ngay ngoài đường cái bỗng vang lên tiếng bước chân dồn dập rồi khựng lại hẳn. Tôi liền vòng một tay ôm lấy Alf và áp chặt bàn tay còn lại lên miệng cậu ta.
– Tiếng gì thế hả Scott?
– Tao có nghe thấy tiếng quái nào đâu.
– Tao tưởng vừa có ai đang nói chuyện cơ mà.
– Ừ, mày tưởng tượng giống như lũ da đen nhà Young ấy – thấy hạt dẻ ngựa lại ngỡ là bánh quy. Đi mau lên mấy đứa ơi. Tụi mình sang đánh thức lão già Josh dậy để kiếm thêm dăm chén rượu nữa nào.
Bọn chúng bước qua đi khuất, và khi tôi buông tay để Alf có thể cất lời, cậu ta liền bảo:
– Hay lắm. Bọn chúng đang định kéo đến nhà một tên da đen nào đó, và chúng ta sẽ có mặt ở đó đúng thời điểm bọn chúng vừa tới, và nếu chẳng thể kiếm được ai ngoài tay phó cảnh sát giúp đỡ thì chúng ta buộc phải cho một hai tên lên đường thôi. Giờ thì bám sát theo tớ nhé.
Cậu ta cắm cổ chạy bước đều qua khu rừng, nhún người vượt qua những thân cây đổ và lội tung tóe qua một con lạch nhỏ đoạn khúc sông rộng; còn tôi thì rảo chân bám sát theo sau. Tâm trí tôi từ lúc nào đã thôi không còn vương vấn về khoảnh khắc thoát chết trong gang tấc nữa; tôi chỉ mải nghĩ đến hình ảnh Guinea khi đứng đó, một tay che ngọn đèn giữa không trung.