Hàng xóm và cả gia đình bắt đầu chế giễu tôi từ thủa tôi còn thơ bé, và tôi nghĩ rằng lời nhận xét nghiêm túc đầu tiên mà cha tôi từng dành cho tôi là: "Bill, mày lười nhác đến mức chẳng thể làm nên trò trống gì ở đời này, nên tao đoán chúng ta đành phải cho mày đi làm thầy giáo thôi." Tôi chẳng hiểu tại sao ông lại gọi tôi là kẻ lười; chắc hẳn là vì dáng điệu vụng về của tôi thì phải. Lười nhác ư, chà, tôi có thể ngồi cả ngày câu cá ở một chỗ mà chẳng thấy con cá nào cắn câu, trong khi những kẻ chăm chỉ hơn, vì quá mất kiên nhẫn, sẽ buộc phải di chuyển chỗ này chỗ khác; mà tôi cho rằng sự kiên nhẫn chính là đỉnh cao của sự chuyên cần.
Với niềm tin rằng mình chẳng bao giờ làm nên tích sự gì, tôi dần bước vào tuổi trưởng thành đầy vụng về. Tôi lớn nhanh, và tôi thừa nhận rằng lúc nào mình cũng thấy mệt mỏi; mà có ai mỏi mệt hơn một thiếu niên đang tuổi ăn tuổi lớn cơ chứ? Các anh tôi đều là những kẻ chân tay hoạt bát và phán đoán nhạy bén, và tôi biết rằng Ed, người anh cả của tôi, từng giành được sự thán phục của cả xóm khi đổi ngựa với một kẻ lạ mặt và lừa hắn một cách không thương tiếc. Cha tôi đã cười biết bao, mẹ cũng cười nữa, nhưng bà dặn Ed không được làm thế một lần nào nữa. Tôi đã nhìn sự ca tụng ấy với biết bao ghen tị. Tôi thừa nhận bộ óc của Ed chẳng thông minh hơn tôi là mấy; và trong một đêm nằm trên giường, tôi đã lập một quyết tâm mạnh mẽ và thầm ôm ấp nó trong lòng. Tôi có một con ngựa, một con ngựa tốt; và tôi sẽ đem đổi nó lấy hai con ngựa—tôi sẽ lừa một ai đó và nhờ thế giành lấy sự kính trọng của mọi người. Bí mật của tôi thật ngọt ngào và tôi chẳng nói với ai nửa lời. Thật may mắn làm sao, một đoàn ngườiigan qua vùng; tôi quyết định bịp bợm đám kẻ cắp ấy. Tôi đến trại của họ, dắt theo con ngựa của mình, và sau một hồi kì kèo mặc cả, tôi trở về nhà với hai con ngựa. Lúc tôi về đến nhà trời đã tối, tôi dắt bầy ngựa vào chuồng, và khóa chặt bí mật của mình lại cho đến khi ánh nắng của ngày mới chiếu rọi vào nó. Chà, sáng hôm sau một con ngựa đã chết, và con kia thì cứng đờ đến mức chúng tôi phải đẩy nó ra khỏi chuồng. Cha tôi hầm hầm hắt hơi, tội nghiệp mẹ tôi thì khóc nức nở, và suốt mấy đêm sau đó tôi phải lẻn ra ngoài ngủ trong kho lúa, rúc dưới đống cỏ khô để khỏi phải nghe tiếng cười khúc khích đầy chế nhạo của anh trai Ed.
Chúng tôi sống ở miền bắc Alabama, thuộc một vùng quê vẫn luôn kiêu hãnh về sự tao nhã và văn minh của xã hội nơi đây. Khi ở một mình với những đứa trẻ nhỏ tuổi hơn, tôi có thể thốt ra những lời sắc sảo, và tôi từng nuôi hy vọng rằng khi bước chân vào những "buổi giao tế" trang trọng, tôi sẽ chỉ bằng một chiến tích trong một tối có thể tự đặt mình lên vị trí cao hơn hẳn những kẻ đần độn từng khúc khích cười chê tôi. Thời điểm ấy cuối cùng cũng đến. Có một buổi "tiệc tùng" diễn ra ở nhà một người hàng xóm, và tôi đã nhận được thiệp mời. Tôi có một bộ quần áo mới, và sau khi chải chuốt hết sức cẩn thận, tôi lên đường với một trái tim kiên định để bước vào chiến trường chinh phục. Nhưng tôi đâm chùn bước khi nhìn thấy dãy ngựa thuần chủng cột la liệt bên ngoài, và nghe thấy tiếng cười vui vẻ bên trong, một thứ âm thanh giễu cợt và không chút khoan dung; tôi đứng chết trân trên hiên nhà, thấy buồn nôn vì sự vụng về của chính mình. Tôi quá lớn xác, và tôi biết rằng mình đang làm căng phồng bộ quần áo lên. Qua khung cửa sổ, tôi có thể nhìn thấy một tên chải chuốt đang cười đùa với một cô gái, và tôi tự nhủ: "Nếu tao bắt gặp mày ở đâu đó tao sẽ cho mày một trận." Tôi chẳng quen biết gì hắn, nhưng tôi căm ghét hắn, bởi tôi biết hắn chính là kẻ thù của mình. Đối với một thanh niên vạm vỡ quá cỡ, luôn hổ thẹn với sức mạnh thô kệch chẳng khác nào loài bò mộng của mình, mọi gã trai hào hoa đều đáng ghét; và hắn cũng cảm thấy rằng một cô gái xinh đẹp chính là kẻ thù, bởi những cô gái với cái miệng xinh xắn hầu như lúc nào cũng cười cợt, và tại sao họ phải cười nếu không phải là đang cười nhạo hắn? Tôi đứng đó suốt một hồi lâu, làm căng từng đường kim mũi chỉ trên quần áo, đầy giận dữ và ước gì ngôi nhà bốc cháy. Tôi nghe thấy tiếng bước chân, và ngoảnh lại nhìn, tôi nhận ra một thành viên trong gia đình, một cô gái lớn tuổi và chẳng mấy ai đoái hoái. Tôi chẳng sợ cô ấy, nên tôi liền cúi đầu chào. Và tôi cảm thấy một sự lỏng lẻo bất chợt, một phần trang phục trên người tôi vừa bị đứt tung. Cô ấy gọi tôi là ông Hawes, đây là lần đầu tiên trong đời có người gọi tôi bằng một danh xưng khác ngoài cái tên Bill; cô mở cửa và mời tôi bước vào. Tôi phải cúi rạp đầu khi bước tới, và thế là tôi đã ở bên trong căn phòng với ánh đèn chiếu rọi xối xả vào người. Tôi bước lên một bước, và vấp phải thứ gì đó, rồi một kẻ ngốc nghếch cứ khúc khích cười tên là Bentley liền la lên: "Ô kìa, bé Willie đến kìa." Tôi chẳng biết mình đã chuồn ra ngoài bằng cách nào. Tôi nghe thấy một tràng cười vang dội, tôi nhìn thấy những khuôn mặt nhe răng cười nham nhở hòa lẫn vào nhau, và rồi tôi đã ở bên ngoài, đứng đó với bàn tay nóng hổi tì lên lớp sương giá bám trên thanh xà trên cùng của hàng rào. Ai đó đang giục tôi quay lại—đính là cô gái ít được chú ý kia—nhưng tôi cứ đứng lặng ở đó, để bàn tay nóng bỏng làm tan chảy lớp sương giá. Tôi lao ra khu rừng ngập ánh trăng, tóm lấy một thân cây non và suýt bứng nó lên khỏi mặt đất. Tôi đi dọc con đường hướng về nhà, nhưng rồi rẽ ngang và ngồi phịch xuống một khúc gỗ. Tôi cảm thấy một cơn đau nhói và xòe bàn tay ra—móng tay tôi đã cắm sâu vào lòng bàn tay từ lúc nào. Thế nhưng trong cơn thịnh nộ vô lý ấy, tôi đã hạ quyết tâm. Tôi sẽ mai phục Bentley và đánh cho hắn một trận. Tôi ngồi đó hết giờ này qua giờ khác. Những con ngựa bắt đầu thong thả đi qua; dọc theo con đường vang lên tiếng cười nói vui vẻ. Trăng sáng vằng vặc, và tôi có thể nhìn rõ mồn một những kẻ qua lại. Bỗng nhiên tôi chồm dậy khỏi khúc gỗ và chộp lấy dây cương của một con ngựa. Một cô gái thét lên và một tên đàn ông dùng roi quất vào tay tôi, còn tôi giật mạnh khiến con ngựa quỵ cả hai chân trước. Bentley hét lên rằng hắn sẽ giết tôi nếu tôi không buông tay, nhưng tôi chẳng thèm bận tâm; tôi giật phăng hắn khỏi lưng ngựa, đá văng khẩu súng lục của hắn sang bên kia đường, giáng cho hắn một cú trời giáng vào miệng rồi quăng quật hắn xuống đất. Cô gái đang hét oai oái kêu lên rằng tôi là một tên vũ phu, và tôi bảo rằng tôi có thể đánh nhừ tử cả họ nhà cô ta, một lời đáp trả vô cùng duyên dáng, tôi nghĩ vậy, nhưng sau này tôi mới nhớ ra rằng gia đình cô ta chỉ gồm có cô ta và một người bà già nua, và tôi đã phải gửi cho cô ta một lời xin lỗi cúi đầu nhận tội. Con ngựa của Bentley lúp xúp phi đi, và tôi bỏ mặc gã đó nằm dài trên đường, với cô gái đang đứng sững trên đầu hắn, la hét kêu cứu. Mọi chuyện diễn ra chỉ trong tích tắc, và với những bước chân nặng nề, tôi lầm lũi bỏ đi trước khi có ai kịp xuất hiện. Dĩ nhiên là đã có một vụ bê bối lớn nổ ra. Người mẹ tội nghiệp của tôi vô cùng đau buồn và nhục nhã, chẳng dám gặp mặt bất kỳ người hàng xóm nào; còn cha tôi thì thề rằng thay vì đi làm thầy giáo, lẽ ra tôi nên đi làm tướng cướp thì hơn. Các anh tôi định trêu chọc tôi một vố, nhưng tôi trừng mắt gầm lên một tiếng khiến họ sợ mất vía, và suốt một thời gian sau đó họ chẳng dám cười cợt trước mặt tôi. Tôi gần như tan nát cõi lòng vì nỗi nhục nhã ấy. Nếu tự khen ngợi một cách khách quan thì tôi vốn là một kẻ rộng lượng và tốt bụng; ngay từ khi còn là một đứa trẻ, tôi đã bày tỏ lòng vị tha đến mức đáng trách; tôi từng đem chia hết đồ chơi của mình cho người khác, và sự nhạy cảm của tôi mỏng manh đến mức tôi không thể chịu đựng nổi khi nhìn thấy một con vật đau đớn, và tôi nhớ có lần một ông lão đã cười nhạo tôi vì tôi không dám cắt cổ một con cừu khi con vật tội nghiệp ấy bị treo ngược hai chân lên. Thế mà giờ đây, tôi lại bị coi là một tên vũ phu nhẫn tâm. Gương mặt của Bentley cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi sợ rằng hắn có thể chết, và có lần khi nghe tin hắn khó lòng qua khỏi, tôi đã hạ quyết tâm đến gặp hắn để cầu xin sự tha thứ. Hai tuần đã trôi qua; trời tối mịt và mưa như trút nước, nhưng tôi chẳng màng đến việc mình bị ướt sũng. Tôi tìm thấy Bentley đang ngồi dậy với gương mặt quấn băng gạc. Mẹ hắn cau mày nhìn tôi khi mở cửa và thấy tôi đứng đó dưới dòng nước mưa xối xả, và phải mất một lúc bà mới mời tôi bước vào, và tôi nghĩ rằng bà đã đuổi cổ tôi đi nếu như hình dáng ướt sũng và tiều tụy của tôi không khơi gợi lòng trắc ẩn ở bà. Bentley chìa tay ra khi tôi bước vào phòng, và hắn nói: "Tôi không trách cậu đâu, Bill. Tôi cư xử thật hèn hạ, nhưng tôi chỉ muốn tỏ ra ra vẻ ta đây thông minh thôi." Cổ họng tôi nghẹn đắng, cảm xúc dâng trào khiến tôi phải mất một lúc lâu mới thốt lên được lời nào. Nhưng rồi một lát sau, tôi cất lời nói về trận mưa, và bảo hắn rằng tôi tưởng mình nghe thấy tiếng mèo rừng lúc đang đi tới, đó là một lời nói dối, bởi chẳng có âm thanh nào ngoài tiếng gió và tiếng mưa rơi trên những chiếc lá mục. Hắn cười và bảo rằng hắn đoán tôi cũng chẳng mấy hoảng sợ nếu con mèo rừng ấy lao vào tôi. Khi ấy tôi mới bảo rằng mình là kẻ hèn nhát nhất trên đời, và cố gắng chứng minh điều đó bằng cách đề nghị hắn cứ việc đá tôi bao lâu tùy thích miễn là hắn thấy vui. Tôi nói với hắn rằng mọi người đều khinh bỉ tôi vì cách tôi đánh đập hắn, tất cả mọi người, kể cả gia đình tôi, và rằng tôi hoàn toàn đáng bị những người lương thiện lên án. Chúng tôi trò chuyện rất lâu, và hắn cười rất nhiều, nhưng khi tôi nói với hắn rằng tôi sẽ sang làm việc không công cho hắn trong ba tuần, đôi mắt hắn rưng rưng ngấn lệ. Điều này lại khiến cổ họng tôi nghẹn lại và tôi chẳng thể làm gì ngoài việc khóc nức nở. Sau một hồi lâu, tôi hỏi hắn có thể làm ơn cho tôi một việc được không, và hắn đáp là được. Thế rồi tôi lấy ra một chiếc túi da nai đựng chiếc đồng hồ mà tôi mang theo, và nói: "Đây là vật từng thuộc về ông nội tôi, và nó được mẹ trao cho tôi khi tôi lên mười tuổi. Nó là một cỗ máy thời gian tuyệt đẹp và hoàn toàn bằng vàng khối. Giờ đây, tôi muốn cậu nhận nó như một món quà từ tôi. Cậu đã hứa sẽ giúp tôi một việc mà." Nhưng hắn quả quyết rằng mình không thể nhận nó. "Sao cơ, tôi sẽ tự khinh bỉ chính mình nếu làm thế," hắn nói. Tôi liền bảo rằng tôi mới là kẻ tự khinh mình nếu hắn không nhận. Mẹ hắn, người lúc nãy đã rời đi để chúng tôi ở lại một mình, bước vào, mỉm cười và bảo rằng tôi không được nghĩ đến chuyện vứt bỏ một chiếc đồng hồ quý giá như thế, vật tượng trưng cho sự tao nhã của ông nội tôi, nhưng tôi cứ thế đặt chiếc đồng hồ lên bàn rồi lao mình vào màn mưa và biến mất. Mẹ của Bentley đã mang chiếc đồng hồ trả lại vào ngày hôm sau, và sau đó trong vùng rộ lên lời đồn rằng tôi vì quá sợ sự trả thù của Bentley nên đã cố dùng một chiếc đồng hồ để hối lộ hắn. Bentley từng tuyên bố rằng tôi đừng hòng được làm việc cho hắn, nhưng khi mùa làm đất đến, tôi vẫn cứ sang và bắt đầu cày xới mảnh ruộng. Mẹ hắn chạy ra và bắt tôi phải dừng lại, nhưng tôi vẫn quay lại vào ban đêm và cày cấy khi người ta đã chìm vào giấc ngủ; và tôi cứ làm việc như thế cho đến khi phần lớn diện tích trồng bắp của hắn được cày xới xong xuôi. Những người hàng xóm xì xào rằng tôi đã phát điên, và vài ngày sau đó, khi tôi chạm mặt một người phụ nữ trên đường, bà ta giật phăng dây cương con ngựa già của mình để cố tránh xa tôi, và khẩn nài tôi đừng làm hại bà. Tôi từ bỏ mọi ý định muốn bước chân vào chốn "giao tế", và thế là, bị dồn ép trở về với chính mình, tôi bắt đầu hình thành thói quen của một người ham học; và để củng cố quyết tâm theo đuổi ngành luật của mình, tôi quyết định đi dạy học. Thế là, khi đã suốt trưởng thành—hoặc đúng hơn là khoảng hai mươi ba tuổi, bởi dường như tôi cứ tiếp tục cao lên—tôi sang một vùng khác và nhận lớp dạy học. Và họ gọi tôi là "Lazy Bill" (Bill Lười). Tôi chẳng tài nào hiểu nổi tại sao, bởi tôi chắc chắn rằng mình vẫn làm tròn bổn phận, tôi vẫn chơi bóng chày cùng lũ trẻ, thậm chí tôi còn củi lửa suốt cả ngày vào một ngày Thứ Bảy; thế mà khỉ thật, họ cứ gọi tôi là kẻ lười nhác. Tôi đã phàn nàn với một trong các ủy viên hội đồng quản trị; tôi lưu ý ông ta về sự thật rằng tôi làm việc rất vất vả, và ông ta đáp lại rằng kẻ làm việc vất vả nhất mà ông từng thấy chính là một gã lười nhác làm việc chỉ để "che mắt thiên hạ". Đi ngủ sau khi mặt trời mọc là một tội ác tày trời ở chốn thôn quê, và đôi khi tôi thức quá khuya bên những trang sách đến nỗi phải được gọi đến hai lần mới chịu dậy ăn sáng. Và chẳng có lượng công việc nào có thể bù đắp nổi sự nhục nhã ấy. Tôi dạy học suốt ba năm trời, và nhận ra rằng vào cuối khoảng thời gian ấy, tôi chẳng tiến gần hơn chút nào đến cánh cửa văn phòng luật sư. Có lần tôi đến gặp một vị thẩm phán già, một luật sư hàng đầu ở ngôi làng bên cạnh, và ngỏ ý rằng nếu ông nhận tôi, tôi sẽ làm việc không công đổi lấy quần áo mặc, và vị lão già hài hước ấy đảo mắt nhìn tôi từ đầu đến chân rồi đáp: "Tôi không có ý định mở xưởng dệt len nào cả. Sao cậu không đi làm việc đi?" ông ta hỏi. Tôi đáp rằng tôi đang làm việc đấy chứ, rằng tôi đi dạy học, nhưng tôi muốn trở thành một luật sư. Ông ta cười và bảo rằng dạy học thì không được tính là làm việc—tuyên bố đó là chốn dung thân cho những kẻ lười biếng và vô tích sự. Tôi bèn cả gan nhận xét rằng miền Nam sẽ mãi tụt hậu chừng nào những người làm giáo dục còn bị coi rẻ như một đống rác rưởi vô tích sự. Tôi bỏ đi, và vài ngày sau, một trong các ủy viên hội đồng đến tìm tôi và nói rằng tôi đã dám tuyên bố con cái họ là lũ rác rưởi vô thức, và vì thế họ không cần sự phục vụ của tôi nữa. Tôi trở về nhà. Các anh tôi đều đã đi vắng, và cha mẹ tôi thì sức khỏe suy yếu. Cha tôi qua đời chỉ trong vòng một năm, và chẳng bao lâu sau mẹ tôi cũng nối gót ông. Trang trại nghèo nàn và đã bị thế chấp, tôi tay trắng quay đi. Tôi nghe tin có nơi cần giáo viên ở Bắc Carolina, gần ranh giới bang Tennessee, và tôi quyết định nộp đơn xin việc. Tôi đi bộ ra ga tàu hỏa, cách đó hai mươi dặm. Tôi từng nói rằng mình ra đi tay trắng. Không phải vậy; tôi mang theo một chiếc vali, nhẹ nhàng quần áo nhưng nặng trĩu sách vở. Tôi đặt vali lên sân ga và đang sải bước qua lại thì nhìn thấy hai người đàn ông ăn mặc chỉnh tề, trông rất giàu có, đang đứng gần đó. Chẳng có gì to tát, và tôi sẽ chẳng thèm nhắc đến nếu không vì khoảnh khắc ấy tôi lại nhận được lời khích lệ đầu tiên trong đời. Một trong hai người, quay sang nói với bạn mình, nhận xét rằng: "Gã trai trông phong độ phát khiếp. Tao sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để được như nó, để có được sức mạnh và tuổi trẻ ấy." Tôi quay đi, khao khát được nghe thêm, nhưng lại sợ gã kia sẽ thốt ra điều gì đó làm hỏng bét tất cả. Nhưng hắn không làm thế. "Ừ," hắn đáp, "nhưng nó chẳng biết mình may mắn nhường nào. Chúa ơi, trông nó hệt như một con bò đực giống ngoại nhập." Tàu đến và tôi được chở đi vút qua những dòng suối, bên dưới những vách đá treo leo hùng vĩ; nhưng tôi chẳng màng nghĩ đến sự hùng vĩ của những vách đá hay vẻ đẹp của các dòng suối, bởi trong tâm trí tôi lúc bấy giờ đang ngân vang thứ âm nhạc tuyệt diệu từ lời khen ngợi đầu tiên từng được dành cho mình. Và tôi nhận ra rằng mình đã vượt qua lứa tuổi vụng về, rằng sức mạnh tự bản thân nó đã là một nét duyên dáng đáng ngưỡng mộ, rằng tôi nên cảm thấy biết ơn thay vì cứ mãi hoài niệm trong cay đắng những ngày tháng bị nhục nhã. Tôi nhận thấy một người phụ nữ đang nhìn mình, và ẩn trong đôi mắt ấy là sự quan tâm, và tôi biết rằng cô ấy không có thiện cảm với mình chỉ đơn giản vì cô ấy là một cô gái lớn tuổi và chẳng ai đoái hoái, bởi cô ấy rất xinh đẹp. Ngồi cạnh cô ấy là một người đàn ông, và tôi có thể thấy rõ gã đang thèm khát có được nụ cười của người đẹp. Gã căm ghét tôi, tôi nhận ra điều đó, nhưng gã chẳng thể cười cợt tôi được nữa. Tôi để ý thấy bàn tay và bàn chân của mình không quá to lớn, và điều này khiến tôi ngạc nhiên xen lẫn thích thú, bởi tôi sực nhớ từng nghe một cậu nhóc nói rằng bàn chân tôi là thứ to nhất mà nó từng thấy mà lại không có lá gan bên trong. Tôi với tay về phía quá khứ và xóa nhòa nó đi; tôi ngước nhìn đám mây rực rỡ lơ lửng ở phương Tây, và gọi đó là tương lai. Kẻ ngốc ư? Ồ, dĩ nhiên rồi. Tôi từng là một thằng ngốc khi còn bé, và giờ đây vẫn là một thằng ngốc, nhưng làm một thằng ngốc hạnh phúc thì khôn ngoan hơn biết bao.
Tôi sẽ phải xuống tàu tại ga Nagle, rồi từ đó đi một quãng đường dài vào vùng sâu vùng xa, hướng nào thì tôi hoàn toàn mù tịt. Tôi bạo gan hỏi người phụ nữ xinh đẹp xem cô có biết gì về vùng đất xung quanh Nagle không, và cô mỉm cười ngọt ngào, đáp rằng cô không biết, cô chỉ là một vị khách lạ đang trên đường đi về miền Nam. Tôi đã đoán trước được điều đó, và tôi bắt chuyện với cô ấy cốt chỉ để xem nó tác động thế nào đến gã đàn ông ngồi bên cạnh. Phải chăng niềm kiêu hãnh mới tìm lại được đang biến tôi thành một kẻ độc ác? Tôi tự hỏi mình như thế và tự trách bản thân. Người phụ nữ có vẻ muốn tiếp tục câu chuyện, nhưng gã đàn ông đã dập tắt tôi bằng lời nhận xét: "Tôi đoán là có điều gì đó mới mẻ trong chuyến đi tàu hỏa đầu tiên của ai đó." Tôi thèm khát biết bao được vươn tay tóm lấy tai gã, nhưng tôi chợt nghĩ đến Bentley và lại nhẫn nhịn. Khi tôi đứng dậy để xuống ga của mình, tôi có cảm giác như người phụ nữ ấy, lúc tôi lướt qua người, đã đưa tay ra như thể muốn trao tay cho tôi. Điều này rất có thể chỉ là sự xúi giục từ cái tôi đói khát lâu ngày nay lại được nuông chiều quá mức, từ bản ngã đang phình trướng của tôi, nhưng tôi vẫn thầm gửi một suy nghĩ biết ơn đến người phụ nữ ấy khi đứng trên sân ga trân trân nhìn đoàn tàu phai mờ dần trong bóng chiều chập choạng đang đổ xuống con đường như để đón lấy nó.
Tôi vốn hằng mong sẽ xuống tàu tại một thị trấn nào đó, nhưng nhà ga lại là một nơi quạnh quẽ, chỉ có một xưởng đóng xe ngựa, tòa nhà của công ty và vài mái lều tranh xập xệ. Tôi hỏi người trưởng ga xem ông có biết nơi nào đang cần giáo viên không, và ông ta đáp rằng nhìn qua cư dân quanh vùng này thì chắc nhà nào cũng cần một người.
—Và tôi nghĩ rằng,—tôi đáp, ném cho ông ta ánh nhìn mà tôi tự cho là nghiêm khắc quở trách,—một giáo viên dạy về phép lịch sự và sự đàng hoàng tối thiểu mới là thứ cần thiết nhất.
—Tôi đoán là anh đúng,—ông ta hùa theo.—Hắn ta có phải là người anh đang tìm không?
—Tôi không muốn gây rắc rối ở đây đâu,—tôi nói,—nhưng tôi đòi hỏi sự đối xử công bằng và tôi nhất định phải nhận được nó.
—Được rồi, thưa anh. Nào, thế anh muốn biết điều gì?
—Chà, người ta bảo tôi là ở khu vực này đang có chỗ trống cho một giáo viên.
—Thì đúng là có thật, nhưng anh không biết rằng chẳng có khu phố nào lại đi tự hào về cái sự thật ấy à? Thế nên, anh phải cẩn thận hơn trong cách đặt câu hỏi chứ.
Tôi nhận ra ông ta muốn trêu chọc mình và tôi liền tung hứng lại. Và tôi nhanh chóng nhận ra đây là một cách ứng xử đúng đắn, bởi ông ta mời tôi vào phòng làm việc và nài nỉ tôi chia sẻ bữa trưa với mình, gồm bánh mì khô, thịt nguội và một xô thiếc đựng đầy cà phê nóng hổi. Tôi mau chóng biết được rằng ông ta vừa tốt nghiệp trường đào tạo điện tín, và đây là vị trí công tác đầu tiên của anh ta. Anh ta đến từ thành phố và cho tôi cảm giác như mình đang bị chôn sống; anh ta bảo rằng mình đã thề độc trong sổ tay rằng nếu không có ai xuống tàu ở ga của anh ta sớm một chút, anh ta sẽ châm lửa đốt trụi tất cả rồi ra làm cướp tàu. "Anh không nghĩ đó là một ý hay ho sao?" anh ta vừa cười vừa hỏi.
—Ít nhất thì nó cũng khá nguy hiểm đấy,—tôi đáp.
—Đúng vậy, nhưng không có nguy hiểm thì chẳng bao giờ có chút vui thú nào. Ôi cái lão già nhà tôi cứ khăng khăng bắt tôi tham gia khóa học ca đêm đó; và vị giáo sư ở cái lò luyện ấy cứ gieo vào đầu tôi ý tưởng rằng tôi có thể trở thành một nhân vật vĩ đại chỉ một thời gian ngắn sau khi tốt nghiệp; khiến tôi tin sái cổ rằng mình có thể nắm quyền quản lý một văn phòng lớn ở thị trấn, thế mà rốt cuộc tôi lại bị nhét cái xó xỉnh đồi núi này. Chẳng có bóng hồng nào ở đây cả.
—Không có gì cơ?
—Bóng hồng, váy áo, phụ nữ ấy—hiểu ý tôi chứ?
—Ý anh là chẳng có xã hội nào đáng kể.
—Chính thế đấy. Ồ, sâu trong vùng quê thì mọi chuyện ổn thỏa, nhưng tôi chẳng thể đi quá ba dặm khỏi cái xó khốn khổ này. Còn anh thì phải đi khoảng mười lăm dặm đấy.
—Sao anh biết?
—Chà, có một lão già từ một vùng cách đây chừng ấy dặm đã ra đây hồi nọ để gửi một bức điện, nhắn cho một gã nào đó ở đâu tôi không nhớ nữa, là hãy cử một giáo viên đến đó đi.
—Và có khi người ta đã đến từ đời nào rồi ấy chứ,—tôi lên tiếng với một nỗi sợ mơ hồ.
—Không đâu, anh là kẻ duy nhất xuất hiện đấy, và cũng là kẻ duy nhất có khả năng đến đó. Tôi nghe nói họ không đối xử tốt với giáo viên ở trỏng cho lắm đâu.
—Sao lại thế?
—Lũ nhóc ở đó có thói quen dú đầu các thầy xuống suối, tôi nghe thế.
—Ồ, hóa ra chỉ thế thôi à? Vui phết đấy chứ.
—Anh sẽ không nghĩ thế sau khi diện kiến đám ác ôn đó đâu. Để xem nào. Cứ đi theo con đường mòn Purdy ngoài kia, cứ đi thẳng về phía hướng đông, và khi nào anh nghĩ mình đã đi được khoảng mười lăm dặm thì hãy hỏi nhà của Lim Jucklin. Thầy giáo trước, tôi nghe nói, trọ ở nhà lão ta đấy.
—Xem ra anh biết tường tận phết nhỉ.
—Chà, sự thật là thế, bởi vì thầy giáo trước cũng đến và đi theo lối này. Và hắn ta kể lại với tôi thế này: 'Mọi chuyện khởi đầu thì ổn thỏa, lắm váy nhiều áo phết, nhưng đến chiều tối hôm đó, một số thanh niên trong làng đến tìm tôi và bảo rằng nếu sáng hôm sau tôi không mang theo một thứ gì đó làm quà đãi, họ sẽ dìm cổ tôi xuống suối; bọn chúng bảo rằng rất tiếc phải làm vậy nhưng phong tục tập quán từ ngàn đời nay thì không thể bỏ. Tôi chẳng mang quà cáp gì sất và thế là tôi được xuống suối tắm mát. Rồi tôi chuồn luôn.' Vâng, hắn ta nói thế đấy, và tôi rút ra kết luận rằng đối với tôi, thà ở đây còn hơn. Chẳng náo nhiệt gì cho cam nhưng lại khô ráo hơn nhiều đấy. Mà tối nay anh không thể đến đó kịp đâu. Tốt hơn là hãy ngả lưng ở đây tạm qua đêm với tôi cho đến sáng mai, rồi may ra anh có thể bắt gặp lão nông dân nào đi xe ngựa qua ngả đó.
Tôi cảm ơn thị sự của anh ta và vui vẻ nhận lời. Và sáng hôm sau, với chiếc vali trên vai, tôi bước lên con đường mà tôi tin là sự nghiệp đời mình.