Tân Nam Cảng tại Bắc Mỹ, nơi đây hiện đã sớm là cảng thị lớn nhất của Đế quốc tại khu vực Bắc Mỹ, thậm chí còn vượt qua cả Tân Kim Sơn vốn đã phát triển từ nhiều năm trước.
Tân Kim Sơn tuy đã được khai phá nhiều năm, nhưng địa lý và khí hậu của toàn bộ bờ biển phía Tây Bắc Mỹ lại thua xa bờ biển phía Đông.
Bờ biển phía Đông Bắc Mỹ có những bình nguyên rộng lớn, tài nguyên khoáng sản phong phú, và điều quan trọng hơn là ở đây có rất nhiều sông ngòi, có thể tận dụng đường thủy nội địa để tiến sâu vào trong đất liền một cách hiệu quả.
Hiện nay, Đại Đường Đế quốc đã xây dựng vô số điểm định cư cho di dân tại bờ biển phía Đông; không chỉ khu vực ven biển, mà ngay cả các vùng bình nguyên trong đất liền cũng đã có rất nhiều di dân đến định cư.
Bắc Mỹ ngày nay, tuy chịu sự hạn chế của Ủy ban Xuất nhập khẩu nên không thể phát triển công nghiệp, thậm chí nhiều nơi còn không được sử dụng máy móc thiết bị, nhưng nhờ vào điều kiện tự nhiên trời phú, nền nông nghiệp ở đây đang phát triển vô cùng nhanh chóng.
Năm Tuyên Bình thứ ba mươi lăm, sản xuất nông nghiệp tại Bắc Mỹ không những có thể tự cung tự cấp, cung ứng lương thực cho di dân mới đến, mà còn có thể xuất khẩu với số lượng lớn.
Không ít lương thực ở bờ biển phía Đông đã được xuất khẩu sang khu vực châu Âu và Bắc Phi, trong khi lương thực ở bờ biển phía Tây đã có thể vận chuyển ngược về chính quốc.
Nếu là thời đại buồm, do tải trọng tàu thuyền thấp nên nếu kinh doanh vận tải lương thực đường biển đường dài, thực tế vì chi phí vận chuyển quá đắt đỏ, lương thực Bắc Mỹ vận chuyển về chính quốc cơ bản không có lợi nhuận, thậm chí còn lỗ vốn.
Thuộc dạng điển hình của việc tiền cước vận chuyển còn không kiếm đủ!
Ngay cả thời đại hơi nước hiện nay, tuy cước phí đã giảm mạnh so với thời đại buồm, nhưng xét về tương quan thì cước phí mậu dịch đường biển xa vẫn khá cao, không phù hợp để vận chuyển những loại hàng hóa số lượng lớn mà giá rẻ.
Lương thực chính là loại hàng hóa số lượng lớn giá rẻ như vậy, nếu thuần túy chỉ vì mục đích buôn bán lương thực thì các công ty vận tải biển sẽ lỗ vốn trầm trọng.
Thế nhưng, mậu dịch đối ngoại của Đại Đường những năm gần đây, bao gồm cả mậu dịch giữa chính quốc và các vùng lãnh thổ hải ngoại, đều là kiểu mẫu điển hình: xuất khẩu các loại chế phẩm công nghiệp và một số đặc sản Đại Đường từ chính quốc ra bên ngoài; ví dụ như vải vóc, xà phòng, nước hoa, vũ khí, kim khí, diêm quẹt.
Hay như các mặt hàng đặc sản truyền thống như tơ lúa, đồ sứ, trà lá.
Ngược lại, từ hải ngoại nhập vào chính quốc là các loại nguyên liệu công nghiệp và nông sản, ví dụ như các loại quặng thông thường, kim loại quý, gia vị, đường mía, cao su, cà phê, bông sợi, lông thú, phẩm nhuộm, gỗ, ca cao, lương thực v.v.
Nói sao nhỉ, lúc quay về thì không thể để tàu trống không được, những chiếc tàu chở hàng cỡ lớn trọng tải hai ba ngàn tấn đi về một chuyến, chi phí không hề thấp, kiếm được chút nào hay chút nấy.
Khu vực Bắc Mỹ do Đại Đường kiểm soát hiện nay chủ yếu phát triển nông nghiệp, trồng trọt đủ loại nông sản, ngoài lương thực ra còn có nhiều loại cây trồng kinh tế khác.
Vì vậy, các tàu buôn Đại Đường đến châu Mỹ khi quay về tự nhiên sẽ chở theo đủ loại sản phẩm của châu Mỹ, trong đó giá trị nhất vẫn là kim loại quý, sản lượng vàng bạc ở nơi đó nhiều vô kể.
Tuy nhiên, mặt hàng có số lượng lớn nhất vẫn là lương thực và các loại cây trồng kinh tế khác.
Những mặt hàng này số lượng khổng lồ, giá cả cũng không cao, vận chuyển về chính quốc thực ra không có bao nhiêu lời, nhưng dù sao vẫn hơn là để tàu trống quay về.
Đồng thời, Đế quốc đối với các vùng lãnh thổ hải ngoại thường áp dụng chính sách thuế quan bằng không.
Nghĩa là, mậu dịch qua lại giữa chính quốc và Bắc Mỹ được tham chiếu theo chế độ mậu dịch trong nước, không thu bất kỳ loại thuế quan nào.
Hàng hóa từ chính quốc Đại Đường vận chuyển sang Bắc Mỹ bán không tốn thuế quan, nông sản từ Bắc Mỹ vận chuyển đến chính quốc bán cũng không tốn thuế quan, chính vì không có thuế quan nên mới có thể miễn cưỡng duy trì không bị lỗ vốn.
Trong tình hình này, châu Mỹ và các vùng lãnh thổ hải ngoại khác đã bắt đầu dần dần cung ứng nông sản cho chính quốc, làm phong phú thêm nguồn cung lương thực của chính quốc Đế quốc, giảm bớt áp lực lương thực do dân số tăng nhanh gây ra.
Năm Tuyên Bình thứ ba mươi lăm, theo thống kê của Hộ bộ, lượng tiêu thụ lương thực bình quân đầu người hàng năm của chính quốc Đế quốc đạt ba trăm mười kilôgam, đồng thời dân số chính quốc Đế quốc thống kê vào khoảng hai trăm triệu người.
Tuy nhiên, tổng sản lượng lương thực của chính quốc Đế quốc chỉ có sáu mươi triệu tấn, còn hai triệu tấn lương thực thiếu hụt thực tế đều được nhập khẩu từ các vùng lãnh thổ hải ngoại, trong đó chủ yếu là tỉnh Lữ Tống, tỉnh Vạn Đan, châu Mã Lục Giáp ở Nam Dương, và bờ biển phía Tây châu Mỹ là nguồn bổ sung.
Thế nhưng nông sản nhập khẩu của chính quốc Đế quốc không chỉ có lương thực, thực ra nhiều hơn cả là các loại cây trồng kinh tế, ví dụ như đường mía, bông sợi.
Nếu không nhập khẩu những loại cây trồng kinh tế này, thì chính quốc Đế quốc sẽ phải tiêu tốn một lượng lớn đất đai để trồng trọt; hiện nay khi đã có nguồn nhập khẩu cây trồng kinh tế giá rẻ từ hải ngoại, rất nhiều nông dân trong chính quốc thấy không có lợi nhuận, bèn dồn hết tâm sức vào trồng lương thực.
Dù sao thì lương thực Đại Đường là loại mặt hàng "được mùa hay mất mùa đều thu hoạch ổn định", vì Đại Đường thực thi chính sách ổn định giá lương thực, Tổng công ty Lương thực Đại Đường hàng năm đều thu mua lương thực số lượng lớn với một mức giá cố định.
Giá lương thực do họ định ra đều tham chiếu nhiều mặt, cần bảo đảm lợi ích của nông dân, đồng thời cũng phải bảo đảm lợi ích của người lao động.
Bởi vì một bên trồng trọt bán lương thực, một bên làm công mua lương thực, nếu cân bằng không tốt thì sẽ khiến một trong hai bên chịu thiệt.
Vì vậy, chính quyền Đại Đường cực kỳ nhạy cảm với giá lương thực và đã khống chế giá ở mức cố định.
Điều này cũng có nghĩa là, nông dân chỉ cần chịu khó làm lụng thì khi thu hoạch lương thực không cần phải lo lắng "được mùa mất giá", lại càng không cần lo không bán được hàng.
Kiếm không nhiều, nhưng chắc chắn là có lãi!
Cho nên, phần lớn nông dân ở chính quốc vẫn giữ tinh thần rất cao đối với việc trồng trọt lương thực.
Chưa kể, khi Đế quốc tiến hành cải cách ruộng đất, vẫn áp dụng phương thức hạn định mục đích sử dụng đất, đất đai đã quy định chỉ được trồng lương thực thì chỉ được trồng lương thực, không được trồng các loại cây kinh tế khác.
Cho nên sản lượng lương thực của chính quốc Đế quốc vẫn được bảo đảm.
Nhưng nếu muốn nâng mức lương thực bình quân đầu người của Đế quốc lên ba trăm năm mươi kilôgam thậm chí là bốn trăm kilôgam, thì chỉ dựa vào các khu vực nông nghiệp Hoa Hạ truyền thống là không đủ.
Cần phải cộng thêm các khu vực mới khai phá khác của chính quốc Đế quốc, ví dụ như Liêu Tây, Liêu Đông, ví dụ như Trung Á.
Ngoài ra còn phải tăng cường nhập khẩu, khu vực Nam Dương, khu vực châu Mỹ đã là các khu vực nhập khẩu lương thực của Đế quốc rồi, sau này Ấn Độ và châu Phi cũng có thể là các nguồn cung tiếp theo.
Từ việc có thể cung cấp lượng lớn nông sản cùng kim loại quý cho chính quốc Đế quốc, cũng có thể thấy rõ hiện nay Bắc Mỹ đang phát triển khá tốt.
Mà với tư cách là thành phố phát triển tốt nhất Bắc Mỹ, Tân Nam Cảng đương nhiên cũng không phải tầm thường.
Dân cư thành thị của Tân Nam Cảng hiện nay tuy chỉ chưa đầy một vạn người, nhưng thực tế phần lớn những cư dân thành thị này đều là quan lại cùng gia quyến và quân trú đóng; còn di dân của huyện Tân Nam thì người ta không sống trong thành, hoặc là ở tại nông trang của mình.
Hoặc là sống tại các thị trấn di dân!
Trong phạm vi hơn trăm cây số của huyện Tân Nam, có khoảng hai mươi thị trấn di dân quy mô khá lớn, hơn một trăm thôn làng di dân, tổng cộng có khoảng hai mươi vạn di dân Đế quốc sinh sống định cư.
Bao quanh những thị trấn, thôn làng di dân này chính là những nông trang, gần như nhìn không thấy điểm kết thúc.
Thực ra vào thời đại này, rất nhiều người không thích sống trong thành, phàm là người có chút điều kiện đều thích sống ở thôn quê.
Đặc biệt là những bậc quyền quý phú hào, đều thích xây dựng trạch viện quy mô lớn, thường là xây ở vùng ven thành thị, ví dụ như vùng ngoại ô Kim Lăng Thành có rất nhiều biệt phủ của giới quyền quý.
Mà ở một vài thung lũng nhỏ không mấy nổi bật, thường cũng có biệt phủ do giới quyền quý địa phương xây dựng.
Người Đại Đường thời đại này, trừ khi làm việc trong thành không còn cách nào khác mới phải sống trong thành, bằng không thì bất kể có chút điều kiện đều không muốn sống trong thành.
Cho nên trong thời đại này, khi bạn nhìn thấy một thị trấn không có mấy người, đừng vội tưởng rằng thị trấn này rất nghèo hoặc ít người, thực tế những người có tiền đều sống trong các biệt phủ ở vùng ngoại ô cả đấy.
Tân Nam Cảng cũng vậy, toàn bộ khu đô thị Tân Nam Cảng không có mấy người, tổng cộng lại cũng chỉ quy mô tầm vạn người, hơn nữa một phần không nhỏ đều là quân trú đóng cùng thương nhân, quan lại của chính quyền và gia quyến của họ.
Còn đối với di dân bình thường thì thực ra rất ít.
Nhưng điều này không ảnh hưởng đến sự phồn hoa của Tân Nam Cảng, bởi vì nơi đây chính là cảng thị lớn nhất của toàn bộ bờ biển phía Đông Bắc Mỹ, và thông qua sông Tân Nam, còn có thể kéo dài thẳng đến các khu vực trong đất liền.
Nhiều di dân mới sau khi đến bờ biển phía Đông Bắc Mỹ, nơi xuống tàu chính là tại Tân Nam Cảng.
Cát Tự Cường chính là một di dân như thế!
Anh ta đến Tân Nam Cảng bằng tàu di dân năm ngày trước, không chỉ có anh ta mà còn có cả gia đình của anh ta nữa.
Cả nhà anh ta mười hai người trực tiếp di dân đến Bắc Mỹ, theo chính sách di dân Bắc Mỹ hiện nay, chỉ cần đăng ký di dân và phục tùng sự sắp xếp thì sẽ được cấp đất miễn phí, vé tàu được thanh toán, ngoài ra còn cung cấp nông cụ cần thiết và hạt giống, thậm chí cả ngựa kéo để cày ruộng; tất nhiên phần này là phải tốn tiền, nhưng không có tiền cũng không sao, có thể đăng ký vay vốn di dân chuyên dụng.
Tại bộ phận di dân thuộc nha môn huyện Tân Nam Cảng, Cát Tự Cường đã nhận được văn thư cấp đất cho gia đình mình, đất đai không ít, hơn nữa anh ta cũng đã đi xem qua, tình hình rất tốt.
Chỉ là hơi xa cảng một chút thôi.
Được sự giúp đỡ của nhân viên quan phủ, họ đã tạm thời ổn định cuộc sống, vừa mới ổn định xong thì Cát Tự Cường lại một lần nữa đến huyện, chuẩn bị đăng ký vay vốn di dân.
Đất phân cho gia đình họ không ít, tổng cộng ba trăm sáu mươi mẫu, đây là dựa theo tiêu chuẩn bình quân mỗi người hai mươi mẫu để phân chia đất đai.
Đây thực ra vẫn là ở huyện Tân Nam đấy, nếu Cát Tự Cường bằng lòng chọn đi sâu hơn vào nội địa, những nơi hẻo lánh, thì lượng đất được cấp miễn phí sẽ còn nhiều hơn, ví dụ như một thị trấn di dân mới cách huyện Tân Nam khoảng hơn hai trăm cây số, nếu bằng lòng đến đó thì mỗi người có thể được cấp năm mươi mẫu đất.
Đây là miễn phí đấy nhé!
Nếu trong túi còn tiền, thì bạn còn có thể mua thêm đất với giá cực kỳ rẻ.
Nếu xét theo tiêu chuẩn truyền thống của Hoa Hạ, thì thực tế ở mỗi gia đình di dân tại các vùng lãnh thổ hải ngoại, diện tích đất đai sở hữu đều thuộc tiêu chuẩn tiểu địa chủ, mỗi gia đình ít thì vài chục mẫu, nhiều thì hàng trăm thậm chí hàng ngàn mẫu, số lượng nhiều hay ít còn tùy vào địa điểm và nhân khẩu.
Thế nhưng, dù đất đai nhiều hay ít, họ đều phải tự mình canh tác, không thể giống như những kẻ thực dân châu Âu kia, trực tiếp để thổ dân canh tác đất đai.
Đại Đường Đế quốc không chơi trò đồn điền thổ dân gì cả.
Nhà Cát Tự Cường nhân khẩu không ít, nhưng muốn dựa vào thuần nhân lực để khai khẩn hơn ba trăm mẫu đất thì cũng vô cùng khó khăn.
Cho nên anh ta mới nghĩ đến việc mua ngựa kéo để khai hoang trồng lương thực.