Đây là một cơ chế sàng lọc phân công lao động xã hội được thiết lập một cách nhân tạo. Thông qua hệ thống giáo dục này, cứ một trăm người sẽ chọn ra một người làm quan, một người làm học giả, vài người làm quản lý cấp cao hoặc nhân viên kỹ thuật cao cấp cho thương nhân, vài người làm công chức, nhân viên văn phòng hoặc kỹ thuật viên bình thường, còn đại đa số những người còn lại đều đi làm nông dân, công nhân.
Do đó, hệ thống giáo dục của Đại Đường Đế quốc nhìn thì có vẻ rất công bằng, muốn đến đâu đọc sách thì đến đó, nhưng trên thực tế lại không hề công bằng, đặc biệt là đối với những người bình thường.
Các chính sách tương tự thực ra còn rất nhiều, cũng không chỉ giới hạn trong hệ thống giáo dục.
Ví dụ như việc phát triển địa phương cũng vậy, một số nơi có điều kiện tự nhiên tốt, nền tảng nhân văn cũng khá hơn, cho nên phát triển sẽ rất thuận lợi, không gặp phải quá nhiều trở ngại, ngay cả khi chính quyền không cố ý nâng đỡ thì vẫn có thể phát triển rất tốt, chẳng hạn như một số thành phố ven biển hoặc những nơi trọng điểm về tài nguyên.
Khi đã phát triển tốt rồi thì các điều kiện về mọi mặt cũng tốt hơn. Ví dụ như khu vực Châu thổ sông Châu Giang, đường sắt vô cùng dày đặc, xe ngựa đường ray trong thành phố cũng rất đông đúc, một số nơi không có giao thông đường ray thì cũng có xe ngựa công cộng thông thường qua lại.
Như vậy cũng xây dựng được một hệ thống giao thông công cộng hoàn chỉnh, kết hợp thêm xe kéo hai bánh và xe ngựa tư nhân thông thường mới xuất hiện trong vài năm gần đây, đủ để người dân mọi tầng lớp xã hội đều có được phương thức đi lại phù hợp nhất.
Tại một số vùng phát triển, rất nhiều người thuộc tầng lớp trung lưu trở lên sống ở ngoại ô thành phố, buổi sáng đi tàu hỏa đến nội thành làm việc, buổi tối tan làm lại đi tàu hỏa về nhà.
Nhưng cũng có những nơi điều kiện tự nhiên không ra sao, kinh tế phát triển không tốt, cơ sở hạ tầng tất nhiên cũng chẳng khá khẩm gì, nhiều nơi thậm chí đến đường sắt cũng không có.
Đặc biệt là vài tỉnh Tây Nam, hầu như không có đường sắt kết nối với các tỉnh bên ngoài, đường sắt trong tỉnh cũng rất ít.
Kế hoạch đường sắt Tây Nam và đường sắt Xuyên Hán do Lý Hiên vạch ra, xét ở một mức độ nào đó chính là để nâng đỡ sự phát triển của các tỉnh Tây Nam.
Dù sao cũng không thể nói các tỉnh phía Đông ven biển thì giàu nứt đố đổ vách, còn những nơi khác lại nghèo rớt mồng tơi được.
Muốn nâng đỡ kinh tế địa phương, chỉ có đường sắt thôi vẫn chưa đủ, còn phải có những chính sách khác đi kèm, ví dụ như hỗ trợ địa phương phát triển một số ngành công thương nghiệp nhất định.
Đặc biệt là những ngành thâm dụng lao động có thể cung cấp việc làm.
Mấy tỉnh Tây Nam này đều là những nơi thiếu đất canh tác, không thể giống như các khu vực đồng bằng, chỉ dựa vào phát triển nông nghiệp là có thể trở nên giàu có. Những nơi này nếu muốn nâng cao kinh tế thì vẫn phải dựa vào công nghiệp để thúc đẩy.
Hỗ trợ phát triển công thương nghiệp cũng cần có vốn.
Tuy nhiên, mấy năm gần đây thu nhập tài chính của Đại Đường Đế quốc tăng dần theo từng năm. Mặc dù chi tiêu cũng mỗi năm một nhiều, nhưng khi cần huy động tiền làm việc gì đó thì vẫn dễ dàng hơn so với trước đây rất nhiều.
Bước sang năm Tuyên Bình thứ ba mươi sáu, Đại Đường Đế quốc đã sớm thoát khỏi tình trạng thâm hụt tài chính, tài chính trung ương cũng không còn nợ nần, mỗi năm làm tốt còn có dư.
Mà quan trọng hơn là, trong năm Tuyên Bình thứ ba mươi sáu, thu nhập tài chính trung ương của Đại Đường Đế quốc lại một lần nữa được nâng cao, đạt tới ba trăm năm mươi triệu Đường nguyên.
Con số này không hề thấp!
Đủ để Đại Đường Đế quốc làm rất nhiều việc.
Để so sánh, Đế quốc Anh - "Đế quốc mặt trời không bao giờ lặn" vào thời điểm chuyển giao giữa thế kỷ 19 và 20, thu nhập tài chính của họ cũng chỉ khoảng một trăm triệu Bảng Anh mà thôi.
Hàm lượng vàng của Đường nguyên là 6,5 gram, hàm lượng vàng của Bảng Anh thế kỷ 19 khoảng 7,32 gram. Tuy Đường nguyên có hàm lượng vàng thấp hơn Bảng Anh thời đó một chút, nhưng cũng không chênh lệch quá nhiều.
Hơn nữa, có một điểm rất quan trọng là Đại Đường thực ra có sự khác biệt rất lớn so với nước Anh thời đó, sự khác biệt này chủ yếu đến từ dân số và diện tích lãnh thổ.
Điều này dẫn đến việc hệ thống kinh tế của Đại Đường Đế quốc và nước Anh cuối thế kỷ 19 có sự khác biệt khổng lồ, và dẫn đến khoảng cách lớn về thuế thu nhập.
Nước Anh là hệ thống kinh tế phụ thuộc nghiêm trọng vào ngoại thương. Dù sao thì bản thân nước Anh cũng chỉ là một quốc đảo nhỏ, dân số thời đó cũng chỉ vài chục triệu người. Hệ thống kinh tế của Anh được thiết lập trên việc tận dụng năng lực sản xuất công nghiệp và tài chính mạnh mẽ, kiểm soát thị trường của các quốc gia khác và thuộc địa, cướp đoạt nguyên liệu thô rồi bán phá giá hàng công nghiệp. Thuế thu nhập của họ chủ yếu đến từ thuế quan và các loại thuế gián tiếp.
Còn Đại Đường Đế quốc thì sao? Tuy quy mô ngoại thương của Đại Đường cũng không nhỏ, nhưng quy mô thuế quan thực ra rất thấp, phần lớn thuế thu nhập đến từ các loại thuế công thương nghiệp khác.
Điều này cũng có thể thấy rõ từ việc các nhà doanh nghiệp Đại Đường chú trọng hơn vào thị trường nội địa!
Đối với bất kỳ doanh nghiệp Đại Đường nào có ý chí phát triển lớn mạnh, thị trường trong nước mới là thị trường quan trọng nhất và cũng là thị trường khổng lồ nhất.
Trong năm Tuyên Bình thứ ba mươi lăm, tổng kim ngạch xuất khẩu của Đại Đường Đế quốc chỉ vào khoảng một trăm triệu Đường nguyên. Ừm, tổng kim ngạch xuất khẩu này bao gồm cả đại lục bản thổ, hải ngoại bản thổ, cục bộ bản thổ và tất cả khu vực Đại Đường kiểm soát ở hải ngoại, đối với xuất khẩu sang khu vực do thổ dân kiểm soát.
Dù là hàng hóa xuất phát từ Thượng Hải rồi bán sang Ấn Độ, hay hàng hóa xuất phát từ Tân Nam Cảng ở Bắc Mỹ rồi bán sang châu Âu đều được liệt kê vào trong đó.
Thế mà cho dù là như vậy, cũng chỉ có một trăm triệu Đường nguyên mà thôi!
Hơn nữa, đây vẫn là sau khi Đại Đường gia tăng nhiều loại hàng hóa có sức cạnh tranh cực cao, đồng thời xuất khẩu một lượng lớn vũ khí và các sản phẩm công nghiệp khác ra nước ngoài, và cũng là trong bối cảnh Đại Đường nắm giữ ưu thế lớn về quân sự và chính trị, buộc các quốc gia khác phải mở cửa thị trường mới đạt được.
Cân nhắc đến dân số và thực lực kinh tế của thị trường hải ngoại, thực tế đã rất khó để nâng cao tổng kim ngạch ngoại thương trên quy mô lớn nữa, bởi vì trong túi họ chỉ có ngần ấy tiền, dù thế nào cũng không thể kiếm thêm được nữa.
Thị trường hải ngoại vẻn vẹn một trăm triệu Đường nguyên, làm sao có thể thỏa mãn được công thương nghiệp khổng lồ như vậy của Đại Đường Đế quốc.
Và ngược lại, thị trường trong nước của Đại Đường lại khổng lồ hơn nhiều!
Thị trường trong nước của Đại Đường, thực ra không chỉ chỉ thị trường bản thổ, mà là chỉ đại lục bản thổ, hải ngoại bản thổ, hải ngoại lãnh địa... tất cả các khu vực mà Đại Đường thực tế kiểm soát.
Ừm, thực ra khu vực địa phương gì đó cũng không phải là trọng điểm, trọng điểm nên là nói về nhóm người tiêu dùng.
Mức tiêu dùng của chính người dân Đại Đường, quả thực mạnh hơn lũ thổ dân nước ngoài nhiều!
Những cái khác không nói, chỉ nói đến ngành công nghiệp dầu mỏ đang rất "đỏ lửa" trong mấy năm gần đây.
Giá dầu hiện nay khoảng 7,5 Đường nguyên mỗi thùng, tuy nhiên sản lượng dầu mỏ hiện tại của Đại Đường Đế quốc đã đạt tới khoảng mười triệu thùng. Những loại dầu hỏa và dầu bôi trơn các loại được tinh chế từ số dầu này, về cơ bản đều được tiêu thụ trên thị trường trong nước.
Tính toán như vậy, sẽ phát hiện ra chỉ riêng thị trường dầu thô đã đạt tới hơn bảy mươi triệu Đường nguyên.
Và quan trọng nhất là, con số này vẫn còn xa mới đáp ứng được nhu cầu khổng lồ trong nước. Dự đoán của Hoàng gia Dầu mỏ công ty là, tính theo giá dầu hiện tại, thị trường dầu mỏ trong nước ít nhất cũng có thể đạt tới một trăm triệu nguyên.
Nếu giá dầu tiếp tục giảm để mở rộng nhóm người tiêu dùng, thì thị trường này còn có thể tiếp tục mở rộng lên hai trăm triệu nguyên hoặc thậm chí nhiều hơn.
Chỉ riêng một ngành công nghiệp dầu mỏ mới nổi, giá trị sản lượng của nó đã đủ để sánh ngang với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả Đại Đường, tương lai thậm chí còn có khả năng cao hơn.