1, Hóa giải chấp trước
Điểm khác biệt lớn nhất giữa tư tưởng Lão Tử và Nho gia nằm ở chỗ Nho gia lấy con người làm trung tâm, là một dạng chủ nghĩa nhân văn tiêu chuẩn, luôn muốn tìm cho con người một lối thoát, tìm ra một con đường phát triển chính xác. Đạo gia không lấy con người làm trung tâm, cho rằng lấy con người làm trung tâm thì quá ư hẹp hòi, quá ư chủ quan. Ví dụ tôi hỏi bạn, tại sao quả táo lại màu đỏ? Bởi vì nó muốn làm tôi nảy sinh cảm giác thèm ăn; tại sao con lợn lại béo? Nó muốn cung cấp cho tôi chất dinh dưỡng. Đây là câu trả lời lấy con người làm trung tâm tiêu chuẩn. Trên thực tế, quả táo tuyệt đối không phải vì muốn thu hút bạn ăn nó nên mới mọc thành màu đỏ; con lợn cũng chẳng mong muốn bị bạn ăn thịt nên mới lớn thật béo. Vạn vật trong vũ trụ đều có giá trị nội tại của nó, nó có thể tồn tại, chính là nhờ nhận được sự chống đỡ của "Đạo". Phương pháp tư duy theo chủ nghĩa vị nhân sinh, Lão Tử hoàn toàn phản đối. Ông chủ trương thuận theo tự nhiên, cố gắng tránh tối đa những sự tạo tác nhân tạo, bởi vì tạo tác nhân tạo càng nhiều, rắc rối cũng càng lớn. Đối với bản thân con người, Lão Tử phản đối chủ nghĩa vị kỷ, chủ trương "tri thường viết minh", "tự tri giả minh", nhắc nhở chúng ta tầm quan trọng của việc giác ngộ trí tuệ.
Không tự thấy mình, nên mới sáng suốt; không tự cho mình là đúng, nên mới tỏ rõ; không tự khoe khoang, nên mới có công trạng; không tự kiêu ngạo, nên mới có thể lãnh đạo; chính vì không tranh giành, cho nên thiên hạ không ai có thể tranh giành với người đó. (《Lão Tử - Chương 22》)
Không bó hẹp vào những gì mình nhìn thấy, cho nên mới nhìn thấu suốt; không cho mình là đúng, nên sự thật mới tỏ bày; không khoe khoang bản thân, cho nên mới có công lao; không cậy thế bản thân, cho nên mới có thể đứng đầu; chính vì không tranh với người, nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình.
Bốn chữ "không" liên tiếp của Lão Tử đều là phản đối chủ nghĩa vị kỷ, nhằm hóa giải sự chấp trước vào bản thân. Câu đầu tiên "không tự thấy mình, nên mới sáng suốt", nếu bất cứ việc gì bạn cũng lấy những gì mình nhìn thấy làm tiêu chuẩn, thì bạn sẽ chẳng nhìn thấu suốt được. Tại sao triết học phương Tây lại bắt đầu khởi sắc từ "Đối thoại Phلات (Plato)"? Bởi vì đó là "sách đối thoại", tôi có ý kiến khác với bạn, chúng ta cùng đối thoại; sau khi đối thoại, bạn đem những gì mình nhìn nhận từ các góc độ khác nhau nói cho tôi biết, khiến tôi nhìn thấy mặt này của sự vật, lại vừa nhìn thấy mặt kia của sự vật, như thế mới toàn diện. Chúng ta đều có kinh nghiệm sống thế này, những người ở các ngành nghề, độ tuổi, tầng lớp khác nhau sẽ nhìn thấy những thứ khác nhau, sau khi đối chiếu hai bên, mới có thể phát hiện ra sự thật. Cho nên vào thời kỳ Hy Lạp, từ "sự thật" có nghĩa là sự phát hiện, con người thường ngày luôn bị những kiến giải chủ quan của chính mình che lấp, chỉ có khi không luôn cho rằng những gì mình nhìn thấy mới là đúng, thì mới có thể phát hiện ra sự thật.
Câu thứ hai "không tự cho mình là đúng, nên mới tỏ rõ" có ý nghĩa tương tự. "Không tự for mình là đúng", đừng luôn cho rằng mình là đúng, cứ mãi cho rằng mình đúng, thì không thể làm nổi bật lên tình hình chân thực. "Minh" và "tỏ" đều đại diện cho việc có thể nhìn rõ ràng, khiến sự thật phơi bày ra. Chúng ta thường nói, bạn đừng có chủ quan quá, bạn phải nhảy ra khỏi lập trường của mình thì mới có thể khách quan; nhưng trên thực tế, dù bạn có khách quan đến đâu chăng nữa, thì vẫn sẽ có một lập trường nhất định, một quan điểm nhất định. Lão Tử chỉ nhắc nhở chúng ta rằng, bạn đừng đi quá cực đoan, quá bó hẹp vào những suy nghĩ và tầm nhìn của chính mình. Lão Tử rất thích dùng chữ "minh", "tự tri giả minh", tôi thường dịch chữ "minh" thành "khải minh", con mắt tâm hồn mở ra, thì mới có thể khải minh. Nói theo lời của Trang Tử, nhìn vạn vật từ góc độ của "Đạo", vạn vật không phân biệt cao sang hay đê hèn, đây gọi là khải minh. Khi tôi nhìn bất kỳ thứ gì, đừng nói cái này cao quý, cái kia đê hèn; cái này thế này, cái kia thế nọ; nhìn từ chính bản thân vạn vật, thì bất cứ thứ gì cũng đều đáng để bạn thưởng thức. Việc hiểu hay không hiểu quan trọng hơn việc bạn thích hay không thích, đến cả sự thật bạn còn chưa làm rõ, mà đã nói thích cái này không thích cái nọ, thì chỉ là một thứ tình cảm chủ quan đơn phương mà thôi.
Tiếp theo, Lão Tử nói một người phải "không tự khoe khoang", đừng đi khắp nơi khoe khoang bản thân. Điều này khiến người ta liên tưởng đến Nhan Uyên - học trò của Khổng Tử, Khổng Tử từng hỏi cậu ấy, em có chí hướng gì? Nhan Uyên đáp rằng: "Nguyện vô phạt thiện, vô thi lao." Con mong có thể đạt được: không khoe khoang ưu điểm của mình, không đùn đẩy việc nhọc nhằn cho người khác. "Không phạt thiện" chính là không khoe khoang ưu điểm của bản thân. Điều này cho thấy Nho gia và Đạo gia có rất nhiều điểm tương thông trong việc tu dưỡng. Bạn không khoe khoang ưu điểm của mình, thì bạn mới có công lao; rõ ràng là việc do bạn làm, nhưng bạn phải biết rằng, không một ai có thể làm thành tất cả mọi việc, hay nói cách khác cho dù bạn làm thành một việc, cũng không phải dựa vào công lao của một mình bạn, bạn cần có sự phối hợp của các điều kiện khác nhau, cần người khác giúp đỡ bạn; ví dụ như cuộc bầu cử dân chủ trong xã hội hiện đại, bạn đắc cử, nhưng đằng sau có biết bao nhiêu người đang giúp bạn, làm sao có thể dựa vào một mình bạn mà hoàn thành được chứ?
Câu thứ tư, không cậy thế bản thân, mới có thể lãnh đạo người khác. Nếu bạn nói tập đoàn này đều dựa vào một mình tôi, chỉ cần tôi ở đây, thì sẽ không có vấn đề gì; nhưng khi bạn thực sự làm việc, người khác sẽ không phục tùng sự lãnh đạo của bạn, cho rằng bạn quá kiêu ngạo tự phụ, bạn đã có bản lĩnh rồi thì tự mình làm cho tốt đi. Thời đại ngày nay, ai nấy đều có chủ kiến của riêng mình, nếu bạn không thể dùng sự phục vụ để thay thế cho sự lãnh đạo, dùng sự khiêm tốn để lãnh đạo người khác, thì người khác chỉ cần động chân động tay một chút, hoặc không chịu phối hợp, thì hậu quả sẽ khôn lường.
Cho nên bốn câu này tuy giản đơn, nhưng lại không dễ làm được. Khổng Tử cũng từng nói những lời tương tự, "Tử tuyệt tứ: Vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã." Người quân tử có bốn điều dứt khoát phải gột bỏ, đó là không đoán mò tùy tiện, không cố chấp theo ý mình, không bảo thủ câu nệ, không tự mãn phình trướng. Cũng phải tìm cách hóa giải "sự chấp trước vào bản thân", biết tôn trọng và thấu hiểu người khác. Đạo gia còn cởi mở hơn, không chỉ phải tôn trọng người khác, mà đối với vạn vật trong vũ trụ đều phải tôn trọng.
Câu cuối cùng rất thú vị, "chính vì không tranh giành, cho nên thiên hạ không ai có thể tranh giành với người đó". "Không tranh" đại diện cho điều gì? Đại diện cho việc tôi không cần thiết phải chiến thắng người khác ở mọi điểm, bởi vì mỗi người đều có ưu điểm và sở trường riêng ở một điểm nào đó, cho nên không cần phải tranh. Nếu tôi có sở trường ở một phương diện nào đó, đến lúc phiên tôi lên sân khấu, phiên tôi làm một việc, thì tôi cứ thuận theo tự nhiên mà làm. Nếu cái gì tôi cũng tranh, tranh cho đến cuối cùng e là lưỡng bại câu thương, người khác nhìn thấy ưu điểm của bạn, cũng chưa chắc đã sẵn lòng thừa nhận. Ví dụ như đôi khi tôi hay nói đùa rằng tôi chơi cờ vây chưa từng thua bao giờ, tại sao? Bởi vì tôi chưa từng chơi cờ vây bao giờ. Bạn nghe xong cảm thấy rất buồn cười, có chút suy nghĩ kiểu A Q đấy thôi, nhưng trong tư tưởng của Lão Tử, suy nghĩ kiểu này không có gì là đáng trách cả. Một con người có bao nhiêu bản lĩnh chứ? Bạn tham gia Thế vận hội, giành được huy chương vàng, nhưng đừng quên rằng, Olympic có tới mấy trăm môn thi đấu, bạn chẳng qua chỉ chiến thắng người khác ở phương diện này mà thôi. Hơn nữa cho dù bạn có thể chiến thắng người khác, thì cũng phải không tranh, lấy "không tranh" làm nguyên tắc đối nhân xử thế, đợi đến khi bạn buộc phải tranh, người khác tự nhiên sẽ tôn trọng sở trường của bạn.
2, Tự mình làm chủ
"Hiểu người là khôn ngoan, hiểu mình là sáng suốt" Đây là một câu nói rất quen thuộc với người Trung Quốc. Câu nói này xuất phát từ cuốn 《Lão Tử》.
Hiểu người là khôn ngoan, hiểu mình là sáng suốt. Thắng người là có sức mạnh, thắng mình mới là kiên cường. Biết đủ là giàu có, người kiên trì hành động là người có chí hướng. Không mất đi chỗ đứng của mình thì mới bền lâu, chết mà không mất đi thì mới là trường thọ. (《Lão Tử - Chương 33》)
"Hiểu người" ý chỉ am hiểu nhân tình thế thái, hiểu rõ người khác khi giao du với mọi người. Một người hiểu rõ người khác chứng tỏ người đó rất khôn ngoan, nhưng quan trọng hơn là phải hiểu rõ chính mình, làm công phu tự phản tỉnh, thì mới có thể quan sát "người và ta" từ một góc độ tổng thể, phá vỡ sự che lấp. Bằng không, nếu chỉ hiểu người mà không hiểu mình, thì sẽ thành ra lấy gốc làm ngọn, đảo lộn thứ tự. Chữ "minh" ở đây chỉ "khải minh", nó không phải là sự thông minh tài trí thông thường, mà là sự khải minh tiến tới cảnh giới ngộ "Đạo" sau khi đã hóa giải được sự chấp trước vào bản thân. Con người một khi đã khải minh, thì tầm mắt và lồng ngực sẽ hoàn toàn khác hẳn. Làm thế nào để hiểu rõ chính mình? Bạn buộc phải tĩnh lại, "trí hư cực, thủ tĩnh đốc", sau khi đạt đến trạng thái trống rỗng và tĩnh lặng thì mới có thể hiểu rõ bản thân, đây là phương pháp tu dưỡng vô cùng rõ ràng của Lão Tử.
"Thắng người là có sức mạnh, thắng mình mới là kiên cường", thắng được người khác chứng tỏ lực lượng của bạn rất lớn, nhưng chỉ có chiến thắng chính mình mới là kiên cường. Bởi vì kẻ mạnh thực sự là người có thể tự làm chủ bản thân. Con người nếu không thể chiến thắng chính mình, làm chủ chính mình, mà chỉ có thể chiến thắng người khác, thì điều đó chỉ là bề ngoài mà thôi. Vương Dương Minh từng nói "Trừ giặc trong núi thì dễ, trừ giặc trong lòng mới khó." Đuổi giặc trên núi đi rất dễ, tại sao? Cho tôi quân đội, huấn luyện thật tốt, là có thể đuổi được giặc cỏ; nhưng muốn trừ bỏ tên giặc trong lòng thì không dễ chút nào, bởi vì tên giặc trong lòng liên quan đến dục vọng, suy nghĩ và thành kiến của con người, rất khó để vứt bỏ. Làm thế nào để chiến thắng chính mình? Đảo ngược câu "muốn làm gì thì làm" lại, tôi muốn làm cái gì thì kiên quyết không làm cái đó, điều này biểu thị khả năng tự kiểm soát bản thân được nắm bắt rất tốt, như vậy mới có thể chiến thắng chính mình. Bằng không, nếu chỉ đi theo dục vọng của bản thân, rất dễ biến thành nô lệ cho dục vọng của chính mình.
"Biết đủ là giàu có", phương Tây cũng có quan điểm tương tự: "Con đường tắt tốt nhất để làm giàu chính là giảm bớt dục vọng." Giàu có và nghèo hòan toàn mang tính tương đối. Ví dụ như bây giờ bạn hỏi tôi có tiền không? Tôi đáp rằng phải xem là so với ai, so với người giàu nhất thiên hạ, thì chút tiền ấy của tôi bõ bèn gì, quả thực là nghèo rớt mồng tơi. Nhưng bản thân tôi lại không cảm thấy mình thiếu thốn điều gì, trái lại còn rất mãn nguyện, bởi vì người khác có giàu có đến đâu thì liên quan gì đến tôi. Điều này giống như lời Trang Tử từng nói "Chim sẻ én làm tổ trong rừng sâu, cũng chỉ chiếm một cành cây; chuột chũi uống nước sông, cũng chỉ uống đầy một bụng", một con chim làm tổ trong rừng, chỉ cần một cành cây là đủ rồi; con chuột chũi ra sông uống nước, thứ nó cần cũng chỉ là một chiếc bụng no căng. Con người chỉ cần biết đủ, thì đó chính là sự giàu có rồi.
Còn về "người kiên trì hành động là người có chí hướng", đây là câu châm ngôn thời trẻ của tôi. Con người sống trên đời, nhất định phải có chí hướng, chí hướng ám chỉ những việc chưa làm được, phải dốc toàn lực để hoàn thành. Chữ "cường" có hai ý nghĩa, một là chăm chỉ, chính là rất nỗ lực để làm; hai là miễn cưỡng, ép buộc bản thân phải làm. Ví dụ như nghỉ lễ rồi, muốn nghỉ ngơi, nhưng tôi lại tự ép mình học thêm hai ngày sách; tối nay mệt rồi, muốn đi ngủ, tôi vẫn cứ ép bản thân đọc thêm mười phút sách nữa. Chỉ có không ngừng ép buộc bản thân làm như vậy, kiên trì hành động, thì việc đọc sách của bạn mới có nhiều tâm đắc hơn người khác. Chẳng có sự thành công hay thu hoạch nào của một ai, lại không phải có được thông qua sự tự ép buộc bản thân cả. Giống như cầu thủ Jordan của nước Mỹ khi còn trẻ ngày nào cũng luyện tập ném rổ, quy định bản thân nhất định phải ném đủ năm trăm quả mới được dừng lại nghỉ ngơi. Nếu không có sự tự ép buộc, con người ta sẽ sinh ra tính lười biếng, đứng không bằng ngồi, ngồi không bằng nằm. Chí hướng thực sự, ngoài sự kiên trì hành động ra thì không có con đường tắt nào khác.
Hai câu cuối cùng, "không mất đi chỗ đứng của mình thì mới bền lâu", chữ "sở" ở đây chỉ bản tính và bẩm sinh, cũng có nghĩa là chỉ khi giữ vững được chữ "Đức" thì mới có thể bền lâu. Chúng ta đều biết bôn ba khắp nơi rất vất vả, ví dụ như thường xuyên đổi việc hoặc thường xuyên di chuyển, hay là ra ngoài họp hành chạy đôn chạy đáo. Cho nên, đừng dễ dàng rời khỏi vị trí của mình, làm bất cứ việc gì cũng phải lượng sức mà đi, đừng tạo ra cảm giác bất an. "Chết mà không mất đi thì mới là trường thọ" có hai ý nghĩa, thứ nhất là người chết đi rồi, nhưng tinh thần và phong thái của họ vẫn được lưu lại, để cho đời sau tưởng nhớ noi theo, người như vậy mới thực sự là trường thọ, bằng không dù có sống đến hơn một trăm tuổi, thì chết đi rồi cũng chẳng còn lại gì sảng khoái cả. Thứ hai là quay về với thể "Đạo", cũng chính là vĩnh viễn không tiêu tan. Con người nếu không thể ngộ "Đạo", thì "thân chết như đèn tắt", bởi vì thứ duy nhất thực sự trường tồn chính là "Đạo", sinh mệnh của chúng ta dù có kéo dài đến đâu đi nữa thì cũng chỉ là một cái tên, cái tên thì có ích gì chứ? Con người không ai là không chết, nhưng phải biết rằng phần nào của con người là không mất đi. Bất kỳ ai cũng có thể chết mà không mất đi, bởi vì có Đạo làm chốn quy tụ, đây là nguyên tắc cơ bản của Đạo gia. Chúng ta thường hay để ý xem cơ thể có những thay đổi gì, nhưng nếu thông qua sinh mệnh hữu hình để quay về với cội nguồn cuối cùng là "Đạo", thì có thể hóa giải được những sự chấp trước không cần thiết, bởi vì tinh thần của chúng ta sẽ không ngừng lớn mạnh theo "Đạo". Ví dụ như tự biết, tự cường, rồi sau đó là biết đủ, kiên trì hành động, không mất đi chỗ đứng. Cứ đi theo con đường này đến cuối cùng thì sẽ "chết mà không mất đi", bởi vì sinh mệnh đã quay trở lại với nền tảng ban đầu.
3, Tiêu trừ phiền não
Đạo gia quan sát dục vọng và phiền não của con người vô cùng tỉ mỉ, sâu sắc. Lão Tử chủ trương đối với rất nhiều chuyện trong nhân sinh đều phải "giữ khoảng cách", thì mới có thể bảo toàn được chính mình. "Giữ khoảng cách" là để giảm bớt sự can thiệp từ bên ngoài, đặc biệt là sự can thiệp của tai mắt.
Năm màu làm mắt người mờ lóa; năm âm làm tai người điếc đặc; năm vị làm miệng người mất cảm giác; săn bắn rong ruổi, làm lòng người phát cuồng; hàng hóa khó kiếm, làm hành vi người lệch lạc. Cho nên thánh nhân lo cái bụng chứ không ham cái nhìn, vì thế bỏ cái kia mà chọn cái này. (《Lão Tử - Chương 12》)
Năm màu sắc khiến mắt hoa mày chóng; năm âm điệu khiến thính giác tê liệt; năm hương vị khiến miệng không phân biệt nổi mùi vị; đắm chìm trong việc săn bắn vui chơi, khiến nội tâm con người cuồng loạn; những món hàng hiếm có, khiến hành vi con người sai trái. Cho nên, thánh nhân chỉ cầu no bụng chứ không cầu hoa mắt, vì thế gạt bỏ sự cám dỗ của vật chất, coi trọng sự thỏa mãn bên trong.
“Năm màu” được nhắc đến thời cổ đại lần lượt là: thanh (xanh lục), đỏ, vàng, trắng, đen. Đây cũng là thứ tự của ngũ hành: thanh thuộc mộc, đỏ thuộc hỏa, vàng thuộc thổ, trắng thuộc kim, đen thuộc thủy. Nhìn ngắm những màu sắc này quá nhiều, con người ta sẽ hoa mắt chóng mặt. Ví dụ như người hiện đại từ lâu đã quen với các chương trình giải trí bảy sắc cầu vồng, xem phim, xem TV, lên mạng... xanh đỏ tím vàng vô cùng đẹp mắt, để rồi cuối cùng đôi mắt không chịu thấu, trẻ em mẫu giáo đã bắt đầu đeo kính cận. Điều đó chứng tỏ điều gì? Bạn phóng túng dục vọng của các giác quan, thì sẽ mang lại hậu quả xấu, đôi mắt vốn là để nhìn cho rõ, kết quả là bạn lại chẳng thể nhìn rõ được nữa.
“Năm âm” chỉ năm âm điệu cung, thương, giốc, chủy, vũ. “Năm âm làm tai người điếc đặc”, tất nhiên không phải chỉ tai thực sự bị điếc, mà ý nói nếu thường xuyên chịu ảnh hưởng của tiếng ồn, thì đến cuối cùng sẽ không thể nghe rõ được nữa, sinh ra hiện tượng rối loạn thính giác. Giống như hiệu ứng âm thanh điện ảnh tạo ra bởi các rạp chiếu phim lập thể hiện nay, đôi khi thực sự khiến người ta nhức đầu. Đôi khi những âm thanh càng đơn giản, ngược lại càng dễ khiến người ta cảm nhận được ý nghĩa sâu xa.
“Năm vị” cũng tuân theo thứ tự của ngũ hành: chua, đắng, ngọt, cay, mặn; chua thuộc mộc, quả kết trên cây có vị chua; đắng thuộc hỏa, đồ vật bị cháy khét có vị đắng; ngọt thuộc thổ, hoa màu mọc trong đất có vị ngọt; cay thuộc kim, khi luyện kim loại ngửi thấy có mùi vị cay xè; mặn thuộc thủy, nước biển có vị mặn. Đôi khi ăn đồ ăn với quá nhiều gia vị, ngược lại sẽ không phân biệt nổi hương vị, ví dụ như ăn tiệc Mãn Hán toàn tịch, mấy chục món ăn, đến cuối cùng hương vị của mỗi món là gì có lẽ cũng chẳng nhớ nổi nữa.
Năm màu, năm âm, năm vị đại diện cho dục vọng giác quan của con người, nếu không biết kiềm chế những dục vọng này, tùy tiện phóng túng, cuối cùng vượt quá giới hạn, thì sẽ biến thành “tìm vui hóa khổ”. Còn về săn bắn vui chơi, tuy rằng đồng hoang có thể khiến sinh mệnh con người được tung hoành thả sức, nhưng nếu sa đà vào đó, không biết thu liễm, thời gian dài, sẽ khiến nội tâm con người trở nên cuồng loạn. Ví dụ như rất nhiều học sinh có trải nghiệm thế này, nghỉ lễ chơi đùa quá đà, đến lúc vừa vào học ngược lại không thu lại tâm trí được, tâm tư hỗn loạn, không thể ổn định lại. Còn về việc hàng hóa hiếm có khiến hành vi con người lệch lạc thì rất dễ hiểu. Bạn sẽ chẳng bao giờ nghe nói có ai đi cướp dép lê, vali, giấy vệ sinh cả, muốn cướp thì cướp kim cương, vàng bạc, châu báu, tại sao? Hàng hóa hiếm có, dễ khiến kẻ gian nảy sinh ý đồ bất chính, làm ra những chuyện vi phạm pháp luật kỷ cương, để rồi cuối cùng phải chịu sự chế giễu của xã hội.
Thánh nhân khi đối mặt với những dục vọng giác quan này, phải làm sao đây? Lo cái bụng chứ không ham cái nhìn. “Cái nhìn” ám chỉ những dục vọng giác quan như năm màu, năm âm, năm vị. Thánh nhân khiến bạn ăn no mặc ấm, cuộc sống tốt đẹp, nhưng không để bạn vướng bận quá nhiều cám dỗ. Tại sao vậy? Bởi vì con người ta khó tránh khỏi việc bị quấy rầy bởi cám dỗ, cám dỗ càng nhiều, con người ta thường càng không giữ được mình; nếu cứ mãi lao theo ngoại vật, thì đến cuối cùng lòng người sẽ đều phát cuồng. Thánh nhân hiểu rõ đạo lý này, cho nên mới “lo cái bụng chứ không ham cái nhìn”, “bỏ cái kia mà chọn cái này”, gạt bỏ sự cám dỗ của vật chất, đưa chúng ta quay trở về với nội tâm, đạt được sự thỏa mãn từ bên trong.
Kiểu suy nghĩ này, người hiện đại chưa chắc đã có thể tiếp nhận ngay lập tức. Sự phát triển của xã hội khiến con người ta hoa mắt chóng mặt, sinh ra đủ loại dục vọng. Một số người cho rằng, nếu không có dục vọng, không có tiêu dùng, xã hội thương mại sẽ phải làm sao đây? Kinh tế không lưu thông thì cũng không ổn. Hơn nữa, bắt chúng ta quay trở lại thời cổ đại ít màu sắc, âm thanh đơn giản là điều không thể. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tiến bộ của thời đại là không thể quay đầu, vậy bạn phải làm sao? Chỉ đành tìm cách thu liễm và kiềm chế dục vọng của bản thân, học cách tự kiểm soát, không để bản thân bị lạc lối trong xã hội tràn ngập dục vọng và cám dỗ này. Ví dụ như bây giờ có người ngày nào cũng xem TV, lên mạng, đến cuối cùng sẽ cảm thấy tâm phiền ý loạn, bởi vì bạn nhìn thấy những thứ người khác có mà mình không có, sẽ cảm thấy vô cùng ngưỡng mộ, trong khi bản thân lại không có được, thế là sinh ra phiền não. Lúc này nếu biết kiềm chế bản thân một chút, xem ít đi, nghe ít đi, hoặc nhìn thấy những điều kiện đáng ngưỡng mộ mà người khác sở hữu cũng không động lòng, nghĩ đến những thứ mình có mà người khác chưa chắc đã có, thì tâm lý mới có thể cân bằng lại được. Giống như trẻ con đôi khi ngưỡng mộ đồ chơi của người nhà khác, mà quên mất rằng trong nhà mình cũng có rất nhiều đồ chơi; hồi nhỏ chúng ta sống ở nông thôn, thì ngưỡng mộ những người sống ở thành phố, nhưng trẻ con thành phố ngược lại lại ngưỡng mộ trẻ con nông thôn, bởi vì có thể được tiếp xúc gần gũi với thiên nhiên. Cho nên, thực ra ai nấy đều có rất nhiều thứ đáng để trân trọng, điều quan trọng là bạn phải an phận với điều kiện sinh mệnh của chính mình, trân trọng những thứ đó, hiểu rõ giới hạn của bản thân, vạch ra phạm vi nỗ lực của chính mình, không theo đuôi bầy đàn, như vậy sẽ bớt đi rất nhiều phiền toái vô ích.
4, Lấy đức báo oán
Cả đời con người chỉ cần dùng mười sáu chữ là có thể miêu tả được rồi: sinh, lão, bệnh, tử; hỉ, nộ, ai, lạc; ân, oán, tình, thù; bi, hoan, ly, hợp. Oán, là một trong số đó. Con người ở cùng nhau đôi lúc khó tránh khỏi việc oán trách. Bạn đối xử với tôi không tốt, tôi oán trách bạn, hoặc tôi đối xử với bạn không tốt, bạn oán trách tôi. Hai bên qua lại oán trách lẫn nhau, luôn cảm thấy mình chịu ấm ức, đây là tình huống thường tình trong cuộc sống.
Có người hỏi Khổng Tử, ngài nghĩ thế nào về việc lấy đức báo oán? Khổng Tử nói, như vậy không được, nên là "lấy ngay thẳng báo oán"; bằng không, nếu "lấy đức báo oán", thì lấy gì để báo đức đây? Người ta đối xử tốt với bạn, bạn đối xử tốt lại với người ta, gọi là lấy đức báo đức; người ta đối xử với bạn không tốt, mà bạn vẫn đối xử tốt với người ta, thế thì đối với những người đối xử tốt với bạn chẳng phải là không công bằng hay sao? Cho nên ông chủ trương "lấy ngay thẳng báo oán". Chữ "ngay thẳng" trong Nho gia bao gồm hai ý nghĩa, một là chân thành; hai là chính trực, không bóp méo tình cảm trong lòng, đối đãi với người khác theo nguyên tắc chính nghĩa, khiến người ta nhận được sự đối xử công bằng, đó chính là lấy ngay thẳng báo oán. Nhưng Lão Tử không cho là như vậy, ông nói:
Hòa giải mối thù lớn, tất vẫn còn mối oán hận sót lại, sao có thể coi là tốt được? Cho nên thánh nhân giữ biên bản vay nợ, mà không đòi hỏi ở người. Người có đức thì giữ biên bản vay, người không có đức thì bắt bẻ thu thuế. Đạo trời không thân thiết với ai, luôn ở bên người thiện. (《Lão Tử - Chương 79》)
Mối thù hận lớn sau khi được hòa giải, chắc chắn vẫn còn sót lại oán hận; làm sao có thể coi đó là phương pháp thỏa đáng được? Cho nên, thánh nhân giống như đang giữ cuống phiếu vay nợ, mà không đi đòi người ta trả nợ. Người có đức giống như người nắm giữ khế ước cho vay vô cùng rộng rãi; người không có đức giống như người quản lý việc thu thuế vô cùng tính toán chi li. Quy luật tự nhiên không thiên vị ai, luôn đồng hành cùng người thiện.
"Hòa giải mối thù lớn, tất vẫn còn mối oán hận sót lại", câu nói này vô cùng sâu sắc. Cùng người khác xảy ra thù hận lớn lao, cho dù đã giảng hòa rồi, thì cũng vẫn sẽ lưu lại một chút oán hận nhỏ, ít nhất trong lòng vẫn sẽ cảm thấy bất bình, chịu ấm ức, hoặc mất mặt. Xã hội trước kia, thậm chí còn có những mối oán hận truyền từ đời này sang đời khác, con cháu đôi khi chưa chắc đã hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra, tuy đã qua điều giải, nhưng oán hận vẫn rất khó hóa giải. Nếu lúc này mà còn nói "lấy đức báo oán, sao có thể coi là tốt", thì có vẻ không thích hợp cho lắm. Cho nên, phương pháp lý tưởng nhất để hóa giải oán hận chính là ngay từ gốc rễ đã không kết oán với người.
Thánh nhân khi qua lại với người khác, cho người ta tiền bạc nhưng lại không đòi nợ người ta, tự nhiên sẽ không có oán hận sinh ra. "Giữ khế ước" luôn cho người ta vay tiền, cho nên rộng rãi vui vẻ, được mọi người hoan nghênh; "thu thuế" phụ trách việc thu tiền thuê thuế, khó tránh khỏi việc tính toán chi li, bị mọi người chán ghét. Cả hai đều là phép ẩn dụ, đại diện cho thái độ sống hoàn toàn khác biệt. Chúng ta muốn bản thân không vướng phải oán hận, khi qua lại với người khác, thì phải chừa cho người ta một con đường lui. Lão Tử cho rằng con người sống trên đời, có thù hận gì giảng hòa còn không kịp nữa là, huống chi là còn lấy ngay thẳng báo oán, lại càng không cần phải nói đến chuyện lấy oán báo oán. "Oan gia nên giải chứ không nên kết" chính là đạo lý này.
Cuốn 《Lão Tử - Chương 63》 đã trực tiếp nói đến bốn chữ "báo oán bằng đức".
Làm việc vô vi, hành sự vô sự, nếm vị vô vị. Lớn nhỏ nhiều ít, lấy đức báo oán.
Điều làm ra, là không có gì phải làm; điều theo đuổi, là không có gì phải bận tâm; điều nếm trải, là nhạt nhẽo vô vị. Lớn nhỏ nhiều ít không cần tính toán, lấy đức hạnh để hồi đáp oán hận.
Ba câu đầu "làm việc vô vi, hành sự vô sự, nếm vị vô vị" là tư tưởng chuẩn mực của Lão Tử. Chú giải của Vương Bật nói rằng: "Lấy vô vi làm chỗ ở (chỗ ở tức là ở, chính là lấy "vô vi" làm nguyên tắc cơ bản; ở trong trạng thái vô vi); lấy không nói làm cách dạy dỗ (không nói lời nào, dùng cách đó để dạy bảo người khác); lấy sự đạm bạc làm vị giác (ăn uống đạm bạc có lợi cho cơ thể hơn); đó là cảnh giới tột cùng của việc trị nước" (đây là cảnh giới cao nhất của nhà lãnh đạo chính trị trong việc trị vì bách tính). Còn về "lớn nhỏ nhiều ít", nhận được nhiều hay nhận được ít, ngồi vị trí lớn hay an phận ở vị trí nhỏ, đều đừng tính toán so đo. Nếu người khác mang oán hận với bạn, bạn phải "lấy đức báo oán", dùng đức hạnh để đáp lại oán hận. Đây là thái độ đối nhân xử thế của Lão Tử.
Tại sao Lão Tử lại có suy nghĩ này? Bởi vì tư tưởng của Đạo gia là một cái nhìn toàn thể. Con người sống trên đời, phải nhìn nhận từ toàn bộ cuộc đời, đừng so đo được mất thành bại nhất thời. Qua lại với người khác, người này có lẽ hiện tại đang thiếu nợ bạn, nhưng biết đâu tương lai người ta lại quay lại báo đáp bạn. Nếu người khác đắc tội với bạn, bạn hãy coi nó như một sự tôi luyện và khảo nghiệm, nghĩ rằng người ta e là cũng có đau khổ và phiền não. Trên thực tế, chúng ta sống trên đời, có rất nhiều người đã ban ơn huệ cho chúng ta. Hồi nhỏ, có cha mẹ thầy cô chăm sóc; bước chân vào xã hội, có cấp trên đồng nghiệp chăm sóc. Khi chúng ta chăm sóc người khác, thì đừng luôn nghĩ đến chuyện được báo đáp; bạn ở đây không nhận được báo đáp, biết đâu ở nơi khác thu hoạch lại càng nhiều hơn. Tôi nhớ hồi tôi còn đi học ở Mỹ, viết luận văn bằng tiếng Anh không được tự tin cho lắm, bèn nhờ một người Mỹ từng học cao học ở Đại học Đài Loan sửa giúp. Sau khi sửa xong tôi muốn trả tiền công cho anh ấy, nhưng anh ấy từ chối. Anh ấy nói năm xưa khi anh ấy học ở Đại học Đài Loan, cũng có bạn học giúp anh ấy sửa luận văn mà không lấy tiền, cho nên anh ấy muốn báo đáp lại, kết quả là tôi may mắn được hưởng sự báo đáp đó. Lúc ấy tôi nghĩ rằng, sau này nếu có cơ hội giúp đỡ các sinh viên nước ngoài, tôi sẽ cố gắng hết sức, cũng coi như đem ơn đức mà anh ấy dành cho mình truyền lại cho những người khác.
Nếu mỗi người đều có thể mang tâm thái này để đối nhân xử thế, giống như ném một hòn đá xuống nước, những gợn sóng của nó từ từ lan rộng ra, đến cuối cùng toàn bộ xã hội sẽ tràn ngập một bầu không khí tín nhiệm và hòa hợp. Cho nên "lấy đức báo oán" là một lý tưởng xã hội cao cả, chứ không đơn thuần chỉ là tu dưỡng đạo đức mà thôi, bên trong nó ẩn chứa trí tuệ sâu sắc. Nó nhìn nhận sinh mệnh cá nhân, thế giới loài người và lịch sử xã hội từ cái nhìn toàn thể vạn vật là một. Nhìn từ góc độ này, mỗi chúng ta ai nấy đều có thể từng ơn huệ với người, cũng có thể từng mang oán hận với người, chỉ có ôm ấp thái độ "lấy đức báo oán" để đối nhân xử thế, thì ít nhất trong mắt Lão Tử là vô cùng thích hợp.
5, Hòa quang đồng trần
"Hòa quang đồng trần" xuất xứ từ 《Lão Tử》, nghe là biết phải áp dụng một phương thức tương đối uyển chuyển, khiêm nhường để ở chung với người khác. Hãy xem nguyên văn trước: Người hiểu thì không nói, người nói thì không hiểu. Bịt các khiếu, đóng các cửa, thu liểm sự sắc bén, giải tỏa sự rối rắm, hòa hợp ánh sáng, hòa lẫn bụi trần, đó gọi là cảnh giới huyền đồng. Cho nên không thể thân thiết với người đó, cũng không thể xa cách; không thể làm cho người đó có lợi, cũng không thể làm cho người đó hại; không thể làm cho người đó cao quý, cũng không thể làm cho người đó hèn m hạ. Cho nên được thiên hạ tôn trọng. (《Lão Tử - Chương 56》)
"Người hiểu thì không nói, người nói thì không hiểu", hồi nhỏ chúng tôi đi học đọc đến đoạn này, hay nói đùa rằng thầy giáo dạy Đạo gia tốt nhất là đừng nói gì cả, bởi vì hễ nói ra là đại diện cho việc thầy không biết, nếu biết thì thầy đã không nói rồi; cho nên dạy Đạo gia rất dễ, bước vào lớp chẳng cần nói câu nào, cười với học sinh một cái, là tan học. Tất nhiên đây chỉ là câu nói đùa, trên thực tế Đạo gia coi việc nói năng như một pháp môn phương tiện, lúc nói thì cố gắng dùng hình ảnh ẩn dụ, bởi vì rất khó để nói thẳng ra rốt cuộc "Đạo" là gì.
"Bịt các khiếu, đóng các cửa", thứ bịt lại và đóng lại chính là dục vọng của các giác quan, ý nói bạn đừng nhìn ngắm quá nhiều, tai cũng đừng nghe quá nhiều; bởi vì nhìn nhiều nghe nhiều, lòng sẽ loạn, dục vọng sẽ tăng lên. Trong 《Trang Tử - Ứng Đế Vương》 có một ngụ ngôn về cái chết của Hồn Độn, kể rằng Hồn Độn cực kỳ nhân từ hòa nhã với mọi người, mọi người thấy ông ấy đáng thương, không có bảy khiếu, muốn báo đáp ông ấy, bèn giúp ông ấy đục các khiếu. Kết quả là "ngày đục một khiếu, bảy ngày thì Hồn Độn chết", tại sao? Dục vọng nhiều lên. "Bịt các khiếu, đóng các cửa" cũng có đạo lý tương tự.
Sau đó, thu liểm sự sắc bén, giải tỏa sự rối rắm, "hòa quang đồng trần". Chúng ta đều biết phải dung hòa ánh sáng, đừng quá chói lọi, một người có tài năng mà quá chói lọi, người khác nhìn vào sẽ thấy chói mắt, sẽ đối phó với bạn. Làm lãnh đạo cũng vậy, phải biết rằng có người lên sân khấu, thì sẽ có người xuống sân khấu; lên sân khấu là cơ duyên xảo hợp, điều kiện chín muồi, một khi nhiệm vụ hoàn thành, phải biết đường xuống sân khấu, để người khác lên thay. Còn về "đồng trần", hòa lẫn bụi trần, người bình thường ai cũng thích sạch sẽ, không thích bụi bẩn, nhưng đôi khi làm việc ở ngoài xã hội, không thể quá cao ngạo; phải biết rằng người khác có một vài khuyết điểm nhỏ, bạn cũng tương tự như vậy, chỉ cần không tổn hại gì lớn, thì đừng tính toán so đo quá mức. Trong 《Mạnh Tử》 có một câu chuyện, kể rằng ở nước Tề có một người tên là Trần Trọng Tử, rất có tiết tháo, ông cho rằng anh trai nhận chỗ tốt của người khác, bèn không qua lại với anh trai nữa, tự mình chuyển ra ngoài ở. Có một hôm ông về nhà thăm mẹ, vừa hay có người gửi tặng anh trai một con ngỗng. Mấy hôm sau, người mẹ giết ngỗng, nấu cơm cho ông ăn. Đang ăn dở thì người anh đi từ ngoài về, nói chẳng phải chú bảo nhận ngỗng của người khác là không tốt sao, sao lại còn ăn? Nghe xong ông lập tức chạy ra ngoài cửa, nôn hết thịt ngỗng ra. Mạnh Tử liền chỉ trích ông ấy rằng "Như Trọng Tử, giun đất rồi mới trọn vẹn được tiết tháo của mình", chỉ có biến thành giun đất thì mới làm được tiết tháo như ông ta. Cho nên dù là Nho gia hay Đạo gia, đều cho rằng con người sinh sống trên thế gian này, bắt buộc phải tôn trọng các quy chuẩn thông thường của thế tục, hòa quang đồng trần. Đây không phải là sự giả dối, mà là một dạng khiêm tốn, một thái độ xử thế sẵn sàng thấu hiểu những khó khăn của người khác.
Tiếp theo, Lão Tử nói ra sáu từ: thân, sơ, lợi, hại, quý, tiện. Sáu từ này vừa vặn đối xứng từng đôi một: có thân thì có sơ, có lợi thì có hại, có quý thì có tiện. Có ý nghĩa gì đây? Không bị điều khiển và ảnh hưởng bởi ngoại giới. Mạnh Tử nói: "Điều Triệu Mạnh tôn quý, Triệu Mạnh có thể khiến nó đê hèn". Nếu người khác rất dễ dàng ảnh hưởng đến bạn, khiến bạn cảm thấy mình rất tuyệt, thì người khác cũng rất dễ dàng khiến bạn cảm thấy mình chẳng ra gì; bởi vì nguồn gốc giá trị của bạn nằm ở bên ngoài chứ không nằm ở bên trong. Mà chuyện thân sơ, lợi hại, quý tiện nếu đều do bản thân nắm bắt, trong lòng bạn có chủ kiến, biết bản thân vì sao sống trên đời, biết rõ cảnh trí hiện tại của mình ra sao, quan hệ với người khác thế nào, có sự hiểu biết và tự tin cơ bản đối với bản thân, thì sẽ không dễ dàng bị người khác thao túng.
"Người khác" được nhắc đến ở đây thường ám chỉ đại chúng hoặc truyền thông, khen bạn vài câu hay ho, là bạn vui mừng khôn tả; ngược lại chỉ trích bạn vài câu, là bạn đau khổ khôn nguôi. Như vậy sao được chứ? Phải giống như lời Trang Tử nói "Cả thiên hạ khen ngợi cũng không vì thế mà phấn chấn hơn", thiên hạ đều khen ngợi tôi, cũng không khiến tôi vì thế mà phấn chấn hơn; ngược lại, thiên hạ đều chỉ trích tôi, cũng không khiến tôi vì thế mà chán nản hơn. Có thể làm được đến mức không để suy nghĩ của thiên hạ ảnh hưởng đến mình, thì người như vậy đã đạt đến một trình độ nhất định rồi; nhưng vẫn chưa đủ, cảnh giới cao nhất là chuyển từ "trọng ngoài khinh trong" sang "trọng trong khinh ngoài", cuối cùng đạt đến "có trong không ngoài". Chữ "trong" là sự khai sáng của trí tuệ, là việc thông qua một số sự tu luyện sinh mệnh để thấu hiểu "Đạo". Nhìn nhận vũ trụ nhân sinh từ góc độ của "Đạo", bạn sẽ phát hiện ra cuộc đời thực ra vốn dĩ chẳng có cái gọi là được mất, thành bại, đến đi, lại càng chẳng có cái gọi là thân sơ, lợi hại, hay quý tiện gì nữa.
Cảnh giới giác ngộ này, Lão Tử gọi là "huyền đồng", cảnh giới đồng hóa huyền diệu. Bạn đã giác ngộ "Đạo", không còn sinh ra "tâm phân biệt" và "tâm so sánh" nữa, cũng không còn cảm thấy bản thân thiếu thốn thứ gì, bản thân bạn đã viên mãn đầy đủ, đồng hành cùng "Đạo". Trang Tử nói "trên cùng hóa công dạo chơi", "Đạo" là nguồn cội của vạn vật, cùng nó dạo chơi, sinh mệnh sao có thể rơi vào cảnh trống rỗng được chứ? "Làm tốt sinh mệnh của ta, chính là làm tốt cái chết của ta", có thể khiến cho sinh mệnh này của tôi sống thật tốt, cũng có thể khiến cho sinh mệnh của tôi kết thúc thật tốt. Cứ như vậy, đã biến bi cảm của cuộc đời thành niềm vui hân hoan, đây chính là điểm cao minh của Đạo gia.
6, Ba báu vật của Lão Tử
Nhắc đến "tam bảo" (ba báu vật), tôi nhớ hồi nhỏ từng ăn một món ăn Quảng Đông, gọi là "cơm tam bảo". Sau này đi đọc sách, mới biết triều Minh có câu chuyện "Thái giám tam bảo" Trịnh Hòa bảy lần đi xuống Tây Dương. Lên đại học học triết học, mới biết hai chữ "tam bảo" xuất phát từ 《Lão Tử》: Ta có ba báu vật, nắm giữ và gìn giữ nó. Thứ nhất là từ bi, thứ hai là kiệm ước, thứ ba là không dám đứng trước thiên hạ.
Từ bi nên mới có thể dũng cảm; kiệm ước nên mới có thể rộng lớn; không dám đứng trước thiên hạ, nên mới có thể trở thành người đứng đầu chúng. (《Lão Tử - Chương 67》)
Ta có ba pháp bảo, vẫn luôn nắm giữ và gìn giữ. Thứ nhất là lòng từ ái; thứ hai là sự tiết kiệm; thứ ba là không dám đứng ở vị trí tiên phong của thiên hạ. Bởi vì từ ái, cho nên mới có thể dũng cảm; bởi vì tiết kiệm, cho nên mới có thể mở rộng; bởi vì không dám đứng trước thiên hạ, cho nên mới có thể trở thành người lãnh đạo của mọi người.
Trước tiên nói về "từ", "từ" là đặc trưng của bản năng người mẹ, đại diện cho tâm thái từ ái của con người. Lão Tử cho rằng Đạo sinh vạn vật, Đạo là mẹ của vạn vật, đặc trưng của người mẹ chính là sự từ ái. Phương Tây có câu ngạn ngữ, Thượng đế không thể chăm sóc cho từng người, nên đã ban cho mỗi người một người mẹ. Shakespeare từng nói: "Phụ nữ tuy yếu đuối, nhưng làm mẹ thì kiên cường." Phụ nữ sau khi làm mẹ, vì tấm lòng từ ái dành cho con cái, sẽ trở nên vô cùng dũng cảm kiên cường, gặp phải bất cứ khó khăn nào cũng sẽ tìm mọi cách giải quyết. Có một câu chuyện thế này, một người mẹ ở Mỹ đưa con gái đi siêu thị mua đồ, lúc đi ra, đứa con gái chạy ở phía trước, đột nhiên có một chiếc xe tải phóng nhanh lao tới, chèn ép con bé dưới bánh xe. Trong ngàn cân treo sợi tóc, người mẹ lập tức lao xới lên nhấc bổng đầu xe tải lên. Nếu là tình huống bình thường, một người phụ nữ làm sao có thể nhấc nổi đầu xe tải chứ? Nhưng người mẹ ấy đã thực sự làm được điều đó. Khoảnh khắc nhìn thấy con gái được người khác kéo ra từ dưới gầm xe, người mẹ cũng ngã quỵ xuống, nằm viện liền mấy tháng trời. Điều này cho thấy trong khoảnh khắc tích tắc đó, sự dũng cảm mà lòng từ ái mang lại thực sự mạnh mẽ đến mức khó lòng tưởng tượng nổi. Khổng Tử nói: "Người nhân tất có dũng." Người có lòng nhân đức nhất định sẽ có dũng khí để làm những việc mình nên làm. Lão Tử cũng nói: "Từ bi nên mới có thể dũng cảm." Một người có lòng từ ái, nhất định sẽ có thể dũng cảm giúp đỡ người khác.
Cho nên thánh nhân luôn giỏi cứu giúp người, cho nên không có ai bị bỏ rơi; luôn giỏi tận dụng vật, nên không có vật gì bị vứt bỏ. Đó gọi là giữ gìn trạng thái khải minh. Cho nên người thiện là thầy của người không thiện; người không thiện là chất liệu để người thiện học tập. Không tôn trọng thầy của mình, không trân quý chất liệu của mình, dẫu có thông minh đến đâu cũng mê muội lớn, đó gọi là điều vi diệu. (《Lão Tử - Chương 27》)
Tại sao thánh nhân lại luôn giỏi cứu giúp con người, giỏi tận dụng vạn vật, khiến cho con người không bị bỏ rơi, vạn vật không bị vứt bỏ? Bởi vì thánh nhân có lòng từ ái, thánh nhân đã ngộ được "Đạo". Nhìn từ góc độ của "Đạo", mỗi một con người mỗi một vật thể đều có nguồn gốc từ "Đạo", Đạo để cho những con người và vật thể ấy xuất hiện, chắc chắn có lý do và giá trị tồn tại của nó. Xét theo ý nghĩa này, không có cái gọi là "người bị bỏ rơi" hay "vật bị vứt bỏ". "Bỏ" hay "không bỏ" đều do ánh mắt của con người phán đoán, thích cái này hoặc ghét cái kia, nhưng ánh mắt của con người thường phiến diện và ngắn ngủi. Cho nên phải "tập minh", giữ gìn trạng thái khải minh, dùng một tấm lòng từ bi, một tâm thái bao dung, đối với bất kỳ con người hay vật thể nào cũng đều có thể tôn trọng và trân quý.
Tiếp theo, "cho nên người thiện là thầy của người không thiện; người không thiện là chất liệu để người thiện học tập", hai chữ "sư tư" mà chúng ta thường nói ngày nay chính xuất phát từ đây. "Người thiện" là người hiểu lý lẽ trước, đi ở phía trước; "người không thiện" giống như học sinh, đi ở phía sau. Học sinh học tập từ thầy giáo, thầy giáo tham khảo từ học sinh, tức là hai bên phải học tập lẫn nhau, tôn trọng lẫn nhau. Bởi vì ai nấy đều có thể vì sở trường ở một phương diện nào đó mà trở thành thầy ở đây, lại vì sự thiếu sót ở phương diện khác mà thành chất liệu ở chỗ kia. Cho nên phải tiếp nhận cả hai, cứ như vậy, sẽ không rơi vào sự mê muội. Quan niệm nhấn mạnh sự bổ trợ lẫn nhau, tương hỗ trọng thị này, chính là đặc sắc trong tư tưởng của Lão Tử.
Tóm lại, việc chúng ta học tập "Đạo", trước tiên phải học tập tấm lòng từ ái của "Đạo" trong tâm thái, học cách dùng trái tim của người mẹ hiền để đối đãi với tất cả mọi người trong thiên hạ, bất kể thiện, ác, đẹp, xấu đều phải chăm sóc và quan tâm, từ đó hình thành một thứ tình đồng cảm phổ quát, bình đẳng. Đây chính là ý nghĩa sâu sắc của báu vật thứ nhất "từ" của Lão Tử.
Báu vật thứ hai của Lão Tử là "kiểm", nhắm vào vật chất. Rất nhiều người liên kết Đạo gia với việc bảo vệ môi trường, chính là vì chữ này. "Kiểm" yêu cầu con người phải thu liểm và kiềm chế dục vọng. Ví dụ như một người mà tiết kiệm, thì số tiền cố định có thể dùng lâu hơn một chút, lượng thức ăn cố định có thể ăn được mấy bữa. Mọi người đều tiết kiệm, thì sự suy thoái của môi trường tự nhiên tự nhiên sẽ không diễn ra nhanh như vậy. Trên thực tế, vấn đề của thế giới này không nằm ở chỗ tài sản không đủ dùng, mà nằm ở chỗ tài sản không phân bổ đều, đúng như câu "Cửa son rượu thịt thiu, ngoài đường xương người chết cóng", khoảng cách giàu nghèo quá lớn, thiên hạ rất khó thái bình. Quan điểm của Lão Tử về "kiểm" hô ứng với tư tưởng triết học của chính ông. "Từ" xuất phát từ "Đạo", bởi vì "Đạo" là mẹ của vạn vật, cho nên "Từ" là sự quan tâm và đồng cảm phổ quát; còn "Kiểm" chính là thái độ của chúng ta khi đối xử với thế giới. Con người khi tiêu thụ năng lượng và tài nguyên của thế giới này phải cố gắng tiết kiệm và trân trọng, bởi vì mọi thứ đều đến từ "Đạo", sao có thể lãng phí được chứ? Hơn nữa chỉ có "Kiểm", mới có thể khiến cho mỗi người đều được sử dụng tài nguyên của thế giới một cách phổ quát, cho nên Lão Tử mới nói: "Kiểm nên mới có thể rộng lớn".
"Kiểm" cũng đại diện cho sự tiết chế dục vọng, nếu dục vọng của một người cứ tuôn trào không dứt, thì vĩnh viễn không thể đến gần với Đạo gia. Nguyên tắc cơ bản của Đạo gia là "ít tư nhiều dục" (thiểu tư quả dục), một người mà lắm tư tâm nhiều dục vọng, thì tuyệt đối không thể vui vẻ được. Bởi vì dục vọng không được thỏa mãn thì sẽ đau khổ, một khi được thỏa mãn rồi lại sinh ra nhiều dục vọng hơn nữa, rồi lại càng đau khổ hơn, đây là một logic rất đơn giản. Hơn nữa, cho dù tất cả dục vọng đều được thỏa mãn, thì con người ta có vui vẻ nổi không? Liệu cái giá phải trả có quá đắt đỏ hay không? Lão Tử nói:
Danh tiếng với thân thể, cái nào gần gũi hơn? Thân thể với tiền tài, cái nào quý giá hơn? Được với mất, cái nào có hại hơn? Cho nên yêu quý quá mức tất tổn phí lớn, tích trữ nhiều tất tổn thất nặng. Biết đủ thì không nhục nhã, biết dừng thì không nguy hiểm, có thể duy trì lâu dài. (《Lão Tử - Chương 44》)
Vì theo đuổi "danh" và "của" mà lao tâm khổ tứ hay tổn hại thân thể, có thể gọi là được không bù nổi mất. Danh tiếng và tài sản là vật ngoài thân, còn thân thể đối với con người lại là thứ không thể thiếu, không gì thay thế được. Vì theo đuổi danh lợi mà làm tổn hại sức khỏe, đến cuối cùng đổ bệnh phải vào viện, lúc này ai có thể giúp bạn được đây? Đành phải tự mình gánh chịu sự hành hạ của bệnh tật mà thôi. Có những người đến giai đoạn cuối của sinh mệnh, chỉ hận không thể đem tất cả những gì mình có để đổi lấy việc được sống thêm vài ngày, có ích gì chứ? Nếu sớm biết thân thể quý giá hơn danh lợi, sao lúc bình thường không chú ý nhiều hơn một chút? Còn về "được với mất cái nào có hại hơn", chữ "được" bao gồm cả danh và của. Nổi tiếng giành được lợi ích, thường mang lại những di chứng; không danh không lợi, ngược lại có thể sống thanh tịnh. Đây không chỉ là vấn đề "chuông đỉnh hay núi rừng, mỗi bên có thiên tính riêng", mà còn tính toán đến nỗi đau và niềm vui lâu dài trong đời người.
"Yêu quý quá mức tất tổn phí lớn", bởi vì con người một khi đã chấp trước vào những gì mình yêu thích, thì sẽ bất chấp tất cả để trả giá, đối với người là vậy, đối với vật cũng thế. Hán Vũ Tiêm từng có câu chuyện "nhà vàng giấu người đẹp", bạn quá mức yêu thích một người, muốn gì cho nấy, sẽ tiêu tốn rất lớn. Cha mẹ đối với con cái cũng vậy, quá mức cưng chiều, đòi gì cho nấy, đối với sự trưởng thành của con cái chưa chắc đã là chuyện tốt. "Tích trữ nhiều tất tổn thất nặng", thiên tai nhân họa sẽ khiến những người tích trữ tài sản càng nhiều rơi vào nguy cơ càng lớn. Ví dụ như một nhà kho bốc cháy, nếu bên trong chỉ để vài món đồ gia dụng đơn giản, tổn thất vẫn chưa quá lớn, nhưng nếu bên trong chất đầy đồ cổ tranh chữ, vàng bạc châu báu, thì tổn thất khi đó sẽ lớn không tưởng tượng nổi. Tôi có một người bạn, rất thích sưu tầm cốc thủy tinh, nhà anh ấy có một chiếc tủ lớn bày kín những chiếc cốc thủy tinh đẹp đẽ được sưu tầm từ khắp nơi trên thế giới, kết quả gặp động đất, toàn bộ chiếc tủ đổ sập xuống, bộ sưu tập mấy chục năm trời tan thành mây khói. Tôi bảo anh ấy rằng: "Yêu quý quá mức tất tổn phí lớn, tích trữ nhiều tất tổn thất nặng." Anh ấy nghe xong vô cùng kinh ngạc, không ngờ Lão Tử cách đây hơn hai nghìn năm mà đã biết trước sẽ có tình huống này xảy ra rồi. Lão Tử cuối cùng nói, một người nếu có thể phân biệt trong ngoài, từ đó trọng trong khinh ngoài, làm được đến mức "biết đủ" và "biết dừng", thì tự nhiên có thể bình an tự tại. Phải biết rằng, làm người làm việc, có thể nắm bắt chừng mực, làm được đến mức "biết dừng đúng lúc" là khó khăn nhất. Mà bí quyết của việc biết dừng đúng lúc lại nằm ở chữ "kiểm", biết thu liểm dục vọng của bản thân, thì bạn sống trên đời mới không cảm thấy thiếu thốn.
Báu vật thứ ba của Lão Tử gọi là "không dám đứng trước thiên hạ", bởi vì không dám đứng ở vị trí tiên phong của thiên hạ, cho nên mới có thể trở thành người lãnh đạo của mọi người. Nói cách khác, trong một xã hội hoặc một tập thể, bạn muốn đạt được sự khiêm nhường nhường nhịn, không tranh giành với người, có thể đứng sau người khác, thì mới có thể trở thành lãnh đạo thực sự. Có người nói, thế có phải là cố tình làm dáng không, tôi nhường người khác trước, nhưng mục đích cuối cùng vẫn là để đứng trên người khác? Không phải vậy. Lão Tử nói:
Giỏi làm tướng soái, không dùng vũ lực; giỏi đánh trận, không dễ nổi giận; giỏi chế ngự kẻ địch, không giao chiến trực diện; giỏi dùng người, biết hạ mình trước. Đó gọi là đạo đức không tranh, đó gọi là vận dụng sức mạnh của người, đó gọi là phù hợp với trời, là cảnh giới tột cùng từ xưa đến nay. (《Lão Tử - Chương 68》)
Người giỏi làm tướng soái, không sùng bái vũ lực. Sùng bái vũ lực cũng đồng nghĩa với việc dựa vào bao nhiêu quân đội, bao nhiêu vũ khí để đánh trận, chưa chắc đã có phần thắng trong tay. Tướng soái xuất sắc khi dẫn binh phải mang theo "tấm lòng", dùng lòng từ ái để đối đãi với cấp dưới, khi đánh trận người ta mới sẵn lòng liều mạng vì bạn. Tiếp theo, người giỏi đánh trận cũng không dễ dàng nổi giận. Hai quân giao chiến, bạn còn chưa chuẩn bị xong, đối phương biết rõ điểm yếu của bạn, cố tình khiêu khích bạn, bạn lao ra chiến đấu, kết quả rơi vào thế yếu. Rất nhiều chiến dịch trong lịch sử đều là vì bản thân không giữ được trận tuyến, chưa đến thời điểm then chốt mà đã dễ dàng xuất binh, cuối cùng dẫn đến thảm bại. Cuối cùng, người giỏi chế ngự kẻ địch, hoàn toàn không giao chiến trực diện. Cảnh giới cao nhất của 《Binh pháp Tôn Tử》 là "không đánh mà khuất phục được binh lính của người", không dùng vũ lực, mà dùng mưu lược, ngoại giao để giành chiến thắng. Bởi vì hai quân giao chiến cho dù có đánh thắng thì thương vong cũng vô cùng thảm khốc, giết một vạn địch thì bản thân cũng tổn thất năm nghìn, đến cuối cùng vẫn là lưỡng bại câu thương.
Lão Tử dùng ba chữ "không": không vũ lực, không nổi giận, không giao chiến. Cực chẳng đã chính là gì? Thu liểm. Đừng cậy đông thế mạnh, binh hùng tướng mạnh mà vội vàng giao chiến với người, mà phải dùng một số phương pháp gián tiếp, mềm mỏng để chế ngự kẻ địch. Tiếp theo, Lão Tử nhắc đến "dùng người", một nhà lãnh đạo muốn sai khiến người khác, bản thân trước tiên phải ăn nói khiêm nhường, thái độ nhún nhường; bằng không, thái độ của bạn ngạo mạn, đứng cao tít trên cao, người khác dù có buộc phải nghe lệnh bạn, thì trong lòng e rằng cũng chẳng phục đâu, đợi đến lúc làm việc cụ thể, chưa chắc đã làm theo ý bạn, ngược lại còn làm hỏng việc. Tiếp theo Lão Tử liên tiếp nói ba chữ "đó gọi là", đây gọi là tiết tháo không tranh với người, vận dụng sức mạnh của người, phù hợp với quy tắc của đạo trời. "Vô vi mà trị" chính là từ đây mà ra. Bạn nếu có thể tận dụng tốt tài năng của mỗi người, để họ tự do phát huy, không có áp lực gì, đặt đúng người đúng việc ở vị trí thích hợp, rồi phân chia quyền hạn trách nhiệm, phân tầng phụ trách, thì bản thân bạn hầu như chẳng cần phải làm việc gì cả, nói không chừng chỉ cần nói vài câu, thậm chí chẳng cần nói gì hết, những người do bạn trọng dụng cũng sẽ tự nhiên làm xong việc. Đây là lý tưởng cao nhất có từ xưa đến nay.
Phương Tây sau thời Trung Cổ, Thiên Chúa giáo có thuyết "bảy mối tội đầu" (the seven deadly sins). Mối tội đầu tiên chính là "kiêu ngạo" (pride). Tại sao kiêu ngạo lại đáng sợ đến vậy, đường đường trở thành đứng đầu trong bảy mối tội đầu? Bởi vì con người một khi đã nảy sinh ý niệm kiêu ngạo, thì sẽ quên mất mình là ai, cuối cùng sẽ tưởng mình là thần. Thần đại diện cho cái gì? Thần ở đây không chỉ Thượng đế, mà là một dạng cảnh giới viên mãn, tưởng rằng bản thân đã đạt đến sự hoàn hảo, đã đến cảnh giới viên mãn rồi, nhưng đừng quên sinh, lão, bệnh, tử, ai có thể tránh khỏi chứ? Bạn hễ kiêu ngạo, hễ cảm thấy mình hoàn hảo, thì ngay khoảnh khắc đó chính là sự sa ngã. Con người sống trên đời, nhất định phải hiểu rằng, không có ai là không thể thiếu, không có bạn thì trái đất vẫn quay; bất kỳ chuyện gì, bạn không làm, tự khắc sẽ có người khác làm, tuyệt đối không có chuyện thiếu bất kỳ ai mà trái đất ngừng quay cả. Cái gọi là "người này không ra đời, thì chúng sinh biết phải làm sao", chẳng qua chỉ là một cách nói mà thôi. Trong thế giới hiện thực, người này xuất hiện, liệu có tốt cho thiên hạ không? Chưa chắc; người này rời đi, liệu thiên hạ có loạn không? Cũng chưa chắc. Cho nên tôn giáo phương Tây gọi sự kiêu ngạo là tội ác lớn nhất, đó là một quan niệm vô cùng sâu sắc. Lão Tử cũng nói "không dám đứng trước thiên hạ", bạn khi ở chung với người khác, phải biết nhún nhường, đứng ở phía sau người khác. Một người càng có năng lực, thì càng phải biết khiêm tốn. Những quan niệm như vậy, đối với chúng ta mà nói vô cùng mang tính khải thị. Chúng ta sẽ không vì thế mà từ bỏ ý chí chiến đấu của bản thân, trái lại càng có thể tôn trọng đặc trưng sinh mệnh của mỗi một con người.