Quốc Học Thiên Không

Lượt đọc: 30 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4. Hiếu Kính Cha Mẹ

❊ ❊ ❊

1. Lòng hiếu thảo xuất phát từ thiên tính

Nhắc đến sự hiếu thuận, rất nhiều người cho rằng đó là đặc quyền của Nho gia. Kỳ thực không phải vậy, Đạo gia cũng nhấn mạnh chữ "hiếu". Trang Tử nói: "Con cái yêu mến cha mẹ, đó là mệnh lệnh, trong lòng không thể cởi bỏ." ("Trang Tử - Nhân gian thế") Con cái yêu mến cha mẹ, đây là chuyện đã định sẵn trong số mệnh, là điều trong lòng bạn không thể xóa bỏ; cho dù bạn có nói thế nào rằng mình có trí tuệ siêu việt, mình có nhân sinh quan khác biệt, bạn vẫn sẽ yêu thương cha mẹ mình. Tại sao vậy? Đạo lý rất đơn giản, bởi vì nếu cha mẹ sống không vui vẻ, làm con cái nhất định sẽ lo lắng, đây là bản năng.

Khổng Tử nói: "Tuổi tác của cha mẹ, không thể không nhớ kỹ. Một phần vì mừng, một phần vì sợ." ("Luận ngữ - Lý nhân") Tuổi tác của cha mẹ, làm con cái không thể không ghi nhớ; một mặt vui mừng vì các cụ được hưởng tuổi thọ cao, mặt khác lại lo lắng vì các cụ ngày một già đi. Câu nói này rất khiến người ta cảm động. Bởi vì theo ghi chép của Tư Mã Thiên, Khổng Tử mất cha năm ba tuổi, mất mẹ năm mươi bảy tuổi, ông vốn không có cơ hội cảm nhận tâm trạng của người làm con khi cha mẹ về già, nhưng lại thốt ra những lời thấu đáo đến tận tâm can của con cái như vậy, đủ thấy khả năng thấu cảm vượt trội cùng sự quan sát sâu sắc của ông đối với các hiện tượng nhân sinh. Sinh mệnh con người vốn dĩ hữu hạn, nhìn thấy cha mẹ ngày một lớn tuổi, làm con cái sẽ ngày càng lo lắng, đây là tình cảm thường tình của con người.

Mạnh Tử lấy Thuấn làm ví dụ, "Người đời yêu mến, thích sắc đẹp, phú quý, không có đủ để giải tỏa sầu muộn: chỉ có thuận theo cha mẹ, mới có thể giải tỏa sầu muộn." ("Mạnh Tử - Vạn Chương thượng") Thuấn làm thiên tử, người trong thiên hạ đều yêu mến ông, Nghiêu lại gả hai người con gái cho ông, bản thân ông vừa giàu vừa sang, nhưng vẫn không vui vẻ; chỉ có làm cho cha mẹ đều vừa lòng, mới có thể giúp Thuấn giải tỏa nỗi sầu. Tại sao? Bởi vì luôn cảm thấy cha mẹ không vừa lòng là do bản thân mình chưa đủ hiếu thảo, nhất định phải làm cho cha mẹ đều vui lòng, ông mới không còn sầu muộn. Mạnh Tử ca ngợi Thuấn là tấm gương hiếu thuận lớn nhất, "Đại hiếu trọn đời tưởng nhớ cha mẹ. Năm mươi tuổi vẫn còn tưởng nhớ, ta ở chỗ Đại Thuấn mà thấy được điều này", Thuấn đến năm năm mươi tuổi vẫn còn tưởng nhớ cha mẹ, một người có thể không quên gốc gác như thế, bảo sao lại trở thành thánh nhân. Điều này cũng nhắc nhở chúng ta, lòng hiếu thảo chân chính không phân biệt tuổi tác. Một người dù lớn đến đâu, cũng đừng quên hoàn cảnh sống chung với cha mẹ hồi nhỏ. Khi ấy chúng ta ăn uống ngủ nghỉ đều trông cậy vào sự chăm sóc của cha mẹ, mối quan hệ với cha mẹ mới khăng khít làm sao!

Tôi thường khuyên một số bạn trẻ, lúc rảnh rỗi có thể lật xem lại những bức ảnh hồi nhỏ, xem thử lúc bé trông mình ra sao, cha mẹ trông thế nào. Ảnh hồi nhỏ hầu hết là ảnh chụp chung với cha mẹ, bạn hãy nhìn xem khi ấy cha mẹ trẻ trung khỏe mạnh biết nhường nào, còn bây giờ thì sao, đã bắt đầu già đi, có khi còn đau ốm. Bạn ngắm nhìn những bức ảnh này nhiều hơn, sẽ khiến sinh mệnh của bản thân được nối liền, không đến nỗi có ngày hôm nay mà quên mất ngày hôm qua. Con người ta nhất định phải nắm bắt ý nghĩa toàn vẹn của sinh mệnh, mới có thể ngộ ra những đạo lý căn bản làm người.

Tại sao Nho gia phải dành nhiều thời gian để bàn về chữ "hiếu" đến vậy? Bởi vì lòng hiếu thuận xuất phát từ nhân tính, là phẩm đức cơ bản nhất để một người đứng vững ở đời. Chỉ cần là con người, đều nên hiếu thuận, và cũng sẵn lòng hiếu thuận. Thời cổ đại có cái gọi là "ngũ luân", chính là "ngũ đạt đạo" mà sách "Trung Dung" đã nói: Quân thần, phụ tử, phu phụ, côn đệ, bằng hữu. Trong đó ba mục: Phụ tử, phu phụ, côn đệ đều thuộc về gia đình. Gia đình là mạch lạc của một con người, rời khỏi mạch lạc này, con người ta không thể định vị bản thân, định nghĩa bản thân, không biết mình rốt cuộc đang ở nơi nào, và vì sao lại có mặt trên thế giới này. Mà mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái lại là nền tảng của gia đình, nếu cha mẹ và con cái không thể làm được chữ "hiếu", thì quan hệ phu phụ, anh em cũng không dễ gì hòa hợp được. Đem ba mối quan hệ trong gia đình này mở rộng ra bên ngoài, mới có sự giao thiệp giữa bạn bè; tiến xa hơn nữa ra ngoài xã hội, mới có mối quan hệ giữa vua và tôi (trong xã hội ngày nay, gọi là quân thần chính là quan hệ giữa sếp và nhân viên hoặc cấp trên với cấp dưới). Bất kể là mối quan hệ nào đi nữa, gia đình là con đường bắt buộc mọi người phải đi qua để trưởng thành, là nền tảng của mọi mối quan hệ nhân sinh. Một người nhất định phải xuất phát từ gia đình, rồi mới đến xã hội, đất nước, đến việc phấn đấu vì muôn dân thiên hạ, để lại công nghiệp và tiếng thơm trong lịch sử. Bạn nói rằng bạn muốn báo đáp đất nước, muốn lưu danh thiên cổ, thế nhưng nếu ngay trong nhà mà bạn còn không thể hiếu kính với cha mẹ, thì mọi thứ khác đều chỉ là lời nói suông.

Có lần có người khuyên Khổng Tử ra làm quan, Khổng Tử nói: Sách Thư viết: "Hiếu thay là hiếu, hòa thuận với anh em, đem lòng ấy áp dụng vào chính trị." Thế cũng là làm chính trị rồi, cần gì phải làm quan mới gọi là làm chính trị nữa? ("Luận ngữ - Vi chính")

Trong kinh Thư có câu: "Điều quan trọng nhất là hiếu kính cha mẹ, hòa thuận với anh em, rồi lan tỏa điều đó vào chính trị." Thế chính là tham gia chính trị rồi, nếu không, thế nào mới tính là tham gia chính trị đây?

Con người sống trên đời, cần có từng vòng tròn sinh mệnh, từ trong ra ngoài, từ cốt lõi lan tỏa ra bốn phía, mà cốt lõi của vòng tròn, tự nhiên chính là gia đình. Gia đình là một tế bào nhỏ của xã hội, người một nhà hòa thuận vui vẻ, cha nhân con hiếu, anh em nhường nhịn, là điều khiến người ta ngưỡng mộ nhất. Nếu gia đình có thể làm được bước này, rồi lại lan tỏa ra bên ngoài xã hội, phong khí xã hội sẽ từ từ được cải thiện, chính trị tự nhiên sẽ đi đúng quỹ đạo. Do đó, việc hiếu kính với cha mẹ trong gia đình cũng đồng nghĩa với việc tham gia chính trị, có thể phát huy sức ảnh hưởng vô cùng to lớn.

Vậy con cái và cha mẹ nên ở chung với nhau như thế nào, mới được coi là hiếu thuận? Kỳ thực, không chỉ riêng hiếu thuận, cách đối nhân xử thế giữa người với người muốn phù hợp với yêu cầu của chữ "thiện", đều phải cân nhắc ba điểm sau:

Thứ nhất, cảm xúc trong lòng phải chân thành. Bạn nhất định phải thường xuyên tự hỏi bản thân, liệu mình có thực tâm mong muốn cha mẹ vui vẻ hay không, có phải xuất phát từ sự chân thành trong nội tâm để muốn hiếu kính với cha mẹ hay không. Nói cách khác, lòng hiếu thuận cần phải xuất phát từ nội tâm, nếu không có tình cảm bên trong mà chỉ có hình thức bên ngoài, thì bất cứ chuyện gì cũng là giả dối. Con người là sinh vật thể hiện qua cả nội tâm lẫn bề ngoài; nếu trong ngoài không thể đồng điệu, rất dễ sinh ra hiện tượng nhân cách phân liệt.

Thứ hai, kỳ vọng của đối phương cần phải được giao tiếp, thấu hiểu. Cha mẹ có yêu cầu, kỳ vọng gì đối với bạn, cần phải trò chuyện với các cụ để thấu hiểu nhu cầu của họ, rồi tìm cách đáp ứng, cố gắng làm cho được. Giống như hồi nhỏ chúng ta đọc "Câu chuyện Nhị thập tứ hiếu", thấy Vương Tường "nằm băng cầu cá", Ngô Mãnh "cởi trần cho muỗi đốt", đều rất hiếu thảo, nhưng thời nay liệu bạn còn cần phải làm như thế nữa không? Nếu thực sự làm vậy, cha mẹ sẽ khen bạn hiếu thảo ư? Họ sẽ cho rằng bạn đọc sách nhiều quá nên hỏng cả óc rồi.

Thứ ba, tuân thủ các quy chuẩn xã hội. Cha mẹ bảo tôi làm một việc, nếu việc đó đi ngược lại quy chuẩn xã hội, tôi có làm hay không? Ví dụ như cha mẹ lâm bệnh, bảo tôi tìm cách kiếm tiền chữa bệnh cho các cụ, vậy tôi sẽ nghĩ cách gì đây? Nếu đó là việc phạm pháp thì phải làm thế nào? Dù thế nào đi nữa, bạn cũng không thể làm trái các quy chuẩn xã hội, bằng không cho dù bạn có làm tròn chữ hiếu đi chăng nữa, tương lai vẫn sẽ phải chịu sự chế tài của pháp luật.

Cảm xúc trong lòng phải chân thành, kỳ vọng của đối phương cần phải trao đổi, quy chuẩn xã hội phải tuân thủ; ba điểm này là những điều mà bất kỳ mối quan hệ nhân đạo nào, bao gồm cả cha mẹ con cái, đều phải cân nhắc đến. Nếu ba phương diện này xảy ra xung đột thì phải làm sao? Hãy lấy sự chân thành làm trọng. Chúng ta bàn chuyện hiếu thuận quan trọng là bởi nó xuất phát từ tình cảm tự nhiên nhất của nhân tính. Mỗi chúng ta đều do cha mẹ sinh ra, mỗi chúng ta đều nợ cha mẹ ân tình sâu nặng, bình thường vốn không tự giác được, cho đến khi chính bản thân làm cha làm mẹ rồi, mới biết được tầm quan trọng của nó, đúng như câu nói "nuôi con mới hiểu lòng cha mẹ". Do đó, khi bàn về hiếu thuận, không phải là đưa ra những giáo điều, mà là chỉ ra một con đường phù hợp nhất với nhu cầu phát triển của nhân tính.

2. Kính yêu cha mẹ

Không ai phản đối lòng hiếu thuận, thế nhưng phải làm thế nào mới được coi là hiếu thuận? Đây là một vấn đề lớn. Có một câu chuyện thế này, cha chồng tuổi đã cao, khi ăn cơm tay hay run lẩy bẩy, thường xuyên làm vỡ bát, con dâu vì để tiết kiệm tiền, bèn mua một cái bát gỗ cho cha chồng dùng. Một hôm người con dâu này đi làm về, nhìn thấy con trai mình đang ngồi ở ngưỡng cửa, cầm một con dao nhỏ đẽo khúc gỗ. Người con dâu hỏi, con trai con đang làm gì thế? Đứa con đáp, con đang đẽo hai cái bát gỗ, sau này một cái cho bố dùng, một cái cho mẹ dùng. Con dâu nghe xong, trong lòng giật mình, biết rằng mình đã làm một tấm gương xấu, dùng bát gỗ cho cha chồng tuy không sợ rơi vỡ, nhưng kỳ thực lại là bất kính với cha chồng, chỉ nghĩ đến tổn thất tiền tài mà không nghĩ đến lòng tự tôn của ông. Cho nên, hiếu thuận mà chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất của cha mẹ là chưa đủ, mà còn phải có lòng kính trọng, chăm lo cho phẩm giá của cha mẹ.

Tử Du hỏi về đạo hiếu. Khổng Tử nói: "Hiếu của người nay, là nói có thể phụng dưỡng. Cho đến chó ngựa, đều có thể có sự phụng dưỡng. Không có lòng kính, lấy gì để phân biệt đây?" ("Luận ngữ - Vi chính")

Tử Du thỉnh giáo thế nào là hiếu. Khổng Tử nói: "Hiếu ngày nay, ý chỉ có thể phụng dưỡng cha mẹ. Ngay cả chó với ngựa, cũng đều có thể hầu hạ người. Nếu thiếu đi sự kính trọng, thì lấy gì để phân biệt giữa người với vật ấy?"

Chữ "năng dưỡng" bao gồm cả việc chăm sóc, phụng sự về ăn uống sinh hoạt. Có người hiểu câu "cho đến chó ngựa, đều có thể có sự phụng dưỡng" thành ra: Chúng ta nếu chỉ nuôi dưỡng cha mẹ mà không kính trọng họ, thì chẳng khác nào coi cha mẹ như chó ngựa mà nuôi dưỡng. Cách dịch này không đúng. Trong xã hội cổ đại, chó thay người giữ nhà, ngựa thay người kéo xe, cả hai loài động vật này đều có thể phục vụ con người. Cho đến nay chúng ta vẫn thường nói, anh đối xử với tôi thật tốt, sau này tôi xin đem "khuyển mã chi lao" để báo đáp. Khổng Tử dùng chó ngựa ở đây làm ví dụ, ý nói rằng nếu con cái phụng dưỡng cha mẹ giống như chó ngựa hầu hạ con người, chỉ là hoàn thành nhiệm vụ mà không có lòng kính trọng, thì khác gì so với chó ngựa đâu? Ví dụ như chúng ta sau khi thành gia lập thất, hàng tháng đúng hạn gửi tiền sinh hoạt phí về, nhưng trong lòng chưa chắc đã kính trọng cha mẹ. Chúng ta cho rằng cha mẹ có lẽ đọc ít sách, thành tựu xã hội không cao, mà không hề nghĩ rằng ơn nghĩa của cha mẹ đối với chúng ta lớn tựa đất trời, chính nhờ có các cụ mà chúng ta mới được sinh ra, trưởng thành và sống trên thế giới này, thế nên chúng ta phải trọn đời kính trọng cha mẹ.

Một học trò khác của Khổng Tử là Tử Hạ, có lần cũng hỏi về việc làm thế nào mới được coi là hiếu thuận? Khổng Tử căn cứ theo năng lực của từng học trò mà dạy dỗ, đưa ra một đáp án khác.

Tử Hạ hỏi về đạo hiếu. Khổng Tử nói: "Sắc khó. Có việc, đệ tử nhọc lòng; có rượu thịt, tiên sinh ăn; lẽ nào cứ thế là hiếu ư?" ("Luận ngữ - Vi chính")

Tử Hạ thỉnh giáo thế nào là hiếu. Khổng Tử nói: "Con cái giữ được sắc mặt ôn hòa, vui vẻ là điều khó nhất. Khi có việc cần làm, người trẻ tuổi thay phiên làm hộ; có rượu ngon thức ăn, để người lớn tuổi ăn trước; thế đã có thể coi là hiếu thuận chưa?"

Khổng Tử cho rằng, lòng hiếu thuận xuất phát từ tâm tư yêu thương cha mẹ của con cái, thứ tình cảm yêu thương ấy tự nhiên sẽ biểu hiện ra ngoài bằng nét mặt và sắc thái ôn hòa, vui vẻ. Điểm này quả thực khó khăn hơn rất nhiều so với việc làm việc giúp cha mẹ hay mời cha mẹ đi ăn uống. Ví dụ như khi cha mẹ tuổi đã cao, ốm đau cần chúng ta chăm sóc, lúc này cha mẹ sẽ phải nhìn sắc mặt của chúng ta đấy. Nếu sắc mặt của bạn không tốt, khiến cha mẹ có cảm giác như đang làm phiền bạn, thì cho dù bạn có làm tròn các yêu cầu của cha mẹ đi nữa, cũng không được coi là hiếu thuận. Những lúc như thế, bạn hãy nghĩ đến hồi chúng ta còn nhỏ bị ốm, cha mẹ đã chăm sóc chúng ta không quản ngày đêm, áo không cởi bỏ như thế nào, chưa từng một lời phàn nàn. Bây giờ cha mẹ tuổi đã cao, cần chúng ta chăm sóc, sao chúng ta lại nỡ lòng nào mang sắc mặt khó chịu ra đối xử với cha mẹ cơ chứ?

Trong Nhị thập tứ hiếu có một nhân vật tên là Lão Lai Tử, thọ hơn bảy mươi tuổi mà cha mẹ vẫn còn khỏe mạnh. Ông vì muốn làm cha mẹ vui lòng, thường xuyên mặc những bộ quần áo sặc sỡ giống như trẻ em mẫu giáo, ca hát nhảy múa cho cha mẹ xem, có khi còn giả vờ ngã, phát ra tiếng khóc oe oe như trẻ sơ sinh để làm cha mẹ vui lòng, bởi vì trong mắt cha mẹ, con cái dù có lớn đến đâu thì mãi mãi vẫn là trẻ con. Chúng ta đương nhiên không cần phải làm điều gì quá phóng đại như vậy, thế nhưng khi hiếu kính với cha mẹ, ngoài việc làm những công việc giúp các cụ, khiến các cụ không phải lo lắng về sinh hoạt đời thường ra, đồng thời còn phải lưu tâm xem sắc mặt của chính mình có thực sự ôn hòa, vui vẻ hay không, phải để cha mẹ cảm nhận được rằng lòng hiếu thuận của mình là hoàn toàn tự nguyện, từ tận đáy lòng.

Kinh Thi có câu: "Thương thay cha mẹ, sinh ta nhọc nhằn. Thương thay cha mẹ, sinh ta vất vả. Không cha dựa vào ai, không mẹ cậy vào đâu. Cha sinh ra ta, mẹ bồng ẵm ta. Vuốt ve che chở ta, nuôi nấng dạy dỗ ta. Muốn báo đáp ân đức ấy, ơn trời cao biển rộng vô cùng." Cha mẹ sinh ra và nuôi nấng chúng ta, quá đỗi nhọc nhằn. Không có cha, còn ai để nương tựa nữa? Không có mẹ, còn ai để cậy nhờ? Ra khỏi cửa thì cảm thấy bi thương, trở về nhà cũng chẳng nhìn thấy bóng dáng cha mẹ đâu. Cha mẹ sinh ra ta, ẵm bồng ta, chăm sóc ta, nuôi dưỡng ta, ơn nghĩa đối với chúng ta thật chẳng biết nói sao cho hết. Cha mẹ đã già, nếu chúng ta không thể hiếu thuận với các cụ, kính trọng các cụ, thì trong lòng làm sao có thể yên ổn cho được? Hơn nữa, khi chúng ta ở độ tuổi tráng niên, cũng nên nghĩ đến chuyện bản thân mình khi về già rồi cũng sẽ có ngày được con cái chăm sóc, đến lúc đó nếu con cái đối xử với chúng ta bằng thái độ bất kính, thì trong lòng chúng ta lại sẽ có cảm xúc gì đây?

Cho nên, một người chỉ có lòng hiếu thuận thôi là chưa đủ, mà còn phải hiểu vì sao mình phải hiếu thuận, và làm thế nào mới được coi là hiếu thuận. Bạn chỉ có thể đáp ứng nhu cầu vật chất của cha mẹ thôi thì chưa đủ, mà còn phải từ trong tận đáy lòng kính trọng cha mẹ, thấu hiểu cha mẹ; quan sát xem cha mẹ có vui vẻ hay không, suy nghĩ xem làm thế nào để bản thân có thể mang lại niềm vui cho cha mẹ. Tư tưởng của Nho gia không phải là những giáo điều mù quáng, cũng không phải là yêu cầu mang tính quyền uy một chiều, mà hy vọng chúng ta thông qua tư duy lý tính, xuất phát từ tình cảm chân thành trong nội tâm, để thực hiện cho bằng được những yêu cầu của đạo hiếu.

3. Khuyên can uyển chuyển

Rất nhiều người từng nghe qua câu nói "trên đời này không có cha mẹ nào sai cả". Câu nói này vốn không phải do Khổng Tử nói, cũng chẳng phải do Mạnh Tử nói, mà là do các học giả đời Tống về sau tự đúc rút ra, nhằm nhấn mạnh rằng cha mẹ trong thiên hạ đều quan tâm đến con cái, mong muốn tất cả mọi người trên đời đều có thể hiếu thuận với cha mẹ. Thế nhưng, nhìn nhận câu nói này vào thời ngày nay, rất dễ dẫn đến sự hiểu lầm. Cha mẹ trong thiên hạ đều là người tốt, điều đó có khả năng xảy ra không? Không thể nào, lý do rất đơn giản, "nhân vô thập toàn, thục năng vô quá?" Cha mẹ cũng là con người, đã là con người thì ai mà chẳng có lúc phạm sai lầm, cha mẹ cũng vậy, có lúc là do nhận thức sai lầm, có lúc là do phán đoán lệch lạc, thậm chí có lúc còn là cố ý làm điều ác nữa. Khi cha mẹ phạm sai lầm, con cái nên phải làm thế nào? Cha mẹ bảo sao con làm vậy, thế mới gọi là hiếu thuận ư? Đây không phải là ý của Nho gia.

Khổng Tử nói: "Phụng sự cha mẹ mà khuyên can một cách uyển chuyển, thấy ý của các cụ không theo, vẫn phải kính cẩn không trái phép, nhọc lòng mà không oán hận." ("Luận ngữ - Lý nhân")

Khổng Tử giảng rất rõ ràng, cha mẹ cũng có lúc làm chuyện sai trái. Có những bậc cha mẹ nói không chừng công việc họ làm bị xã hội không cho phép, nhưng họ vẫn hết lòng nuôi dưỡng con cái khôn lớn. Con cái sau khi được đi học, được khai tâm mở trí, đã biết rõ thế nào là thiện ác đúng sai, lúc này có lẽ sẽ muốn khuyên can cha mẹ. Bởi vì nước có quốc pháp, nhà có gia quy, một con người mà không bước đi trên con đường chính đạo, thì sớm muộn gì cũng sẽ xảy ra vấn đề. Thế nhưng cách thức bạn khuyên can cha mẹ phải thật uyển chuyển, không được dùng lời lẽ gay gắt, bề trên ra oai dạy dỗ học sinh như thế, cha mẹ sẽ không đời nào tiếp thu đâu, trái lại còn cảm thấy đứa con này bất hiếu, nghịch tử. Nếu thực sự không tài nào khuyên nổi, Khổng Tử nói người làm con vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc "không trái phép, không oán hận", nghĩa là vẫn hết sức kính trọng họ, không làm trái ý họ, nỗ lực làm tốt những việc đáng làm, tuyệt đối không oán thán để tránh làm tổn hại đến tình cảm ruột thịt.

Mạnh Tử nói: "Lỗi lầm lớn của người thân mà không oán trách, tức là ngày càng xa cách, đó là bất hiếu; lỗi lầm nhỏ của người thân mà oán trách, tức là không thể dung thứ. Ngày càng xa cách, là bất hiếu; không thể dung thứ, cũng là bất hiếu." ("Mạnh Tử - Cầu tử hạ") Cha mẹ phạm lỗi lầm lớn, con cái nếu không oán trách, không chịu khuyên can, thì biểu thị cho mối quan hệ ngày càng xa cách, đó là đứa con bất hiếu; cha mẹ có lỗi lầm nhỏ nhặt, con cái nếu cứ cố chấp chỉ trích, câu nệ tiểu tiết, thì cũng là bất hiếu. Tại sao lại như vậy? Bởi vì nếu cha mẹ phạm lỗi lầm tày trời mà bạn không chịu khuyên can, để cha mẹ cứ lún sâu vào sai lầm mãi, nói không chừng cuối cùng sẽ gây ra đại họa, trở thành kẻ gây hại cho xã hội, đến lúc đó có hối hận thì đã quá muộn rồi; thế nhưng nếu cha mẹ chỉ mắc những lỗi lầm nhỏ nhặt, thì bạn đừng có khuyên can nữa, con người ai mà chẳng có lúc sai sót nhỏ, lỗi nhỏ mà cũng mang ra khuyên can, thì gia đình sẽ trở nên giống như trường học vậy, con cái biến thành thầy giáo, cha mẹ suốt ngày nơm nớp lo sợ, chỉ sợ bản thân phạm phải lỗi lầm gì, ảnh hưởng đến sự hòa hợp của quan hệ gia đình; ngược lại, nếu con cái mắc lỗi lầm nhỏ mà cha mẹ cũng dùng thái độ nghiêm khắc hệt như thầy giáo để đối xử, thì nhà cửa sẽ chẳng còn ra hình thù một cái nhà nữa.

Mạnh Tử lấy một ví dụ, nói rằng có một người nọ, nếu là người nước Việt (người nước ngoài hoặc kẻ địch) dùng cung tên bắn anh ta, anh ta có thể vừa cười vừa nói mà kể lại chuyện đó, bởi vì mối quan hệ giữa anh ta và người nước Việt vốn vô cùng xa cách. Thế nhưng nếu là người anh trai ruột dùng cung tên bắn anh ta, anh ta chắc chắn sẽ khóc lóc thảm thiết khi kể lại chuyện ấy. Tại sao lại như vậy? Bởi vì anh em là người thân, người thân đối xử không tốt với mình, tự nhiên sẽ khiến mình cảm thấy đau lòng, xót xa. Cái gọi là "thương cho roi cho vọt", cha mẹ đối với con cái luôn tràn ngập tâm tình kỳ vọng. Chính vì kỳ vọng sâu sắc, cho nên chỉ cần có một chút tổn thương nhỏ thôi, cũng đủ khiến họ đau buồn khôn nguôi. Thế nhưng điều này không có nghĩa là con cái nên mù quáng tuân theo cha mẹ, phủ nhận mọi sai lầm của cha mẹ, cũng không phải là mù quáng khẳng định mọi hành vi của cha mẹ, mà là tùy theo yêu cầu tình cảm trong nội tâm, bày tỏ thái độ thích hợp đối với việc làm của cha mẹ. Hai chữ "thích hợp" ở đây vô cùng quan trọng. Trong hoàn cảnh nào, mối quan hệ nào, điều kiện nào, thì nên dùng phương thức nào để đối xử qua lại lẫn nhau, Nho gia trong vấn đề này cực kỳ tâm huyết, rất hợp tình hợp lý, thấu tình đạt lý. Lòng hiếu thuận mà Nho gia đề cập, không phải là thứ hiếu thuận ngu muội, mà là bản thân bạn phải có khả năng phán đoán lỗi lầm của cha mẹ, từ đó uyển chuyển khuyên can họ. Do thời đại khác nhau dẫn đến sự khác biệt về quan niệm, hoặc do cá tính khác nhau dẫn đến phong cách đối nhân xử thế khác nhau, thì đừng nên cố chấp ép buộc; thế nhưng đối với những lỗi lầm rõ ràng là vi phạm pháp luật kỷ cương, làm tổn hại đến trật tự công cộng xã hội, thì phải đặc biệt cẩn trọng. Hơn nữa, khi khuyên can cha mẹ, phải lựa chọn thời điểm thích hợp. Ví dụ như vào dịp sinh nhật cha mẹ, lúc tâm trạng các cụ đang vui vẻ, bạn đem ra khuyên nhủ, hiệu quả sẽ cao hơn; còn nếu thực sự không khuyên nổi, thì cũng đừng nên miễn cưỡng. Bởi vì cha mẹ tuổi tác đã cao, tính cách rất khó thay đổi, người làm con chỉ đành tự mình nỗ lực tích đức hành thiện, để bù đắp lại những sai lầm cho cha mẹ.

Trong Kinh Dịch Truyện có câu "Nhà tích lũy điều thiện, ắt có phần phúc dư dã; nhà tích lũy điều không thiện, ắt có tai vạ dư dã." Người Trung Quốc cho rằng, thiện và ác đều được tính trên đơn vị gia đình. Một gia đình qua nhiều thế hệ, nếu tích cực làm nhiều việc thiện, con cháu sau này sẽ nhận được một số phúc báo; nếu làm quá nhiều chuyện không nên làm, con cháu cũng sẽ bị liên lụy ảnh hưởng. Người xưa nói thế, chính là hy vọng con cái cùng cha mẹ hành thiện tích đức, thì mới có thể "gia hòa vạn sự hưng", tạo ra ảnh hưởng tích cực đối với xã hội. Nếu hệ giá trị của một gia đình xuất hiện sự lệch lạc, chỉ biết dùng mọi thủ đoạn để kiếm tiền, thì cho dù có đạt được thành tựu đi chăng nữa, cũng có khả năng gây tổn hại cho xã hội. Cho nên, bất kể cha mẹ là người tốt hay kẻ xấu, con cái đều phải làm tròn bổn phận của mình, tích đức hành thiện thật nhiều, đó cũng được coi là hiếu thuận rồi.

4. Hiếu và sức khỏe

Khi còn trẻ chúng ta rất dễ khiến cha mẹ phải bận lòng lo lắng, đây là trải nghiệm mà bất cứ ai cũng từng có. Chúng ta đôi khi nghĩ rằng, đó là do cha mẹ tự chuốc lấy lo lắng đấy chứ, chứ chúng ta có làm gì khiến các cụ phải bận tâm đâu. Thực sự là như vậy sao? Tục ngữ có câu, con đi ngàn dặm mẹ lo âu. Cho dù con cái chẳng làm gì cả, chỉ là xuất môn đi một chuyến ở xa, thì làm cha mẹ cũng sẽ lo lắng khôn nguôi. Cho nên Khổng Tử mới nói: Cha mẹ còn sống, không đi chơi xa. Nếu đi xa, phải có điểm đến nhất định. ("Luận ngữ - Lý nhân")

Khi cha mẹ còn tại thế, con cái không đi xa; nếu có việc phải đi xa, thì bắt buộc phải có địa điểm đến cụ thể.

Người xưa rời nhà đi xa đại khái có bốn trường hợp: Một là du học, đi ra ngoài để học tập; hai là du sĩ, đi ra ngoài làm quan; ba là du lịch, ngắm nhìn phong cảnh núi non hoặc các di tích danh lam thắng cảnh ở khắp nơi; bốn là đi chơi, đến nhà bạn bè thăm thú. Thời xưa thông tin liên lạc không phát triển, không giống như thời nay ai ai cũng có điện thoại di động, đi đến bất cứ nơi nào cũng có thể nhắn tin, gọi điện báo cáo tình hình với cha mẹ; vào thời cổ đại, con cái một khi đã đi xa, sẽ có rất nhiều ngày bặt vô âm tín, không thể liên lạc được, cha mẹ sẽ vô cùng lo lắng, ngóng trông, không biết con cái ở bên ngoài sẽ xảy ra tình huống gì. Cho nên Khổng Tử mới nói, khi cha mẹ còn sống, người làm con cố gắng không đi xa nhà, để tránh làm các cụ phải ngóng trông, đây cũng là một loại hiếu thuận. Tuy nhiên ý của Khổng Tử không phải là cấm cản không cho bạn đi đâu cả, mà là bạn đi ra ngoài đến nơi nào, phải để cho cha mẹ biết, phải luôn nhớ rằng cha mẹ đang lo lắng cho mình; nghĩ xem hiện tại mình làm việc này, đi đến nơi này, cha mẹ có lo lắng hay không? Nếu cha mẹ sẽ lo lắng, thì đừng làm nữa.

Bên cạnh đó, Khổng Tử cho rằng, người làm con biết bảo trọng thân thể, giữ gìn sức khỏe, ít ốm đau bệnh tật, đó cũng là một thứ hiếu thuận.

Mạnh Vũ Bá hỏi về đạo hiếu. Khổng Tử nói: "Cha mẹ chỉ lo lắng vì bệnh tật của con cái." ("Luận ngữ - Vi chính")

Mạnh Vũ Bá thỉnh giáo thế nào là hiếu thuận. Khổng Tử nói: "Hãy khiến cho cha mẹ chỉ phải lo lắng vì bệnh tật của bạn mà thôi."

Trong sách "Luận ngữ", những đoạn học trò và người đương thời hỏi Khổng Tử về "đạo hiếu" có rất nhiều, Khổng Tử áp dụng phương pháp "dạy học tùy theo năng lực", mỗi một lần đưa ra đáp án lại hoàn toàn khác nhau. Mạnh Vũ Bá là con trai của Lỗ quốc đại phu Mạnh Ý Tử, là con cháu nhà quý tộc. Lần này ông ta đem chuyện hỏi về đạo hiếu ra thỉnh giáo Khổng Tử, đáp án mà Khổng Tử đưa ra rất đơn giản: Có sức khỏe chính là hiếu thuận, khiến cha mẹ chỉ vì bệnh tật của bạn mà phải lo lắng. Ý là gì? Con người sống trên đời ốm đau bệnh tật vốn là chuyện khó tránh khỏi, sự thay đổi của thời tiết, vấn đề ăn uống, đều có thể dẫn đến việc lâm bệnh. Ngoại trừ bệnh tật ra, tất cả mọi chuyện khác, bao gồm cả việc học hành, kết bạn, làm việc, đều không để cha mẹ phải lo lắng, thế thì bạn chính là người cực kỳ hiếu thuận rồi. Câu nói này nghe có vẻ không khó, nhưng để thực sự làm được thì lại chẳng hề dễ dàng chút nào. Lòng cha mẹ thương con bao giờ cũng sâu nặng tựa biển trời, nhọc nhằn tận tụy suốt cả một đời vì con cái. Những lúc con cái ốm đau, thậm chí họ còn nguyện lấy thân mình ra để gánh thay. Chúng ta ngày nay khi đã làm cha làm mẹ rồi, nếu con cái thực sự có thể khiến chúng ta chẳng phải bận lòng lo lắng bất cứ chuyện gì, mà chỉ thỉnh thoảng lo xem chúng có bị ốm đau hay không thôi, thế thì ngoài việc cảm thấy may mắn vì mình sinh được đứa con hiếu thảo ra, chúng ta còn có thể nói gì được nữa chứ?

Có một người học trò tên là Cao Sài, Khổng Tử nhận xét về anh ta rằng "Sài cũng khờ khạo", có phần ngốc nghếch, tại sao lại thế? Bởi vì khi cha mẹ qua đời, anh ta quá đỗi đau thương, khóc cạn cả nước mắt, thậm chí còn khóc ra cả máu. Qua đó có thể thấy anh ta không biết cách kiềm chế bản thân ở mức độ vừa phải. Khổng Tử nói với anh ta rằng, anh nhớ thương cha mẹ là đúng, nhưng không biết bảo trọng thân thể thì lại là không khôn ngoan. Bởi vì bản thân anh vẫn còn gia đình con cái phải chăm sóc, vẫn còn trách nhiệm với xã hội phải gánh vác, nếu thân thể của anh xảy ra vấn đề gì, thì cho dù cha mẹ dưới suối vàng có linh thiêng đi chăng nữa, cũng sẽ chẳng thể nào yên lòng được đâu. Cho nên, Cao Sài tuy rằng hiếu thảo, nhưng trong mắt Khổng Tử, đau lòng đến mức làm tổn hại đến thân thể của chính mình là điều không đúng.

Thế nên, người làm con biết quý trọng thân thể, giữ gìn sức khỏe, không chỉ là trách nhiệm làm người, mà còn là gốc rễ của đạo hiếu. Nho gia bàn về hiếu thuận, nhấn mạnh tinh thần "đặt mình vào hoàn cảnh của người khác", phải biết suy nghĩ cho cha mẹ, mà cách suy nghĩ cho cha mẹ chính là đặt bản thân mình vào vị trí của cha mẹ để suy ngẫm. Có câu nói rất hay, "nuôi con mới hiểu lòng cha mẹ". Khi chúng ta còn là những đứa con, thường không tài nào thấu hiểu được tâm trạng của cha mẹ; chỉ cho đến khi chính mình cũng làm cha làm mẹ, sinh hạ con cái rồi, mới nghĩ đến chuyện cha mẹ ngày xưa đã từng lo lắng cho mình như thế nào. Cho nên Nho gia mới nói, một người có cha mẹ ở bên trên, có con cái ở bên dưới, mới có khả năng thể hiện ra lòng hiếu thuận sâu sắc, đây là đạo lý tự nhiên của nhân tính.

Con người sau khi lớn lên trưởng thành, một mặt có những đứa con của riêng mình, phải cùng con cái trải qua quá trình trưởng thành. Bởi vì chúng ta sau khi lớn khôn rồi, thường hay quên đi những trải nghiệm trong quá khứ của chính mình, quên mất ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ, thế nhưng con cái sẽ nhắc nhở chúng ta rằng, cha mẹ ngày trước cũng đã vất vả nuôi nấng chúng ta khôn lớn nhường nào. Mặt khác, cũng phải cùng cha mẹ già đi. Nhìn thấy cha mẹ ngày một lớn tuổi, liền phải nghĩ đến chuyện tương lai sau này chúng ta cũng sẽ giống như cha mẹ, già nua, bệnh tật, tiến gần đến điểm cuối của sinh mệnh. Cho nên, một người có cha mẹ, có con cái, có một mái ấm gia đình trọn vẹn, đó là một niềm hạnh phúc vô cùng to lớn trong đời người. Nhìn thấy con cái, sẽ liên tưởng đến hình ảnh hồi nhỏ của chính mình; nhìn thấy cha mẹ, có thể mường tượng ra dáng vẻ về già của chính mình sau này. Một con người có quá khứ có tương lai, thì hiện tại của người đó mới không đến nỗi trống rỗng, sinh mệnh của người ấy mới có gốc có nguồn, từ từ trưởng thành viên mãn.

5. Pháp lý và tình người

Một vấn đề thường xuyên bị đặt dấu hỏi đối với tư tưởng Nho gia đó là: Rốt cuộc Nho gia có phải vì tình người mà phớt lờ pháp lý hay không? Hoặc tư tưởng Nho gia có thiếu đi tinh thần pháp trị, không quá phù hợp với xã hội hiện đại hay không? Điểm tranh cãi lớn nhất bắt nguồn từ đoạn hội thoại sau đây: Diệp Công bảo Khổng Tử rằng: "Người ngay thẳng ở làng chúng tôi, có cha đi ăn trộm cừu, mà con đem ra tố giác." Khổng Tử nói: "Người ngay thẳng ở làng chúng tôi khác với cách đó: Cha giấu giếm cho con, con giấu giếm cho cha. Sự ngay thẳng nằm ở trong đó rồi." ("Luận ngữ - Tử Lộ") Diệp Công (đại phu nước Sở) nói với Khổng Tử: "Người ở làng chúng tôi có một người ngay thẳng tên là Cung, cha ông ta ăn trộm cừu, ông ấy tận tay tố giác." Khổng Tử nói: "Cách làm của những người ngay thẳng ở làng chúng tôi khác với điều đó: Cha che giấu cho con, con che giấu cho cha. Sự ngay thẳng tự khắc nằm ở trong đó rồi."

Theo lẽ thường, phẩm đức "ngay thẳng" đòi hỏi chúng ta phải tố giác tất cả mọi việc bất nghĩa. Cho nên, cha ăn trộm cừu, con trai đi tố cáo, chẳng lẽ không phải là mô hình ngay thẳng chuẩn mực hay sao? Thế nhưng Khổng Tử nghe xong, lại không thể chấp nhận được. Cha ăn trộm cừu, bất kỳ ai cũng có thể đứng ra chứng minh, nhưng con trai thì không thể làm chứng, thân thích trực hệ không được phép làm chứng, bởi vì đứng ra làm chứng chính là đi ngược lại với đạo đức luân lý giữa những người thân thích trong gia đình. Khổng Tử đưa ra chữ "giấu giếm", cho dù thế nào đi nữa cũng không thể đứng trên lập trường của một người con để tố giác cha mình, hoặc đứng trên lập trường của một người cha để tố giác con trai mình, bởi vì tình thân ruột thịt giữa cha và con còn lớn hơn cả luật pháp. Khổng Tử còn cho rằng trong cái gọi là "cha con che giấu cho nhau" ấy vẫn có thể tìm thấy được sự "ngay thẳng". Tại sao vậy? Lý do có hai điều:

Thứ nhất, bất kỳ phẩm đức nào cũng đều phải lấy cảm xúc chân thành làm nền tảng. Một con người nếu không có một trái tim chân thành, cho dù có thể hiện ra những hành vi chính nghĩa đi chăng nữa, thì cũng rất khó duy trì lâu dài; bởi vì anh ta làm thế có lẽ chỉ để lấy lòng xã hội, hoặc bề ngoài có vẻ như đang chủ trương chính nghĩa, nhưng trong tâm can đã đi ngược lại với những yêu cầu của nhân tính rồi. Trong tất cả mọi thứ cảm xúc của con người, không có gì quan trọng hơn tình thân ruột thịt, việc che giấu lỗi lầm mà người thân phạm phải xuất phát từ tình cảm chân thành, không nỡ nhìn thấy người thân của mình chịu sự trừng phạt, việc không đứng ra tố giác không có nghĩa là chống lại công quyền của xã hội, bằng không nếu tất cả mọi người đều do người nhà tự đứng ra tố giác lẫn nhau, thì còn cần đến thẩm phán với cảnh sát để làm gì nữa? Hy sinh tình thân ruột thịt vì sự ngay thẳng, chẳng khác nào vì chịu trách nhiệm với tập thể mà từ bỏ trách nhiệm cá nhân, gốc ngọn nặng nhẹ vô tình bị đảo lộn hoàn toàn.

Thêm nữa, một hành vi có "ngay thẳng" hay không, đều cần phải cân nhắc đến mối quan hệ giữa người thực hiện hành vi và đối phương, chỉ cần đúng mực, thì đều có thể gọi là "ngay thẳng". Khổng Tử nói: "Ưa sự ngay thẳng mà không thích học hỏi, tệ hại của nó sẽ thành hấp tấp." ("Luận ngữ - Dương Hóa") Nếu không chịu học hỏi những đạo lý sự việc ở đời, mà chỉ khăng khăng làm theo ý mình, theo đuổi cái gọi là chính nghĩa, thì kết quả sẽ biến thành "hành sự kỳ quái, làm tổn thương lòng người".

Trong sách Mạnh Tử cũng có một câu chuyện. Một người học trò thỉnh giáo Mạnh Tử: "Thuấn là thiên tử, Cao Dao là pháp quan, nếu cha của Thuấn giết người, thì nên xử lý thế nào?" Mạnh Tử đáp: "Bắt giam ông ta là được chứ sao." Người học trò hỏi: "Thế Thuấn sẽ không ngăn cản ư?" Mạnh Tử đáp: "Thuấn ngăn cản thế nào được? Cao Dao có căn cứ pháp luật mà." Thiên tử phạm pháp tội chịu chung với thứ dân, huống chi là cha của thiên tử phạm pháp, đương nhiên phải tiếp nhận sự chế tài của pháp luật. Người học trò lại hỏi: "Vậy thì Thuấn sẽ làm thế nào?" Mạnh Tử trả lời: "Thuấn xem việc vứt bỏ thiên hạ, cũng giống như vứt bỏ chiếc giày rách vậy. Ông sẽ lén cõng cha trốn chạy, sống ở ven bờ biển, trọn đời vui vẻ, sung sướng đến mức quên cả thiên hạ." ("Mạnh Tử - Tận tâm thượng")

Tại sao Mạnh Tử lại nói như vậy? Lẽ nào cha của Thuấn giết người là bị oan uổng hay sao? Hoặc người nhà của nạn nhân chẳng lẽ không đau buồn, không thống khổ ư? Sự lựa chọn của Thuấn kỳ thực rất đơn giản, bạn muốn làm thiên tử thì phải duy trì chính nghĩa xã hội, phái pháp quan đi bắt cha mình, thế nhưng nếu bạn không làm thiên tử nữa, chỉ là một người con trai đơn thuần, thì phải đặt đạo hiếu lên hàng đầu, tìm mọi cách để bảo vệ cha mình. Quan niệm này hoàn toàn đồng nhất với lập trường "cha che giấu cho con, con che giấu cho cha. Sự ngay thẳng nằm ở trong đó rồi" mà Khổng Tử từng nói. Pháp luật là nhu cầu của xã hội, còn nhân luân lại là yêu cầu của thiên tính, chúng ta không thể vì nhu cầu của xã hội mà làm tổn hại đến yêu cầu của thiên tính.

Thế nhưng, đối với cách làm này, đại đa số mọi người e rằng sẽ cảm thấy khó lòng chấp nhận, chẳng phải điều này vì tình thân trong gia đình mà làm tổn thương đến chính nghĩa xã hội hay sao? Thế nhưng đừng quên rằng, Thuấn đã đưa ra sự lựa chọn của mình rồi, cá và tay gấu không thể được cả hai, chỉ có thể chọn lấy một kết quả mà bản thân mình có thể chấp nhận được, mà kết quả bạn có thể chấp nhận được đương nhiên phải xuất phát từ tình cảm chân thành của nhân tính để bảo vệ cha, bằng không nếu bạn tiếp tục làm thiên tử, mà cha lại bị giam cầm trong ngục tối, thậm chí bị phán án tử hình, liệu bạn có thể an lòng nổi nữa hay không? Liệu có thể tận tâm tận lực phục vụ bách nhân bách tính nữa hay không?

Qua đó có thể thấy, mô hình tư duy của Nho gia không phải là muốn đi ngược lại với pháp luật, mà là muốn cho bạn hiểu rằng pháp luật cần phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm chân thành của nhân tính, nếu thứ tình cảm này bị đe dọa, thì toàn bộ kiến trúc của xã hội e rằng cũng khó lòng duy trì lâu dài được. Một xã hội không thể nào thập toàn thập mỹ, rất nhiều việc đều phải trả giá cho nó, trong mắt Nho gia, không nên vì theo đuổi sự chính nghĩa của pháp luật xã hội mà hy sinh tình cảm người nhà, bởi vì tình thân là duy nhất, là thứ không gì thay thế được. Hơn nữa nếu như phải hy sinh, xin hỏi phải hy sinh đến mức độ nào? Trên thực tế, "đại nghĩa diệt thân" tuyệt đối không phải là tư tưởng của Nho gia. Nho gia cho rằng nếu bạn không thể chân thành đối diện với tâm nguyện mong muốn cha mẹ được bình an vui vẻ của chính mình, mà lại nhảy cóc thẳng đến chính nghĩa xã hội, cha mẹ vừa phạm lỗi là lập tức đi tố cáo, khiến cha mẹ chịu sự trừng phạt, thì đó chính là đi ngược lại với tình cảm con người. Tư tưởng Nho gia với tư cách là một trường phái triết học, muốn lý giải những trải nghiệm trong cuộc sống của nhân loại, phải chịu áp lực rất lớn. Bởi vì trải nghiệm sống của con người vốn tràn ngập vô vàn mâu thuẫn, vô vàn sự thật phức tạp, đằng sau chuyện giết người trộm cừu có lẽ vẫn còn ẩn chứa rất nhiều yếu tố phức tạp khác, không thể dùng sự đơn giản để phán đoán được. Nho gia thà rằng lúc này nói rằng, bạn phải xuất phát từ tình cảm trong lòng để bảo vệ cha mẹ, thế nhưng nếu pháp luật phán quyết cha mẹ có tội, thì cũng không cần phải kháng cự, làm sai thì phải chịu trách nhiệm, đó mới là thái độ chính xác và hợp lý.

6. Hiếu và thủ lễ

Cái gọi là "hiếu", chính là một loại biểu hiện cơ bản nhất của chân tình con người, còn cái gọi là "lễ", chính là một thứ quy chuẩn xã hội mà tất cả mọi người đều phải tuân thủ. Hiếu và lễ có mối quan hệ gì với nhau? Khổng Tử cho rằng có quan hệ. Có một lần Mạnh Ý Tử thỉnh giáo ông thế nào là hiếu? Khổng Tử chỉ đáp lại có hai chữ "vô vi", đừng làm trái lễ chế.

Khi sống, phụng sự bằng lễ; lúc chết, mai táng bằng lễ, tế tự bằng lễ. ("Luận ngữ - Vi chính")

Khi cha mẹ còn sống, tuân theo quy định của lễ để phụng sự các cụ; sau khi cha mẹ qua đời, tuân theo quy định của lễ để mai táng các cụ, tuân theo quy định của lễ để tế cúng các cụ.

Tại sao Khổng Tử lại trả lời như vậy? Dạy học tùy theo năng lực. Thời bấy giờ nước Lỗ bị ba nhà đại phu là Mạnh, Tần Thúc, Quý nắm giữ triều chính, thường xuyên vi phạm lễ chế, vượt quyền làm rất nhiều việc không hợp phép tắc lễ nghĩa. Ví dụ như học sinh của Khổng Tử là Nhiễm Hữu làm quản gia cho nhà họ Quý, nhà họ Quý muốn đi tế lễ ở núi Thái Sơn, Khổng Tử liền bảo Nhiễm Hữu can ngăn, bởi vì đây là việc làm trái với lễ chế. Chỉ có thiên tử và chư hầu mới có tư cách tế tự núi Thái Sơn, nhà họ Quý thân làm đại phu nước Lỗ, hành vi này thuộc về tội vượt quyền lấn át. Kết quả Nhiễm Hữu nói rằng anh ta không thể khuyên can nổi, Khổng Tử vô cùng thất vọng.

Người đặt câu hỏi lần này là Mạnh Ý Tử cũng là con cháu một nhà đại phu. Ông ta kém Khổng Tử hai mươi tuổi, từng vâng lệnh cha là Mạnh Hỉ Tử, theo Khổng Tử học lễ. Cho nên khi ông ta thỉnh giáo Khổng Tử thế nào là hiếu thuận, Khổng Tử đã đưa ra câu trả lời ngắn gọn và kiên quyết: Đừng làm trái lễ chế. Đồng thời cũng là để nhắc nhở ông ta, một người con cháu quý tộc không thể vì có tiền có quyền, mà vượt qua những quy định của "chữ lễ", tổ chức những nghi thức tang ma vượt quá thân phận của mình, để cho tất cả mọi người trong thiên hạ đều biết rằng tôi hiếu kính với cha mẹ. Trong mắt Khổng Tử, đây là hành vi vi phạm lễ chế, là bất hiếu. Chỉ có không trái với lễ, mới có thể thực hiện được tâm nguyện hiếu thuận. Lòng hiếu thảo từ bên trong kết hợp với lễ pháp ở bên ngoài, mới là sự thực hành trọn vẹn của đạo hiếu.

Bên cạnh đó, Khổng Tử cho rằng, mối quan hệ giữa hiếu và lễ còn được thể hiện ở chỗ:

Khi cha còn sống hãy quan sát chí hướng của người, khi cha qua đời hãy quan sát hành vi của người. Trong ba năm không thay đổi đạo của cha, có thể gọi là hiếu vậy. ("Luận ngữ - Học nhi")

Quan sát một con người, phải xem lúc cha còn sống người đó lựa chọn chí hướng gì, sau khi cha qua đời thể hiện những hành vi gì. Nếu người đó có thể trong suốt ba năm trời không thay đổi những nguyên tắc đối nhân xử thế của cha mình, thì có thể được gọi là hiếu thuận rồi.

Tại sao "trong ba năm không thay đổi đạo của cha" lại chính là hiếu? Điều này có liên quan đến quy định của lễ. Chế độ xưa quy định cha mẹ qua đời, con cái phải để tang ba năm. Theo lời của Tuân Tử, ba năm này không phải là ba năm tròn, mà là hai mươi lăm tháng. Rất nhiều người đặt câu hỏi, nếu như ba năm không thay đổi đạo của cha, lỡ như nguyên tắc của người cha không tốt thì phải làm sao? Lẽ ra nên lập tức sửa đổi ngay chứ, tại sao lại phải đợi đến ba năm sau mới sửa? Ngược lại, nếu nguyên tắc của người cha rất tốt, thì ba năm sau tại sao lại phải thay đổi? Hoàn toàn có thể tiếp tục làm tiếp chứ. Vấn đề này rất phức tạp, bởi vì tính cách phong cách của mỗi cặp cha con đều khác nhau, tình hình thực tế của "đạo của cha" cũng vô cùng phức tạp, "trong ba năm không thay đổi đạo của cha" là một cách làm ổn định dựa trên cơ sở đó.

Ví dụ như người cha thích cứu trợ viện mồ côi, còn tôi lại thích cứu trợ viện dưỡng lão; trong vòng ba năm sau khi cha qua đời, tôi là nên tiếp tục làm theo ý của cha cứu trợ viện mồ côi? Hay là theo ý tưởng của mình, đem tiền quyên góp cho viện dưỡng lão? Khổng Tử cho rằng, e rằng bạn vẫn phải theo thói quen của cha để tiếp tục làm trong ba năm, tại sao vậy? Để tránh làm cho những người vốn được cha chăm sóc cảm thấy thất vọng. Bạn hoàn toàn có thể làm tròn ba năm rồi, sau đó mới tiến hành cải cách theo ý tưởng của chính mình.

Lấy học trò của Khổng Tử là Tăng Sâm mà nói, cha của Tăng Sâm tuổi đã cao, ông phụng dưỡng cha trong mỗi bữa ăn đều có rượu có thịt. Sau khi dùng bữa xong, ông hỏi cha, thức ăn thừa nên cho ai? Người cha đáp, lần này cho nhà họ Trương ở sát vách đi. Tăng Sâm tôn trọng suy nghĩ của cha, để cha có được quyền tự do sắp xếp đồ ăn thừa, khiến cha cảm thấy bản thân tuy tuổi đã cao, nhưng vẫn có năng lực giúp đỡ những người nghèo khó hơn, điều này cho thấy Tăng Sâm rất hiếu thảo. Đến khi Tăng Sâm tự mình về già, con trai ông phụng dưỡng ông lại hoàn toàn khác. Mỗi bữa ăn cũng có rượu có thịt, thế nhưng sau khi ăn xong, không còn hỏi ông xem nên xử lý số thức ăn thừa thế nào nữa. Nó hỏi, còn thừa không? Đứa con đáp, hết rồi. Tại sao? Chê phiền phức. Thế nhưng sự khác biệt giữa hiếu và bất hiếu nằm chính ở điểm này. Lúc Tăng Sâm phụng dưỡng cha, đã giúp cho nguyện vọng chăm sóc người nghèo của cha được thực hiện, còn khi con trai của Tăng Sâm phụng dưỡng ông, lại phớt lờ điểm này. Đương nhiên chúng ta cũng có thể nói bản thân Tăng Sâm rất hiếu thảo, nhưng lại không dạy dỗ được con trai mình, đây là một chuyện hoàn toàn khác.

Cho nên, khi Khổng Tử bàn về lòng hiếu thuận, ngoài việc phải có tình cảm chân thành ra, lễ chế cũng là quy chuẩn bắt buộc phải tuân thủ. Có như vậy, hành vi của con người mới không đến mức "quá trớn", cũng không đến mức "bất cập", các loại cảm xúc mới có thể "bộc phát ra đều trúng mực thước", chữ "mực thước" ở đây chính là chừng mực thích hợp. Con người dù ở vào bất kỳ thời đại nào, bất kỳ xã hội nào, chỉ có sự kết hợp giữa việc tuân thủ pháp luật và coi trọng lễ nghi lại với nhau, thì con đường nhân sinh mới có thể bước đi thật vững vàng. Có lẽ sẽ có người nói rằng, tư tưởng của Nho gia có phải có phần bảo thủ quá không nhỉ. Thế nhưng đừng quên rằng, một con người sống trên đời, chỉ có sự bảo thủ vững vàng, mới có thể từ từ trưởng thành; bằng không mặt lễ nghi chế độ mà thay đổi quá nhanh, đến cuối cùng e rằng sẽ chẳng biết đặt tay chân vào đâu, trái lại còn làm rối loạn cả chừng mực.

7. Tang kỳ ba năm

"Tang kỳ ba năm" có lẽ được xem là đoạn đối thoại gay gắt nhất trong sách "Luận ngữ". Khổng Tử có một người học trò tên là Tể Ngã, đứng đầu bảng về khoa ngôn ngữ. Cậu học trò này mỗi lần xuất hiện, hình như đều mang đến cho Khổng Tử một vài nỗi bực dọc. Ví dụ như cậu ta ban ngày ngủ gật, Khổng Tử mắng cậu ta là "cây mục không thể đẽo, tường đất bùn không thể trát", hết thuốc chữa rồi. Tại sao? Bởi vì thời xưa không có đèn điện, ban đêm bắt buộc phải đi ngủ, ban ngày thì nên đọc sách làm việc. Một người mà ban ngày ban mặt lại lăn ra ngủ không phải là kẻ vô chí thì cũng là kẻ lười biếng, cho nên Khổng Tử mới chỉ trích cậu ta. Thế nhưng, lần này trong vấn đề bàn về lòng hiếu thuận, Tể Ngã lại đưa ra một câu hỏi rất hay.

Tể Ngã hỏi: "Tang kỳ ba năm, thời gian đã quá dài rồi. Người quân tử ba năm không thực hành lễ, lễ ắt sẽ hỏng; ba năm không tấu nhạc, nhạc ắt sẽ sập. Lúa cũ đã hết, lúa mới đã mọc, khoan cây lấy lửa để đổi lửa mới, để tang một năm là đủ rồi." Khổng Tử nói: "Ăn gạo tẻ ngon, mặc áo lụa là, trong lòng em có yên ổn không?" Đáp rằng: "Yên ổn." ("Luận ngữ - Dương Hóa")

Tể Ngã thỉnh giáo rằng: "Để tang cha mẹ ba năm, thời gian suy cho cùng là quá dài. Người quân tử ba năm không cử hành lễ nghi, lễ nghi nhất định sẽ hoang phế; ba năm không tấu âm nhạc, âm nhạc nhất định sẽ tản thất. Lúa cũ đã ăn hết, lúa mới cũng đã thu hoạch; cây khoan lấy lửa cũng vừa tròn một vòng thay đổi. Cho nên để tang một năm là đủ rồi." Khổng Tử nói: "Để tang chưa đủ ba năm, mà đã ăn cơm gạo trắng, mặc áo lụa là, trong lòng em có thấy yên ổn hay không?" Tể Ngã đáp: "Yên ổn ạ."

Cha mẹ qua đời, con cái để tang ba năm, đây là quy định từ nhà Thương, trên thực tế sang đến nhà Chu thì đã không còn thịnh hành lắm nữa. Tổ tiên của Khổng Tử là người nhà Thương, ông vẫn luôn cho rằng bộ quy tắc của tổ tiên khi ấy vẫn còn áp dụng được, kết quả lại bị Tể Ngã đưa ra nghi vấn. Cậu ta nói rằng, để tang ba năm, thời gian suy cho cùng là quá dài, ba năm không thể hành lễ tấu nhạc, nhất định sẽ dẫn đến tình trạng lễ hỏng nhạc sập. Điều này cũng giống như trẻ con học đàn piano vậy, ba năm không cho phép đánh đàn, đến lúc đánh lại nhất định sẽ lạc điệu, đây là tình hình trong thế giới nhân văn. Còn thế giới tự nhiên thì sao? Thời xưa nước Lỗ một năm thu hoạch một lần, gạo cũ ăn hết, gạo mới thu hoạch mất một năm. Gỗ dùng để lấy lửa, cũng là một năm xoay vòng sử dụng một lần. Tể Ngã có tư duy rất logic, cậu ta cho rằng thế giới nhân văn ba năm là quá dài, còn thế giới tự nhiên thì một năm là một chu kỳ, cho nên để tang một năm là đủ rồi.

Theo lẽ thường, lời nghi vấn này rất khó phản bác. Khổng Tử tổng thể không thể nói rằng, Tể Ngã này, em nói ba năm không hành lễ tấu nhạc, lễ nhạc nhất định sẽ sập đổ, em đã từng đi điều tra chưa? Hoặc em đã đến Đài Loan chưa, Đài Loan một năm thu hoạch ba lần cơ mà chứ đâu phải một lần? Cứ đôi co như thế thì có mà nói cả ngày cũng không hết chuyện. Khổng Tử rốt cuộc vẫn là một người thầy vĩ đại. Ông lập tức chuyển nền tảng của quy chuẩn luân lý sang cảm xúc tâm lý. Ông nói cha mẹ qua đời, bản thân em chịu tang chưa đủ ba năm, đã ăn ngon mặc đẹp rồi, trong lòng em có cảm thấy yên ổn hay không? Nào ngờ Tể Ngã lại trả lời một cách thẳng thừng không chút khách sáo rằng: "Yên ổn ạ." Tâm an lý đắc. Thế mới bảo Tể Ngã là đứa học trò hư hỏng, hoàn toàn không hiểu nổi dụng tâm của thầy giáo, chuyện thế này làm sao có thể nói là "yên ổn" cho đành chứ? Giả sử cha mẹ của Tể Ngã mà còn sống, nghe thấy con trai mình nói thế chắc chắn sẽ vô cùng đau lòng; giả sử cha mẹ của Tể Ngã đã qua đời, thì lúc cậu ta chịu tang cha mẹ trước đây, tâm tư chắc hẳn cứ dao động hoài, chẳng muốn chịu tang trong khoảng thời gian quá dài đâu. Khổng Tử nghe xong câu trả lời của Tể Ngã, đành phải nói: "Em thấy yên ổn, thì cứ làm đi! Phàm là người quân tử khi ở tang kỳ, ăn thức ăn ngon mà không thấy mùi vị, nghe âm nhạc mà chẳng thấy vui vẻ, ở trong nhà mà chẳng thấy thoải mái, cho nên họ không làm thế. Họ thà ăn đạm bạc, ở nhà tranh vách đất, chứ cũng phải chịu tang cho cha mẹ. Bây giờ em đã cảm thấy yên ổn, thì cứ làm đi!" Tể Ngã bước ra ngoài. Khổng Tử liền nói: "Tể Ngã thật bất nhân thay! Đứa trẻ sinh ra tròn ba năm, sau đó mới rời khỏi vòng tay bồng bẵm của cha mẹ, cái gọi là tang kỳ ba năm, là tang lễ chung của cả thiên hạ, Tể Ngã đây từng nhận được trọn vẹn ba năm tình yêu thương từ cha mẹ của nó chưa vậy!"

Khổng Tử nói: "Em cảm thấy yên ổn, thì cứ làm đi!" Câu nói "Trẻ sinh ra đủ ba năm, rồi mới rời khỏi vòng tay cha mẹ" trước nay vẫn luôn bị các nhà triết học Trung Quốc xem nhẹ. Sao lại có thể lấy câu "sinh ra được cha mẹ bồng bẵm ba năm, cho nên cha mẹ mất thì phải chịu tang ba năm" ra làm luận chứng được cơ chứ? Rất nhiều người đều cười xòa cho qua chuyện, chẳng màng suy nghĩ sâu xa. Thế nhưng, vài năm trước, một tạp chí tâm lý học của Mỹ khi công bố một báo cáo nghiên cứu đã chứng kiến nhận định của Khổng Tử từ hơn hai ngàn năm trước vĩ đại biết nhường nào.

Có một bệnh viện chuyên tiếp nhận những đứa trẻ bị bỏ rơi, đã tiếp nhận năm mươi đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi, có người chuyên trách chăm sóc việc ăn uống sinh hoạt cố định cho chúng. Phản ứng của năm mươi đứa trẻ này đều ngang ngửa nhau, ánh mắt đờ đẫn, mặt không cảm xúc, sống không một chút tha thiết, cơ thể chúng vẫn lớn lên từng ngày, nhưng nằm đó trong trạng thái thoi thóp cận kề cái chết. Trong số đó chỉ có duy nhất một đứa trẻ là ngoại lệ, ngày nào cũng cười khúc khích, hễ nhìn thấy người là cười toe toét. Các bác sĩ và y tá cảm thấy vô cùng kỳ lạ: Tất cả đều là trẻ bị bỏ rơi, biểu cảm của ai nấy đều chết lặng, tại sao một mình nó lại vui vẻ đến thế? Thế nên họ bèn lắp camera quan sát kín trong phòng, theo dõi suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ xem rốt cuộc trên người đứa trẻ này có xảy ra chuyện gì đặc biệt hay không.

Trải qua một tuần lễ quan sát, kết quả cho thấy, hóa ra cứ đến giờ tan tầm mỗi buổi chiều, có một bà cụ làm công việc quét dọn thu gom rác thải trong bệnh viện, đi ngang qua đứa trẻ này, thường hay trêu đùa nó, ở bên cạnh chơi đùa cùng nó nửa tiếng đồng hồ. Chính sự khác biệt nửa tiếng đồng hồ mỗi ngày ấy, đã khiến cho đứa trẻ này vượt trội hơn hẳn, trở thành đứa trẻ đặc biệt nhất trong số những đứa trẻ bị bỏ rơi đó. Từ đó người ta mới phát hiện ra, hóa ra trẻ con rất cần có một người với tư cách là một chủ thể đến quan tâm chăm sóc nó, tương tác với nó, thì sức sống của nó mới có thể nhận được sự phát triển bình thường. Bằng không, nếu chỉ đói cho ăn, khát cho uống, mà không hề có một ai thực sự quan tâm đến nó, thì năng lực tâm lý bên trong của nó sẽ không thể phát huy được, chỉ có thể đờ đẫn nằm lì một chỗ ở đó, chẳng biết phải tương tác với con người ra sao.

Nghiên cứu này khiến cho giới tâm lý học Mỹ chấn động mạnh mẽ. Trong các gia đình Mỹ, trẻ con sau khi sinh ra, lớn hơn một chút là được cho ngủ riêng ở một căn phòng nhỏ. Trẻ khóc, cứ mặc kệ cho nó khóc, khóc chán rồi tự khắc sẽ ngủ thiếp đi, trở nên vô cùng độc lập. Thế nhưng sự độc lập kiểu ấy đối với nhân tính mà nói, lại là một dạng tổn thương, trên thực tế đã đi ngược lại với yêu cầu tự nhiên của nhân tính. Một trong những điểm khác biệt giữa con người và động vật đó là, thời kỳ phụ thuộc của trẻ em loài người là dài nhất, khoảng thời gian con cái do loài người sinh ra phải phụ thuộc vào cha mẹ là dài nhất, vượt xa so với các loài động vật khác. Trẻ em loài người thông thường phải ở trong vòng tay cha mẹ tròn ba năm, mới có thể vững vàng tự lập bước đi. Trạng thái phụ thuộc lâu dài vào cha mẹ về mặt sinh lý này, tự nhiên sẽ phát triển ra một cấu trúc đặc thù về mặt tâm lý, đó chính là giữa đứa trẻ và cha mẹ luôn tồn tại một thứ tình cảm tâm lý quan tâm lẫn nhau mãi mãi. Ngược lại, trong quá trình trưởng thành thuở ban đầu, nếu thiếu đi sự quan tâm đặc biệt từ phía cha mẹ, thì sự tiếc nuối ấy cả đời cũng không thể bù đắp nổi; nếu muốn bù đắp, sau này ắt phải bỏ ra cái giá gấp bội.

Từ nhu cầu sinh lý đến cảm xúc tâm lý, cuối cùng mới xuất hiện cái gọi là quy chuẩn luân lý "tang kỳ ba năm". Nói cách khác, quy chuẩn luân lý nhân gian (tang kỳ ba năm) là để đáp lại cảm xúc tâm lý (sự an yên) mà được định ra; sau đó, cảm xúc tâm lý lại có thể bắt nguồn từ đặc tính sinh lý (ba năm không rời vòng tay). Cứ thế hình thành nên quan điểm "sinh lý - tâm lý - luân lý", có thể giải thích được quá trình khai triển của nhân tính và lý do vì sao nhân tính hướng thiện, cũng chính là việc vì sao không tuân thủ tang kỳ ba năm thì trong lòng sẽ cảm thấy bất an. Cho nên Khổng Tử mới nghi ngờ không biết Tể Ngã đã từng nhận được sự chăm sóc bồng bẵm suốt ba năm của cha mẹ hay chưa, mắng cậu ta là "bất nhân", phớt lờ đi nhu cầu tình cảm của lòng người. Nói một cách khác, nhân tính trong tâm tưởng của Khổng Tử, là không thể tách rời khỏi sự tồn tại cụ thể của sinh mệnh con người cùng hoàn cảnh môi trường trưởng thành. "Trẻ sinh ra đủ ba năm, rồi mới rời khỏi vòng tay cha mẹ" chính là sự quan sát sâu sắc của ông đối với nhân tính. "Tang kỳ ba năm" chính là hình thức biểu hiện bên ngoài phù hợp với nhu cầu tình cảm trong nội tâm của chúng ta. Chúng ta trong quá trình trưởng thành, về mặt thể xác chịu sự chăm sóc của cha mẹ, về mặt tâm lý có sự phụ thuộc lâu dài vào cha mẹ, cho nên cha mẹ qua đời, để tang ba năm, mới có thể khiến cho cõi lòng chúng ta được bình an, thanh thản.

Do đó, các chuẩn mực đạo đức mà Nho gia đề cao vốn không đến từ áp lực bên ngoài, mà là sự biểu hiện phù hợp của tình cảm tâm lý bên trong.

Lễ nghi, phép tắc, lễ phép bên ngoài chỉ là hình thức biểu hiện, tiền đề của nó nằm ở tình cảm chân thành trong nội tâm.

Nếu không có tình cảm chân thật, bên ngoài cũng chẳng cần làm mấy hình thức đó nữa, mọi thứ sẽ chỉ rơi vào giáo điều.

Đây mới chính là tư tưởng thực sự của Nho gia.

Hơn hai nghìn năm qua, cho đến tận cuối thời Thanh, rất nhiều người vẫn nói Nho gia là lễ giáo ăn thịt người, lễ giáo ăn thịt người, dường như sau khi học Nho giáo, con người liền bị tam cương ngũ thường kìm kẹp đến chết, một đời tốt đẹp bị bó buộc chẳng còn mấy thú vui.

Trên thực tế, Nho gia đã đưa ra lời giải thích triết học đối với chữ "lễ" được quy định trong truyền thống Trung Hoa.

Lời giải thích này phù hợp với kinh nghiệm, phù hợp với lý trí, phù hợp với lý tưởng, giúp chúng ta sống trên đời có cội có nguồn, có tình cảm bên nội tại, lại có cả hình thức biểu hiện bên ngoài.

Cả hai kết hợp với nhau, trong ngoài bổ trợ cho nhau, mới có thể cấu thành một cuộc đời và một xã hội hài hòa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.