Quốc Học Thiên Không

Lượt đọc: 30 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một, Bản Tính Hướng Thiện

❊ ❊ ❊

1, Bản tính hướng thiện?

Bản tính con người là gì? Khi nhắc đến vấn đề này, mọi người thường nghĩ đến câu mở đầu của "Tam Tự Kinh": "Nhân chi sơ, tính bản thiện. Tính tương cận, tập tương viễn..." Nhiều người cho rằng "nhân tính bản thiện" là tư tưởng của Nho gia. Nhưng sáu chữ "nhân chi sơ, tính bản thiện" này không phải do Khổng Tử nói, cũng không phải do Mạnh Tử nói, mà do các học giả từ đời Tống trở về sau đúc kết nên. Chữ "bản" này là sự giải thích của người đời sau, vốn không phải ý gốc của Khổng-Mạnh. Dựa theo chỗ đắc ý từ nhiều năm nghiên cứu và trải nghiệm tư tưởng Nho gia của cá nhân tôi, tôi muốn đổi chữ "bản" này thành chữ "hướng". Tôi cảm thấy Nho gia không chủ trương nhân tính vốn thiện, mà nhấn mạnh nhân tính hướng thiện. Năm 1980, khi tôi đến Đại học Yale du học, ngay tuần đầu tiên mới đến, tôi đã đến thăm một giáo sư phân khoa thần học và trò chuyện với ông ấy về vấn đề bản tính con người. Tôi hỏi ông ấy: "Cơ Đốc giáo chủ trương con người có nguyên tội, chẳng phải là nói nhân tính vốn ác hay sao, liệu có quá tiêu cực hay không? Người Trung Quốc chủ trương con người vốn thiện, tích cực hơn, và cũng mang tính chính diện hơn." Tôi còn đọc thuộc lòng câu "Nhân chi sơ, tính bản thiện..." cho ông ấy nghe. Kết quả là vị giáo sư này không bàn luận kinh điển với tôi, mà chỉ hỏi tôi rằng: "Trong xã hội Trung Quốc có người xấu không? Người Trung Quốc có làm việc xấu không?" "Có." "Nếu nhân tính vốn thiện, cái ác từ đâu mà ra?" Chỉ một câu đã hỏi tôi đến mức cứng họng không nói nên lời. Đương nhiên tôi có thể phản hỏi: "Người phương Tây có làm việc tốt không? Nếu con người vốn ác, cái điều thiện từ đâu mà ra?" Nhưng tôi cũng đoán trước ông ấy nhất định sẽ nói: "Cái thiện đến từ Thượng Đế, bạn hãy tin Thượng Đế đi!" Cứ như thế, không những tranh luận thua, mà còn khiến tư tưởng Nho gia Trung Quốc có cảm giác hơi "mặt mày xám xịt".

Thuyết "nhân tính bản thiện" quá non nớt, ngây thơ, lại không màng đến hiện thực, tách rời khỏi kinh nghiệm đời sống thực tế của chúng ta. Nếu nhân tính vốn thiện, vậy tại sao con người phải chịu giáo dục? Những việc thiện đã làm có đáng được tán dương hay không? Những câu trả lời này đều là phủ định. "Nhân tính bản thiện" hoàn toàn không phù hợp với kinh nghiệm thực tế và sự phản tỉnh ban đầu của chúng ta.

Từ sau buổi trò chuyện với vị giáo sư thần học đó, tôi vẫn luôn suy ngẫm về tinh thần thực sự của tư tưởng Nho gia nằm ở đâu. Thế nào là nhân tính? Trong "Luận Ngữ", Khổng Tử rất ít khi trực tiếp bàn về vấn đề này, mặc dù ông đã nói câu "Tính tương cận, tập tương viễn", nhưng không giải thích sâu hơn về nhân tính, bởi vì thời đó không có yêu cầu lý luận này. Nói cách khác, trong số các học trò của Khổng Tử không có ai nghĩ đến tầm quan trọng của vấn đề này, chỉ có Tử Cung từng nhắc đến: "Phu tử chi ngôn tính dữ thiên đạo, bất khả đắc nhi văn dã." ("Luận Ngữ - Công Dã Tràng") Khổng Tử không bàn với ông ấy về vấn đề phương diện nhân tính, tại sao? Bởi vì tư chất của Tử Cung không thích hợp để bàn về nhân tính với ông, chỉ có Nhan Uyên là có thể bàn, nhưng Nhan Uyên lại tâm phục khẩu phục Khổng Tử, và không may mất sớm, cho nên không có ghi chép về phương diện này.

Nhưng Khổng Tử không bàn, không có nghĩa là ông không có chủ trương rõ ràng về nhân tính; ngược lại, sự quan sát của ông đối với nhân tính là vô cùng sâu sắc. Ông nhìn thấy từ giới kinh nghiệm rằng con người có đủ loại yếu điểm. Tỷ như "ngô vị kiến hiếu đức như hiếu sắc giả", chưa từng thấy ai yêu mến đức hạnh giống như yêu mến sắc đẹp vậy. Yêu mến sắc đẹp là bản năng sinh học, còn yêu mến đức hạnh thì sao? Nếu cái sau cũng là bản tính, thì sức mạnh của nó rõ ràng không phải là tuyệt đối hoặc toàn diện, cho nên không nên nói "nhân tính bản thiện". Thuộc theo dòng suy nghĩ này, Khổng Tử nhắc nhở con người ở mỗi giai đoạn đều phải cảnh giác: Lúc còn trẻ, huyết khí chưa định, điều cần răn đắc là sắc đẹp; đến khi tráng niên, huyết khí phương cường, điều cần răn đắc là tranh đấu; đến khi tuổi già, huyết khí đã suy, điều cần răn đắc là lòng tham đắc ("Luận Ngữ - Quý Thị"). Con người không thể không có huyết khí, huyết khí có đủ loại tật xấu, cứ như thế, sao có thể nói "nhân tính bản thiện"? Không nói "nhân tính bản ác" đã có thể coi là khách khí lắm rồi.

Cho nên, Khổng Tử vốn chưa từng nói nhân tính bản thiện, ông chỉ từng nói: "Tính tương cận dã, tập tương viễn dã". Chữ "tập" đại diện cho môi trường hậu thiên, kết quả do sự huân nhiễm tạo thành, mỗi người mỗi khác; chữ "tập" đại diện cho diện mạo vốn có ban đầu bẩm sinh. Nhưng, đã là bản tính bẩm sinh mà ai cũng có, tại sao Khổng Tử không nói là "giống nhau" mà lại nói là "gần nhau"? Đáp án thứ nhất: Nếu nhân tính vốn dĩ mang một thứ gì đó có thể gọi là "thiện", thì nên nói là "tính giống nhau". Nói cách khác, nếu có ai chủ trương "nhân tính bản thiện", đồng thời lại tuyên bố là "tính tương cận", thì chúng ta có thể truy vấn: "Thiện" là "chất", hay là "lượng"? Phải là "lượng" thì mới có mức độ nhiều ít, mới có thể nói là gần nhau. Nhưng, thiện sao có thể tính bằng "lượng" chứ? Nếu là "chất", thì không có thì thôi, có thì là có tất, làm sao lại gần nhau? Đáp án thứ hai: Nhân tính vốn không có thiện ác, chỉ có "khuynh hướng hướng thiện". Xét về "khuynh hướng", có thể nói ai cũng có, nhưng mức độ nhạy bén thì mỗi người mỗi khác. Nói cách khác, chỉ cần là con người, thì đều là hướng thiện, nội tâm của anh ta "tất nhiên" sẽ cảm thấy "bất an" hoặc "không nỡ" đối với một hoàn cảnh nào đó. Có người nhìn thấy hoa rơi liền rơi lệ, có người không đến mức tự mình chịu khổ thì không cảm thấy đau buồn, mức độ chênh lệch rất xa, nhưng nhất định đều có khả năng "bất an", "không nỡ".

Trên thực tế, "tâm an hay không, nỡ hay không" là nền tảng của học thuyết nhân tính Nho gia, đồng thời cũng là chìa khóa nhập môn để thấu hiểu tư tưởng Khổng-Mạnh. Chìa khóa này được thể hiện rất rõ ràng trong đoạn đối thoại giữa Khổng Tử và Tể Ngã về chuyện "tang lễ ba năm". Tể Ngã chất vấn về "tang lễ ba năm", cho rằng thời gian để tang ba năm là quá dài. Thế giới nhân văn không hành lễ nhạc, lễ nhạc theo đó mà sụp đổ; thế giới tự nhiên lấy một năm làm chu kỳ tuần hoàn, để tang sao lại không lấy một năm làm chu kỳ? Khổng Tử nghe xong, chỉ hỏi ông ta rằng: Nếu để tang một năm, anh liền khôi phục lại sự hưởng thụ sinh hoạt ngày thường, ăn đồ ngon, mặc đồ đẹp, "tự nữ an hồ?" Trong lòng anh có thấy an hay không? Rất nhiều người nói Thiền tông Trung Quốc "chỉ thẳng vào lòng người", trên thực tế Khổng Tử từ sớm đã "chỉ thẳng vào lòng người" rồi. Ông không bàn với Tể Ngã về những điều kiện ngoại duyên mang tính nhân văn và tự nhiên của việc "để tang ba năm", mà lại hướng tiêu điểm vào lòng người, muốn xem nội tâm anh có an hay không? Kết quả Tể Ngã trả lời: "An." Khổng Tử đành nói: "Nữ an tắc vi chi." Nếu tâm anh đã an, thì cứ làm như vậy đi.

Nói cách khác, sự thấu hiểu của Khổng Tử đối với nhân tính nằm ở chỗ lòng người có năng lực "an" và "bất an". Nhân tính không phải là tĩnh lặng, nhân tính mang tính động, hoạt bát và sinh động. Bởi vì đặc sắc lớn nhất của việc làm một con người nằm ở chỗ anh ta có sự tự do, anh ta có thể lựa chọn. Rời xa năng lực tự do lựa chọn, thì sẽ không có vấn đề con người nữa. Chính vì con người có thể tự do lựa chọn, cho nên lòng người là "sống", nó có một khuynh hướng, khi khuynh hướng này bị cản trở, sẽ sinh ra phản tác dụng khiến nội tâm cảm thấy an hoặc bất an. Vậy, tại sao Khổng Tử lại cho rằng để tang ba năm mới thấy an lòng? Sau khi Tể Ngã rời đi, Khổng Tử đã nói ra lý do: "Tử sinh tam niên, nhiên hậu miễn ư phụ mẫu chi hoài", mười hai chữ này chính là điểm xuất phát để chúng ta tìm hiểu học thuyết nhân tính Nho gia. Trong cái nhìn của Khổng Tử, tình cảm sâu nặng của lòng người đối với cha mẹ được sinh sôi nảy nở từ kinh nghiệm trưởng thành cụ thể. Đứa trẻ sinh ra đến ba tuổi, mới có thể rời khỏi vòng tay của cha mẹ. Về mặt sinh lý lâu dài được cha mẹ chăm sóc, về mặt tâm lý cũng hình thành nên thứ tình cảm quan tâm lẫn nhau với cha mẹ, từ đầu đến ơn nghĩa của cha mẹ, cho nên cha mẹ qua đời, để tang ba năm là một việc hết sức hợp lý. Nghĩa là, "tang lễ ba năm" đại diện cho luân lý, "tự nữ an hồ" đại diện cho tâm lý, "tử sinh tam niên" đại diện cho sinh lý. Nhân tính do ba yếu tố sinh lý, tâm lý, luân lý liên kết thành. Tiêu điểm học thuyết nhân tính Nho gia nằm ở năng lực tự giác của "tâm", nó lấy sinh lý làm nền tảng, và lấy luân lý làm sự phát dụng. Do mức độ an và bất an có sự khác biệt giữa người với người, cho nên chỉ có thể nói "nhân tính là hướng thiện", có người sức "hướng" mạnh, có người sức "hướng" yếu, đây là sự khác biệt do tư chất bẩm sinh và ngộ tính hậu thiên khác nhau mà thôi.

Mạnh Tử đưa ra sự giải thích có hệ thống hơn đối với nhân tính. Ông có một phép ẩn dụ rất hay về nhân tính:

Cây ở núi Ngưu từng rất tươi tốt, vì nó nằm ở vùng ngoại ô nước lớn, người ta dùng búa rìu chặt phá nó, sao có thể giữ được vẻ tươi tốt? Trải qua ngày đêm sinh sôi, lại được mưa móc tưới nhuộm, không phải là không có mầm non nảy nở, nhưng trâu bò lại theo đó mà vào ăn cỏ, cho nên ngọn núi mới trọc lốc như thế kia. Người ta nhìn thấy nó trọc lốc, liền cho rằng nơi đây chưa từng có gỗ quý, đây há phải là bản tính của núi ư? Cho dù là những thứ còn tồn tại ở con người, há lại không có lòng nhân nghĩa ư? Nguyên nhân khiến họ đánh mất lương tâm của mình, cũng giống như búa rìu đối với cây vậy, ngày ngày chặt phá nó, sao có thể tươi tốt được? Trải qua ngày đêm sinh sôi, đến khí lúc bình minh, lòng ưa thích và chán ghét của họ so với người thường cũng chỉ chênh lệch rất ít, thế nhưng những việc làm ban ngày ban mặt của họ, đã bóp nghẹt và làm mất đi rồi. Bị bóp nghẹt lặp đi lặp lại, thì khí ban đêm của họ không đủ để duy trì; khí ban đêm không đủ duy trì, thì việc họ cách xa cầm thú chẳng còn bao xa nữa. Người ta nhìn thấy họ hành xử như cầm thú, rồi cho rằng họ vốn chưa từng có tài năng, đây há phải là bản tính của con người ư? Cho nên nếu có được sự nuôi dưỡng, không có vật gì là không lớn lên; nếu đánh mất sự nuôi dưỡng, không có vật gì là không tiêu diệt. ("Mạnh Tử - Cốc Tử Thượng")

Đoạn ẩn dụ này có sức mạnh chứng minh cực kỳ mạnh mẽ. Ông nói những cây cối trên núi Ngưu từng mọc rất tươi tốt, nhưng không may là nó nằm gần vùng ngoại ô kinh đô, có người vì muốn cất nhà nên đã chặt sạch cây cối; có người chăn thả trâu bò nên đã ăn sạch hoa cỏ. Kết quả là một ngọn núi vốn dĩ rất đẹp lại biến thành núi trọc. Xin hỏi: "Trọc" có phải là bản tính của núi không? Rõ ràng không phải. Vậy hoa cỏ cây cối có phải là bản tính của núi không? Cũng không phải, bởi vì nếu là bản tính, sao lại bị chặt sạch, ăn sạch? Ở đây, "hoa cỏ cây cối" đại diện cho nhân tính bản thiện, "trọc" đại diện cho nhân tính bản ác, cả hai đều không phải là bản tính của núi. Vậy, bản tính rốt cuộc của núi là gì? Chính là "có khả năng" mọc ra hoa cỏ cây cối, chỉ cần cho nó cơ hội, nó sẽ mọc ra những chiếc chồi non mới. Nói cách khác, bản thân ngọn núi không thể hiện bản tính, cái "trọc" hoặc "cỏ cây tươi tốt" mà chúng ta nhìn thấy chỉ là hiện tượng của núi. Bản tính của núi nằm ở chỗ chỉ cần có nước mưa, sương sớm, chồi non mới sẽ mọc lên. Nếu chồi non bị ăn sạch, biến thành núi trọc, rồi lại cho nó cơ hội, ngọn núi sẽ lại mọc ra chồi non, biến thành hoa cỏ cây cối tươi tốt. Cho nên, bản tính của núi nằm ở chữ "có khả năng", chứ không nằm ở chỗ "là" cái gì. "Có khả năng" chính là một loại tiềm năng, xu thế và sức mạnh. Con người cũng giống như vậy, bản tính của con người là thiện? Là ác? Đều không phải. Bản tính của con người là hướng thiện, chỉ cần trao cho cơ hội, lại biết nuôi dưỡng và vun bồi, thì chính là thiện; bằng không thì "ngày ngày chặt phá nó", lâu dần tâm linh cũng sẽ trở nên tê dại. Nho gia khi bàn về nhân tính, điểm này vô cùng đặc sắc, nhân tính là một loại khuynh hướng, nói lên rằng nhân sinh là cởi mở, mãi mãi là một sự yêu cầu đối với bản thân, và loại yêu cầu này xuất phát từ bên trong, chứ không phải do bên ngoài ban tặng. Cho nên, con người sống trên thế giới này có thể thực hiện được bản tính hướng thiện của chính mình.

Có lẽ có người sẽ nghi ngờ, vậy cũng có thể nói nhân tính hướng ác chứ? Bởi vì nhân tính chỉ là "hướng" thiện mà thôi, bạn cũng có thể lựa chọn cái ác, thế thì tại sao lại nói là hướng thiện, mà không nói là hướng ác? Lấy một ví dụ đơn giản: Sáng nay tôi thức dậy, không hiếu thảo với cha mẹ, không kính trọng anh chị, trong lòng cảm thấy bất an, không nỡ, điều này chứng minh nhân tính hướng thiện. Ngược lại mà nói: Sáng nay tôi thức dậy, không đi giết người phóng hỏa, không đánh người, chửi người, trong lòng cảm thấy bất an, không nỡ, đây là nhân tính hướng ác. Xin hỏi trong hoàn cảnh thông thường, chúng ta là loại nào? Đương nhiên là loại trước rồi. Lấy thêm một ví dụ nữa: Gặp người già trên xe buýt mà không nhường ghế, sẽ cảm thấy lương tâm cắn rứt, đây chính là nơi tồn tại của nhân tính. Cho nên, tâm của con người là một loại khuynh hướng, nếu không làm những việc mình nên làm, hoặc đi làm những việc không nên làm, trong lòng tự nhiên sẽ sinh ra một loại áp lực, không thể đối diện với chính mình. Đây chính là thuyết nhân tính hướng thiện của Nho gia.

2, Thiện là gì?

Nhân tính hướng thiện? Thế thì thiện là gì? Đây lại là một trọng điểm nữa trong tư tưởng Nho gia. Trước tiên, thiện là một giá trị. Giá trị không nằm ở một nơi nào đó, nó cần phải có sự lựa chọn của chủ thể thì mới có thể hiện ra. Ví dụ ở đây có một chiếc cốc, một chiếc đựng kim cương, một chiếc đựng nước, bạn nói chiếc nào có giá trị hơn? Mọi người thông thường sẽ nói: Đương nhiên là chiếc đựng kim cương có giá trị hơn rồi. Nhưng giả sử hôm nay chúng ta đang ở giữa sa mạc Sahara, giá trị của nước e rằng còn cao hơn kim cương rất nhiều lần. Cho nên, nước và kim cương không phải là không có giá trị, mà là không liên quan gì đến giá trị cả, chúng chỉ thuần túy là sự thật, bất kỳ giá trị nào cũng đều cần phải thông qua sự lựa chọn của con người (chủ thể) thì mới có thể hiện ra được. Tỷ như trên núi có một đóa hoa bách hợp, trước khi có người trèo lên ngọn núi này, nhìn thấy đóa hoa này, thì đóa hoa bách hợp chỉ đơn thuần tồn tại mà thôi, không có cái gọi là vấn đề đẹp hay không đẹp. Nhưng nếu có người nhìn thấy đóa hoa này, nói rằng: Đóa hoa bách hợp này đẹp thật, tôi thích nó. Trong quá trình anh ta thích thú ấy, giá trị cái đẹp của đóa hoa này mới được thể hiện ra. Lại ví dụ như nếu tất cả mọi người đều nói vàng kém hơn sắt, thì giá trị của vàng sẽ lập tức suy giảm. Thật ra, vàng, sắt, đá, kim cương có điểm gì khác nhau chứ? Đối với động vật mà nói thì không có gì khác biệt cả. Bạn từng thấy con chó nào thích vàng hay con mèo nào thích kim cương chưa? Hoặc giả có bầy chim nào vào mùa hè bay về phương bắc hoặc mùa đông bay về phương nam mà lại mang theo lương thảo đi cùng không? Chỉ có con người khi chuyển nhà mới mang theo gia tài, chọn cái này, chọn cái kia. Cho nên, giá trị là vấn đề đặc hữu của con người. Rời khỏi thế giới của con người, muôn vật trong vũ trụ chỉ là sự thật mà thôi, chứ không phải là giá trị. Giá trị chỉ có hiệu lực đối với con người, nghĩa là chỉ có con người mới có thể khiến cho giá trị được hiển hiện. Bởi vì con người có sự tự do lựa chọn, có sự tự do lựa chọn rồi, giá trị mới có thể thông qua sự lựa chọn mà hiện ra.

Thiện là một loại giá trị, cho nên thiện cũng là vấn đề đặc hữu của con người. Rời khỏi thế giới của con người, thì không có cái gọi là vấn đề thiện. Lấy "Robinson Crusoe" làm ví dụ, Robinson là con người duy nhất trên đảo hoang, sẽ không có ai phán xét anh ta là người tốt hay kẻ xấu, chỉ có một mình sống trên thế giới này, thì không có cái gọi là tốt hay xấu. Bất kỳ cái thiện hay cái ác nào cũng phải được đặt trong mối quan hệ tương hỗ giữa hai chủ thể thì mới có thể hiện ra, rời khỏi mạch lạc của đám đông, thì không có thiện ác để mà bàn, nhân tính là hướng thiện, cho nên con người cũng bắt buộc phải thực hiện bản thân ở trong đám đông. Đây là một kiến giải rất quan trọng của Nho gia.

Vậy, giữa người với người làm sao để phán đoán thế nào là thiện? Đây là một vấn đề lớn. Tỷ như chúng ta nói một người rất hiếu thảo, nhưng anh ta chưa chắc đã là một người bạn tốt; một người là người bạn tốt, nhưng chưa chắc đã là một người thầy tốt; một người là người thầy tốt, nhưng chưa chắc đã là một người cha tốt. Đây là đạo lý vô cùng đơn giản. Một người mà muốn làm được tất cả chữ "tốt" thì là một việc vô cùng khó khăn. Cho nên khi bạn nói một người tốt, không thể nói trừu tượng rằng anh ta tốt, mà bắt buộc phải chỉ ra anh ta tốt với ai, rời khỏi đối tượng mà anh ta đối xử, cái thiện của anh ta căn bản là trống rỗng, là thứ giả tạo. Làm người thiện có khả năng xảy ra không? Về mặt lý luận thì có khả năng, nhưng trên thực tế thì không khả thi lắm. Bởi vì người thiện bắt buộc phải chu toàn tất cả các mối quan hệ thỏa đáng, thực hiện hoàn toàn tất cả những sự kỳ vọng của những người có liên quan đối với mình, khiến cho mạng lưới quan hệ nhân mạch của người đó không có một chút thiếu sót nào, như vậy mới được gọi là người thiện. Điều này trên thực tế là không khả thi cho lắm, "không khả thi cho lắm" không phải vì năng lực không đủ, mà là bởi vì một người trong đời phải đóng rất nhiều vai trò khác nhau, nhưng giữa các vai trò này thường hay xảy ra xung đột lẫn nhau. Lấy một ví dụ đơn giản, một chàng trai sau khi kết hôn, phát hiện ra anh ta không thể vừa làm một người con ngoan vừa làm một người chồng tốt cùng một lúc, tức là không thể thỏa mãn yêu cầu của cả hai người. Mẹ và vợ cùng một lúc yêu cầu bạn làm những việc khác nhau, bạn nên nghe lời ai? Bạn chỉ có một mình, một khoảng thời gian, rốt cuộc nên làm việc nào? Đây chính là mâu thuẫn. Đây cũng chính là lý do tại sao ở trong xã hội của con người lại mỏi mệt đến thế, trong nhân sinh lại đè nặng những thách thức, khảo nghiệm và bất hạnh. Bởi vì mọi người không thể thông cảm cho nhau, đều chỉ đứng từ góc độ của mình để nhìn nhận những trách nhiệm và yêu cầu mà đối phương phải có, mà phớt lờ đi việc anh ta còn phải đóng những vai trò khác, còn phải thỏa mãn các loại trách nhiệm khác. Thế là, sẽ sinh ra hiểu lầm và oán hận. Cho nên Khổng Tử mới nói: "Thiện nhân ngô bất đắc nhi kiến chi hĩ, đắc kiến hữu hằng giả tư khả hĩ!" ("Luận Ngữ - Thuật Nhi") Ta chưa từng gặp được người thiện, chỉ cần gặp được người có lòng hằng thường là đủ rồi. "Hữu hằng" ý chỉ nội tâm con người có yêu cầu hướng thiện, tuy làm chưa được hoàn hảo, nhưng trong lòng vẫn hướng về điều đó, tìm cách nỗ lực để làm.

Ý nghĩa của tư tưởng Nho gia nằm ở đây. Không có ai là người thiện cả, nhưng mỗi một con người lại đều có thể trở thành người thiện. Sinh mệnh tràn đầy động lực hướng về phía trước, nhân tính có khuynh hướng hướng về điều thiện, sức mạnh này xuất phát từ bên trong, không ai có thể tiêu diệt nó triệt để được. Cho nên đối với nhân tính phải luôn ôm ấp hy vọng. Nhưng chúng ta đừng quên rằng, hành thiện là một yêu cầu vô tận, không được phép gián đoạn. Những gì chúng ta nhìn thấy trên thế giới này, chỉ là những người đã làm một việc tốt hoặc vài việc tốt mà thôi, làm gì có người tốt thực sự? Bạn nói hôm nay anh ta là người tốt, vậy ngày mai anh ta có thể biến thành kẻ xấu không? Hoàn toàn có thể, ngay khoảnh khắc tiếp theo đã có thể biến thành kẻ xấu rồi. Trên thực tế, anh ta cũng không phải là kẻ xấu, mà chỉ là một người đã làm việc xấu mà thôi. Một người làm việc xấu là kết quả của sự phát triển bị bóp méo nhân tính của anh ta; còn làm việc tốt là kết quả của sự phát triển bình thường của nhân tính. Nhân tính là một loại khuynh hướng, là cởi mở, là tiềm năng đang chờ được thực hiện. Điểm này nếu có thể nắm bắt được, thì có thể xuất phát từ nội tâm mà đưa ra yêu cầu đối với bản thân. Cái gọi là "Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức", "Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, vự nhật tân", chúng ta chỉ cần sống trên thế giới này, thì phải thông qua sự nỗ lực phấn đấu không ngừng, khiến cho bản thân ngày càng tốt hơn, khiến cho nhân cách của tôi ngày càng cao cả hơn. Nhưng việc bạn hành thiện tuyệt đối không phải là gánh nặng, mà là niềm vui thực sự, bởi vì niềm vui này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu đối với bản thân của "nhân tính hướng thiện". Khi bạn chu toàn được yêu cầu này, bạn sẽ tận hưởng được niềm vui lớn nhất.

3, Tứ đoan của lòng

Mạnh Tử cho rằng "tính thiện", tâm là then chốt. Con người có sự tự do, có thể lựa chọn sự biểu hiện của các hành vi khác nhau. Nhưng những thứ biểu hiện ra ngoài đều là hiện tượng, nội tâm mới là nơi cội nguồn bản chất của chúng ta. Làm thế nào để biết được bản chất của con người? Khổng Tử sẽ hỏi, tâm anh có an hay không? Còn Mạnh Tử sẽ hỏi, tâm anh có nỡ hay không? Đối với sự bất hạnh của người khác, chúng ta sẽ có cảm xúc tự phát, đó chính là cái gọi là lòng trắc ẩn. Mạnh Tử vô cùng coi trọng loại cảm xúc này. Ông nói: "Sở vị nhân giai hữu bất nhẫn nhân tâm giả, kim nhân tra kiến nhữ tử tương nhập ư tỉnh, giai hữu truật dịch trắc ẩn chi tâm; phi sở vị nội giao ư nhữ tử chi phụ mẫu giả, phi sở vị yếu vơ ư hương đảng bằng hữu giả, phi ác kỳ thanh nhi nhiên dã." ("Mạnh Tử - Công Tôn Sửu Thượng") Chúng ta nhìn thấy một đứa trẻ sắp rơi xuống giếng nước, trong lòng đều sẽ cảm thấy hoảng sợ, thương xót; không phải là vì muốn kết giao với cha mẹ của đứa trẻ, cũng không phải là vì muốn được khen ngợi trong chòm xóm bạn bè, càng không phải là vì không thích tiếng khóc của đứa trẻ; chúng ta hoàn toàn không có bất kỳ mục đích, lý do nào cả, thuần túy là tự động tự phát cảm thấy "không nỡ" trong lòng đối với việc "đứa trẻ rơi xuống giếng". Tại sao lại không nỡ? Bởi vì đây chính là nhân tính, nhân tính là sẽ cảm thấy không nỡ. Đây là sự thấu hiểu cơ bản của Mạnh Tử đối với nhân tính.

Sự thấu hiểu này nhìn vào hôm nay dường như rất khó dùng thực nghiệm để chứng minh. Bởi vì điều kiện sinh sống ngày nay khác xưa rồi, giếng nước đã hiếm khi nhìn thấy nữa, nếu có thì cũng thành di tích cho người ta tham quan rồi, phép ẩn dụ của Mạnh Tử rất khó khơi gợi sức tưởng tượng của chúng ta. Tuy nhiên bản tin ở Texas (Mỹ) cách đây vài năm, lại xác nhận lời của Mạnh Tử. Ở Texas có một bé gái bốn tuổi bất cẩn sẩy chân, rơi xuống một cái giếng cạn. Sự việc này sau khi được truyền thông đưa tin, đã trở thành việc mà từ Tổng thống Mỹ ở trên, cho đến kẻ buôn thẹo người bán nước ở dưới đều vô cùng quan tâm. Phó Tổng thống còn trực tiếp đến thăm hỏi gia đình bé gái, rất nhiều người lần lượt cầu nguyện cho bé gái. Niềm đồng cảm này khiến rất nhiều người một lần nữa phát hiện ra yêu cầu hướng thiện tiềm ẩn bên trong nội tâm mình. Có thể thấy con người không phân cổ kim, địa lý không phân đông tây, lòng trắc ẩn quả thực chính là diện mạo vốn có của con người. Cho nên, Mạnh Tử mới khẳng định mà nói rằng: Nhìn từ điểm này mà xét, không có lòng trắc ẩn, không phải là con người; không có lòng hổ thẹn, không phải là con người; không có lòng nhường nhịn, không phải là con người; không có lòng thị phi, không phải là con người. Lòng trắc ẩn là khởi đầu của nhân, lòng hổ thẹn là khởi đầu của nghĩa, lòng nhường nhịn là khởi đầu của lễ, lòng thị phi là khởi đầu của trí. Con người có bốn mối khởi đầu này, giống như việc có bốn chi vậy. ("Mạnh Tử - Công Tôn Sửu Thượng")

Nhìn từ góc độ này mà xét, kẻ không có lòng thương xót, không phải là con người; kẻ không có lòng liêm sỉ, không phải là con người; kẻ không có lòng khiêm nhường, không phải là con người; kẻ không có lòng thị phi, không phải là con người. Lòng thương xót là sự khởi đầu của đức nhân, lòng liêm sỉ là sự khởi đầu của việc nghĩa, lòng khiêm nhường là sự khởi đầu của việc giữ lễ, lòng thị phi là sự khởi đầu của sự sáng suốt. Con người có bốn loại khởi đầu này, giống như việc anh ta có bốn chi vậy.

Mạnh Tử liên tục nói bốn câu không phải là con người, có người cảm thấy có phải là quá phóng đại rồi không, không có bốn loại tâm này, thì thực sự không phải là con người sao? Thế nhưng, khi bạn nghe thấy Mạnh Tử mắng bạn không phải là con người, bạn rất tức giận, ông ấy sẽ nói xin chúc mừng bạn, bạn lại biến thành con người rồi, bởi vì bạn tức giận, điều đó chứng tỏ bạn vẫn còn lòng liêm sỉ. Đây chính là tư tưởng của Nho gia, Nho gia cho rằng phản ứng trực tiếp của con người trong tình huống tự nhiên, mới có thể biểu hiện ra được tình trạng chân thực của nội tâm. Tuy nhiên, Mạnh Tử nói lòng người có bốn loại khởi đầu, chứ không nói con người có bốn loại thiện. "Khởi đầu" đại diện cho mầm mống, sự bắt đầu. Bốn loại khởi đầu nếu phát triển mở rộng ra, mới có thể tạo nên bốn loại điều thiện là nhân, nghĩa, lễ, trí. Thiện bắt buộc phải là sau khi bạn hành động thì mới có thể thực tiễn được. Tỷ như "không có lòng trắc ẩn, không phải là con người", lòng trắc ẩn chỉ là mầm mống của điều thiện, mà không phải là sự hoàn thành của điều thiện, sự hoàn thành của điều thiện còn cần phải dùng hành động để thực tiễn. Cho nên, một người chỉ cần có tấm lòng này, thì chính là con người; còn việc có hành động yêu thương hay không, đó là vấn đề ở bước thứ hai. Lỡ như đến cả tấm lòng này cũng đánh mất, thì có nghĩa là tê dại không thể cứu vữa, không tài nào cảm nhận được sự bất hạnh của người khác, thì đó chính là "không phải con người" rồi. Kế tiếp, lòng trắc ẩn có mức độ nông sâu khác nhau, có người tương đối nhạy cảm, không chỉ không nỡ trước sự bất hạnh của người khác, mà còn không nỡ trước cả một số động vật nhỏ, thậm chí giống như Lâm Đại Ngọc, nhìn thấy hoa rơi cũng rơi lệ. Có người thì tương đối chậm chạp, cứ phải đợi đến khi chịu kích thích trọng đại mới ngộ ra tình thân ruột thịt giữa mình và người khác. Bất luận là nhạy cảm hay chậm chạp, chỉ cần vẫn còn khả năng cảm nhận, thì vẫn còn hy vọng. Hy vọng nằm ở chỗ có thể khuếch trương tấm lòng này, nỗ lực hành nhân. Giống như Mạnh Tử từng nói, "như lửa mới bén, suối mới tuôn". Lửa bắt đầu bùng cháy, nước bắt đầu chảy xuôi, thoạt nhìn chỉ là một nguồn nước nhỏ bé, cuối cùng lại có thể thành tựu nên những hành động thiện vĩ đại, mà tất cả những điều này đều xuất phát từ một chút lòng trắc ẩn nhỏ nhoi.

Mạnh Tử còn đem nhân tính ví von với nước:

Bản tính của con người đối với điều thiện, cũng giống như nước chảy xuống dưới vậy. Con người không có ai là không thiện, nước không có ai là không chảy xuống. Nay như nước kia, đánh đập cho nó tung tóe, có thể khiến nó bay cao qua trán; chặn dòng nước lại khiến nó chảy ngược, có thể đưa lên núi cao. Đây há phải là bản tính của nước ư? Thế cục của nó vốn dĩ là như thế. Con người có thể khiến cho họ làm việc không thiện, tình trạng bản tính của họ cũng giống như thế vậy. ("Mạnh Tử - Cốc Tử Thượng")

Phép ẩn dụ về "nước" vô cùng thỏa đáng: Giống như việc "chảy xuống" là "hướng" của nước chứ không phải là bản tính của nước; "thiện" cũng là "hướng" của con người, chứ không phải là bản tính của con người. Ý là gì? Dùng tay tát nước, dùng ống dẫn nước, khiến nước chảy ngược dòng, đây là thế cục từ bên ngoài. Chúng ta đôi khi nói "thế cục mạnh hơn con người", thế cục bên ngoài sẽ làm thay đổi khuynh hướng tự nhiên của nước; mà một người đi làm những việc không thiện, cũng là chịu sự ảnh hưởng của thế cục bên ngoài. Nói cách khác, nếu để cho con người phát triển một cách tự nhiên, anh ta sẽ thuận theo bản tính mà hành thiện; ngược lại, thế cục bên ngoài trở nên xấu xa, con người liền trở nên làm điều ác. Cái gọi là "năm được mùa, con cháu lười biếng; năm mất mùa, con cháu bạo ngược" ("Mạnh Tử - Cốc Tử Thượng"), kinh tế của một thời đại phồn thịnh hay suy thoái sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến giới trẻ. Một xã hội bắt buộc phải tìm cách tạo ra một hoàn cảnh tự nhiên, bình thường về mặt chính trị, kinh tế, giáo dục, để mỗi một cá nhân đều có thể phát triển một cách tự nhiên, khi ấy nhân tính hướng thiện biểu hiện ra sẽ giống như nước chảy xuống dưới vậy. Cho nên, "tính thiện của con người, giống như nước chảy xuống dưới". Xin hỏi, chữ "xuống" là hướng của nước, hay là bản tính của nước? Đáp án vô cùng rõ ràng. Lấy câu "nước không có dòng nào là không chảy xuống" để ví von "con người không có ai là không thiện", mối quan hệ giữa con người và điều thiện, cũng tất yếu là nhân tính hướng thiện, chứ không phải là nhân tính bản thiện, mà "lòng có bốn mối khởi đầu" chính là sức mạnh để nhân tính hướng thiện.

4, Sự phân biệt giữa người và cầm thú

Sự khác biệt giữa con người và cầm thú nằm ở chỗ nào? Đây là một mấu chốt vô cùng quan trọng trong sách "Mạnh Tử". Bạn muốn hiểu rõ nhân tính, thì phải biết được sự khác nhau giữa con người và cầm thú.

Mạnh Tử nói: "Sở dĩ con người khác với cầm thú chỉ có một chút xíu, kẻ tiểu nhân thì vứt bỏ nó, người quân tử thì gìn giữ nó. Thuấn thấu triệt muôn vật, thấu đáo nhân luân, đi theo con đường nhân nghĩa mà hành sự, chứ không phải là cố tình đi làm việc nhân nghĩa." ("Mạnh Tử - Ly Lâu Hạ")

"Chỉ một chút xíu" chính là khoảng cách rất nhỏ. Mạnh Tử cho rằng, khoảng cách giữa con người và động vật là vô cùng nhỏ. Trước tiên, con người và động vật rất tương tự nhau về mặt thân thể; chúng ta có ngũ quan, cầm thú cũng có; chúng ta có tứ chi, cầm thú cũng có. Kế tiếp, con người và động vật rất tương cận về mặt bản năng. Con người lúc ăn cơm chẳng khác gì chó là mấy, đều xuất phát từ bản năng đói khát; con người lúc ngủ chẳng khác gì lợn là mấy, đều xuất phát từ bản năng nghỉ ngơi. Sở dĩ con người khác với động vật, tuyệt đối không phải dựa vào thân thể, bản năng hay tứ chi ngũ quan của con người, mà là phải dựa vào những thứ khác.

Mạnh Tử đưa ra thuyết "đại thể tiểu thể", gọi thân thể là "tiểu thể", chữ "nhỏ" đại diện cho không quan trọng, thứ yếu; gọi tâm là "đại thể", chữ "lớn" đại diện cho quan trọng. Đại thể ở trong, tiểu thể ở ngoài. Thứ mà con người và động vật cùng có chính là "tiểu thể", còn thứ mà con người độc có mới được gọi là "đại thể". "Đại thể" chính là "bốn mối khởi đầu" của lòng người (từ đó sinh ra nhân, nghĩa, lễ, trí). Mạnh Tử nói: "Con người có bốn mối khởi đầu này, giống như việc có bốn chi vậy", bốn mối khởi đầu và bốn chi đều thuộc về thân thể con người; phân chia lớn nhỏ của chúng, là chỉ con người nên lấy "đại thể" làm trọng, tức là "tâm" có đủ linh hoạt hay không, có thể tự giác và chân thành hay không, chính là then chốt của nó. Cái gọi là nhân tính nằm ở "chữ tâm", Mạnh Tử cho rằng kẻ vứt bỏ "chữ tâm" này chính là người bình thường; kẻ gìn giữ lại được chính là người quân tử. Vấn đề nằm ở chỗ, nếu "chữ tâm" này có thể vứt bỏ, cũng có thể gìn giữ, vậy sau khi vứt bỏ rồi thì phải làm sao? Chẳng lẽ một khi đã vứt bỏ, thì sẽ vứt bỏ vĩnh viễn sao? Một khi đã gìn giữ, thì sẽ gìn giữ vĩnh viễn sao? Đương nhiên không phải như vậy, nếu không thì chẳng cần phải bàn đến giáo dục nữa. Tâm, có thể vứt bỏ có thể gìn giữ, đại diện cho việc nó mang tính động. Nếu nói bản chất của con người là thiện, thì bản chất một khi đã vứt bỏ thì sẽ không còn nữa, cho nên chúng ta nhấn mạnh nhân tính hướng thiện, nhân tính là một loại sức mạnh mang tính động, sức mạnh này nằm ở chỗ tâm có thể nhận thức ra hay không. Tỷ như có đôi khi chúng ta hình như không được nhạy cảm lắm, nhìn thấy người già ngã, không có cảm giác gì; nếu có cảm giác, bạn liền lập tức tiến lên giúp đỡ họ. Sự tự giác chân thành này, yêu cầu bản thân làm những việc nên làm, là quy định cơ bản của Nho gia đối với nhân tính. Nếu bạn không có sự tự giác chân thành, "thiện" có ích gì chứ? Không thể biểu hiện thành hành động. Mạnh Tử nói, người quân tử có thể tự giác chân thành gìn giữ điều thiện này, người bình thường lại vứt bỏ nó, vứt bỏ rồi, con người chẳng phải sẽ giống như cầm thú hay sao? Cái gọi là "ăn no mặc ấm, sống nhàn nhã mà không được dạy bảo, thì gần giống với cầm thú", con người ăn no rồi, mặc ấm rồi, sinh hoạt rất thảnh thơi, nhưng nếu không chịu sự giáo dục thì sẽ cách xa cầm thú không bao xa. Tại sao vậy? Bởi vì cõi lòng vốn khác với cầm thú này đã không còn nữa rồi. Mục tiêu giáo dục của Nho gia chính là giúp con người khôi phục lại sự tự giác hướng thiện của bản tâm, đồng thời lấy các loại quy chuẩn hợp lý về chính trị và xã hội để giúp con người hoàn thành yêu cầu của tâm.

Tiếp theo, Mạnh Tử nhắc đến vua Thuấn. Nghiêu Thuấn là những nhân vật điển hình được Nho gia tôn sùng, Mạnh Tử đặc biệt yêu mến vua Thuấn. Ông nói, vua Thuấn chính là bởi vì đã thể nghiệm sâu sắc sức mạnh hướng thiện tiềm ẩn bên trong nhân tính, cho nên "đi theo con đường nhân nghĩa mà hành sự, chứ không phải là cố tình đi làm việc nhân nghĩa", xuất phát từ bên trong để hành thiện, chứ không phải là cố tình làm những hành vi nhân và nghĩa, bởi vì yêu cầu của nhân và nghĩa là xuất phát từ bên trong. Điều này biểu thị rằng sự biểu hiện của chúng ta ở phương diện đức hạnh không phải là người khác bảo tôi làm, không phải là tôi làm cho người khác xem, mà là lực lượng nội tại của tôi bảo tôi làm ra điều "thiện". Sự khác biệt giữa con người và cầm thú nằm ở đây. Mạnh Tử nói "thuận theo đại thể của nó thì làm đại nhân, thuận theo tiểu thể của nó thì làm tiểu nhân", một người nếu mỗi ngày chỉ biết chăm sóc cho thân thể của mình, thì chỉ có thể coi là tiểu nhân mà thôi, bởi vì anh ta đã phớt lờ đi yêu cầu của nội tâm quan trọng hơn. "Nuôi dưỡng đại thể" thì nuôi dưỡng như thế nào?

Mạnh Tử nói: "Phương pháp nuôi dưỡng tâm, không gì tốt bằng ít ham muốn. Con người mà ít ham muốn, thì nội tâm cho dù có phần mê lạc, cũng rất ít; con người mà nhiều ham muốn, thì nội tâm cho dù có phần được gìn giữ, cũng rất ít." ("Mạnh Tử - Tận Tâm Hạ")

Mạnh Tử nói: Phương pháp tu dưỡng nội tâm, không gì tốt hơn là ít ham muốn. Một người nếu ham muốn ít, thì cho dù nội tâm có phần mê muội đi chăng nữa, cũng rất ít; một người nếu ham muốn nhiều, thì cho dù nội tâm có phần được gìn giữ, cũng chỉ còn lại rất ít.

Cách tốt nhất để nuôi tâm không gì bằng thanh tâm quả dục. Các hoàng đế triều Thanh có Dưỡng Tâm Điện, "dưỡng tâm" chính là để nhắc nhở các hoàng đế "ít ham muốn". Đạo gia cũng có cách nói tương tự, Trang Tử nói: "Sở thích dục thâm giả, kỳ thiên cơ thiển." Một người nếu có quá nhiều ham muốn, thì năng lực lĩnh hội sẽ nông cạn. Tại sao vậy? Bởi vì bạn thường chỉ nhìn thấy hiện tượng bề ngoài của sự vật, không nhìn thấy chân tướng bên nội tâm, sinh mệnh của bạn không có gốc rễ, không thể có niềm vui thực sự. Cho nên ở phương diện tu dưỡng tâm tính, Nho gia và Đạo gia có điểm tương thông, đều phải bắt đầu từ việc giảm bớt ham muốn của thân thể. Hệ thống giá trị của Nho gia vô cùng rõ ràng, một người sống trên thế giới này, thứ bạn theo đuổi không phải là sự thỏa mãn về thân thể có thể nhìn thấy hữu hình, sự hưởng thụ về vật chất — sự thỏa mãn và hưởng thụ ở phương diện này đến một lúc nào đó sẽ có kích thích giảm dần, sẽ cảm thấy không có thú vui gì đặc biệt, mà phải tiến hành tu dưỡng ở phương diện đức hạnh, tìm cách để "bốn mối khởi đầu" của lòng phát triển ra, trở thành bốn loại thiện là nhân, nghĩa, lễ, trí. Sự tồn tại của "tiểu thể" là để cho "đại thể" có thể thực hiện được tiềm năng "hướng thiện" của nó, đây mới chính là sự khác biệt lớn nhất giữa con người và cầm thú.

5, Ba loại niềm vui

Nếu nhân tính là hướng thiện, vậy hành thiện chính là điều vui sướng nhất trên thiên hạ, bởi vì nó phù hợp với nhu cầu của nhân tính. Cho nên có người nói với Mạnh Tử rằng: Làm hoàng đế thiên hạ chắc là vui lắm phải không? Mạnh Tử nói, làm vua thiên hạ chưa phải là niềm vui chân chính, niềm vui chân chính có ba loại:

Cha mẹ đều còn đủ, anh em không gặp tai ương, là niềm vui thứ nhất; ngẩng đầu không thẹn với trời, cúi đầu không hổ thẹn với người, là niềm vui thứ hai; có được những nhân tài kiệt xuất trong thiên hạ mà giáo dục họ, là niềm vui thứ ba. Quân tử có ba niềm vui, mà việc làm vua thiên hạ không nằm trong số đó. ("Mạnh Tử - Tận Tâm Thượng")

Cha mẹ đều khỏe mạnh, anh chị em không tai không họa, đây là niềm vui thứ nhất; đối với trời không thẹn, đối với người không hổ, đây là niềm vui thứ hai; có được những nhân tài kiệt xuất trong thiên hạ mà giáo dục họ, đây là niềm vui thứ ba. Người quân tử có ba niềm vui, còn việc xưng vương thiên hạ thì không tính vào đó.

Rất nhiều người cảm thấy kỳ lạ, thời đại như ngày nay, ai mà không hy vọng làm lãnh đạo quốc gia, ai mà không hy vọng đắc cử tổng thống, nhưng Mạnh Tử lại cho rằng không thể sánh bằng ba niềm vui này. Trước tiên, cha mẹ còn mạnh khỏe, anh chị em cũng đều không gặp tai họa, đó chính là niềm vui lớn nhất của đời người. Tại sao vậy? Bởi vì cha mẹ còn, thì mới có thể khơi gợi lòng hiếu thảo của tôi; anh chị em còn, thì mới có thể khơi gợi lòng yêu thương bạn bè của tôi, "Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân bản dữ". Để làm một con người trọn vẹn, hoàn thành sinh mệnh có ý nghĩa của mình, tôi bắt buộc phải có cha mẹ anh em duy trì hai mạng lưới quan hệ quan trọng nhất này, cho nên khi cha mẹ anh em đều có mặt, có thể khiến tôi không ngừng thực tiễn yêu cầu tự nhiên của hiếu đễ, cuộc đời còn niềm vui nào lớn hơn thế nữa không? Cho dẫu là công danh lợi lộc khiến muôn người ngưỡng mộ, thì sao có thể sánh bằng niềm vui sum họp gia đình thiên luân chi lạc chứ? Có người nói, tại sao Mạnh Tử lại chủ nghĩa gia đình như vậy, niềm vui này hình như hơi chật hẹp một chút, bởi vì ai mà chẳng có thể đạt được cơ chứ, tại sao Mạnh Tử lại xếp nó thành niềm vui thứ nhất? Điều này có liên quan đến cách nhìn của Mạnh Tử đối với nhân tính. Mạnh Tử cho rằng, con người sống trên thế giới này chung đụng với người khác, tình cảm của anh ta là từ gần đến xa, từ gia đình từ từ khuếch trương rộng ra xã hội. Tỷ như cha mẹ tôi còn khỏe mạnh, anh em bình an; tôi ra cửa nhìn thấy những người già khác, liền nghĩ đến cha mẹ mình, mà tôn trọng họ; tôi nhìn thấy bạn học, đồng nghiệp, bạn bè, liền coi họ như anh chị em của mình, mà quan tâm đến họ; ngược lại, một đứa trẻ lớn lên từ cô nhi viện từ nhỏ, kinh nghiệm trưởng thành tương đối đau thương, từ nhỏ không có khái niệm tôn ti trật tự gia đình, có lẽ sẽ không sinh ra tình cảm mãnh liệt đặc biệt đối với người khác, không dễ dàng đem lòng hiếu thảo, yêu thương bạn bè phóng đại ra ngoài. Cho nên niềm vui "cha mẹ đều còn đủ, anh em không tai ương", không phải là một thứ chủ nghĩa trung tâm gia đình đơn thuần, mà là đã phát hiện ra chân tướng nhân tính bắt buộc phải từ gần đến xa, dần dần phóng đại mầm mống bên trong nhân tính ra ngoài, đây là sự phát triển bình thường của nhân tính. Tư tưởng "kính già yêu người như kính già nhà mình, yêu trẻ yêu người như yêu trẻ nhà mình" của Nho gia cũng bắt nguồn từ đây.

Niềm vui thứ hai "ngẩng đầu không thẹn với trời, cúi đầu không thẹn với người". Câu sau rất dễ hiểu, nói về cách đối nhân xử thế của bản thân, ở phần liên quan đến người khác, làm tròn trách nhiệm của mình, không làm bất kỳ chuyện gì có lỗi với ai cả. Tỷ như tôi không nợ tiền người khác, cũng không thất tín với ai, tôi giao du với tất cả mọi người đều quang minh lỗi lạc, tôi cảm thấy không có gì hổ thẹn với người khác cả, sự tự tin và tự tại được sinh sôi từ tâm trạng không hổ thẹn này, chính là niềm vui. Thế nhưng, "ngẩng đầu không thẹn với trời", trời là gì? Bắt đầu từ câu nói "năm mươi tuổi biết mệnh trời" của Khổng Tử, chữ "trời" của Nho gia đã mang ý nghĩa đặc biệt. Tỷ như Khổng Tử nói "đắc tội với trời, không nơi nào để cầu đảo", bạn đã đắc tội với trời, thì không có nơi nào để cầu nguyện nữa; bạn lừa gạt được người ta, chẳng lẽ lừa gạt được trời ư? Chữ "trời" của Nho gia, không phải là bầu trời trong tự nhiên, mà là chủ tể của vạn vật trong vũ trụ, là vị thần minh tối cao mà sinh mệnh con người phải đối mặt, nó có thể chủ đạo sự báo ứng thiện ác trong thế giới loài người. Các vị hoàng đế thời cổ đại tự xưng là thiên tử, phải tế trời. Người xưa khi nhắc đến thiên đạo, nói rằng nó "phúc thiện họa dâm"; bạn làm việc thiện, trời ban cho bạn phúc đức, bạn làm điều ác, trời sẽ trừng phạt bạn. Cho nên "ngẩng đầu không thẹn với trời" chính là bạn phải không hổ thẹn với nhân tính mà ông trời ban tặng cho bạn, nhân tính hướng thiện, cho nên bạn phải kiên trì lựa chọn điều thiện, đạt đến cảnh giới chí thiện hoàn mỹ. Bạn lựa chọn điều thiện để làm, hơn nữa đã làm được rồi, thì bạn sẽ không thẹn với trời, đồng thời bạn còn sinh ra một loại niềm vui từ bên trong, thỏa mãn với hành động của chính mình. Bởi vì điều thiện xuất phát từ bên trong, niềm vui cũng xuất phát từ bên trong, đây chính là tư tưởng của Nho gia.

Niềm vui thứ ba "có được những nhân tài kiệt xuất trong thiên hạ mà giáo dục họ", những người làm thầy giáo là hiểu rõ nhất, có thể có được những nhân tài xuất sắc trong thiên hạ để giáo dục họ, quả thực là một niềm vui trong đời. Tuy nhiên, ai mới là nhân tài xuất sắc? IQ cao, hoặc điểm thi đại học cao, thì mới là nhân tài sao? Sai rồi. Nho gia chưa từng coi những kẻ chỉ biết đọc sách là nhân tài xuất sắc, nhân tài xuất sắc còn phải có một loại tu dưỡng đức hạnh, có một loại tinh thần vươn lên, chỉ cần bạn có tâm vươn lên, sinh mệnh sẽ hướng lên phát triển, yêu cầu hướng thiện của nhân tính mới có thể được thể hiện ra một cách liên tục không dứt. Nghĩa là "nhân tài kiệt xuất" được Nho gia thấu hiểu bao gồm cả yêu cầu thực tiễn đạo đức, một người chỉ có học thức thôi là chưa đủ, bắt buộc phải tiến hành thực tiễn đạo đức, thì mới có thể bước lên con đường hoàn thiện bản thân. Mà thông qua giáo dục, đặc biệt là hướng vào giáo dục những nhân tài kiệt xuất trong thiên hạ, lý tưởng của chúng ta mới có thể kế thừa quá khứ mở ra tương lai, từng bước nâng cao. Tận mắt nhìn thấy mạch máu văn hóa được truyền thừa bởi một nhóm thanh niên kiêm toàn cả nhân đức lẫn trí tuệ, tưởng tượng tương lai tiền đồ của đất nước ngày càng tươi sáng, niềm vui này rõ ràng là thiết thực hơn nhiều so với việc bản thân một mình chí mãn đắc ý.

Trong ba niềm vui trên, niềm vui thứ nhất là điều mà ai ai cũng có thể trân quý, cha mẹ anh chị em đều bình an vô sự, có thể khiến nhân tính của bạn từ gia đình từ từ khuếch trương ra đến xã hội; niềm vui thứ hai là điều mà ai ai cũng có thể thực tiễn, đối với trời không thẹn, đối với người không hổ, đem nhân tính hướng thiện mà ông trời ban cho phát huy một cách triệt để; niềm vui thứ ba chính là điều mà ai ai cũng có thể nỗ lực ủng hộ và trợ giúp, có thể khi bản thân tuổi đã cao, giáo dục rất nhiều người trẻ tuổi trong thiên hạ có lòng vươn lên, truyền thụ kinh nghiệm tâm đắc của mình cho họ. Trong ba niềm vui này, niềm vui thứ nhất và niềm vui thứ ba đều không thể do chúng ta quyết định. Cha mẹ, anh em khỏe mạnh không phải là thứ chúng ta có thể nắm bắt, mà tố chất học sinh tốt hay xấu cũng phải dựa vào duyên phận. Chỉ có niềm vui thứ hai ngẩng cúi đều không thẹn, là hoàn toàn do bản thân nắm giữ. Mạnh Tử nói: "Quay vào nội tâm mà thấy mình chân thành, niềm vui nào lớn bằng. Nỗ lực thực hành chữ thứ, cầu nhân không gì gần bằng." Khi chúng ta phản tỉnh nội tâm, phát hiện bản thân thành khẩn, có thể không thẹn với chính mình, thì đó chính là niềm vui vô bờ bến.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.