Quốc Học Thiên Không

Lượt đọc: 30 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ba, Giữa Người Với Người

❊ ❊ ❊

1. Dũng cảm tự tỉnh

Nhật Bản có một hiệu sách rất lớn tên là "Tam Tỉnh Đồ". Hai chữ "Tam Tỉnh" xuất phát từ một câu trong "Luận Ngữ": "Ngô nhật tam tỉnh ngô thân", qua đó có thể thấy văn hóa Nhật Bản quả thực chịu ảnh hưởng rất sâu sắc từ chúng ta. "Ngô nhật tam tỉnh ngô thân" là câu nói của Tăng Sâm, học trò của Khổng Tử. Chữ "tam" đại diện cho "số nhiều", "tam tỉnh" không có nghĩa là mỗi ngày chỉ phản tỉnh ba lần, hoặc phản tỉnh ba việc, mà là mỗi ngày phản tỉnh nhiều lần. Phản tỉnh những gì? Một là: Phù nhân mưu nhi bất trung hồ, điềm thay người khác có dốc hết tâm sức hay không. Hai là: Dữ bằng hữu giao nhi bất tín hồ, cùng bạn bè qua lại có giữ đúng chữ tín hay không. Ba là: Truyền bất tập hồ. Câu này có hai cách giải thích, một cách nói là Tăng Sâm phản tỉnh những điều thầy dạy mình, bản thân ông đã làm được chưa, có thực hành hay không; cách giải thích thứ hai là Tăng Sâm tự mình làm thầy, ông tự hỏi những đạo lý mình truyền thụ cho học sinh, bản thân mình đã đi chiêm nghiệm và luyện tập chưa. Tôi cho rằng cách giải thích thứ hai là đúng. Bởi vì Tăng Sâm kém Khổng Tử bốn mươi sáu tuổi, khi ông chính thức bước chân vào xã hội làm việc, kết giao bạn bè, rất có thể Khổng Tử đã qua đời rồi. Cho nên việc ông làm thầy dạy học sinh, tự hỏi bản thân đã làm được chưa là rất phù hợp. Hơn nữa, Tăng Sâm lại là một người con đại hiếu nổi tiếng, khi ông mỗi ngày phản tỉnh hành vi của mình, lại không hề nhắc đến việc phản tỉnh xem bản thân có hiếu thuận hay không, điều đó cho thấy lúc bấy giờ cha mẹ ông rất có thể đã qua đời rồi, vậy nên đây là những lời ông nói khi tuổi tác đã lớn hơn.

Tăng Sâm tự phản tỉnh, tự hỏi bản thân xem có "bất trung, bất tín, bất tập" hay không. Người bình thường khi tự phản tỉnh, lại thường hay hỏi: Ai hại mình vậy? Ai chơi khăm mình vậy? Ai có lỗi với mình vậy? Đây rõ ràng là hai cảnh giới khác nhau. Tăng Sâm là hỏi bản thân mình có làm sai hay không trước, chứ không bận tâm người khác đã làm gì với mình. Bởi vì nếu là bản thân tôi làm sai, thì sẽ không có ai có thể giúp tôi được, chỉ đành dựa vào sự phản tỉnh của chính mình, mới có thể sửa đổi lỗi lầm, hướng về điều thiện. Đây chính là tinh thần "phản cầu chư kỷ" của Nho gia. Trong "Mạnh Tử" cũng có một đoạn nói về ý nghĩa tương tự: Mạnh Tử viết: "Ái nhân bất thân, phản kỳ nhân; trị nhân bất trị, phản kỳ trí; lễ nhân bất đáp, phản kỳ kính. Hành hữu bất đắc giả giai phản cầu chư kỷ, kỳ thân chính nhi thiên hạ quy chi." ("Mạnh Tử - Ly Lâu Thượng")

Mạnh Tử nói: "Yêu thương người khác, nhưng người ta lại không đến gần, phải tự hỏi lại xem nhân đức của mình đã đủ chưa; cai quản người khác, nhưng người ta lại không đi vào nề nếp, phải tự hỏi lại xem sự minh trí của mình đã đủ chưa; đối xử với người bằng lễ, nhưng người ta lại không hồi đáp, phải tự hỏi lại xem sự cung kính của mình đã đủ chưa. Hành động mà không đạt được kết quả như mong đợi thì thảy đều phải quay lại yêu cầu chính mình, bản thân có đoan chính thì thiên hạ mới quy tụ về."

Ý là gì? Bạn làm bất cứ việc gì, nếu không đạt được hiệu quả dự kiến, trước tiên đừng trách người khác, mà phải tự hỏi bản thân xem có phải nhân đức không đủ, trí tuệ không đủ, sự cung kính không đủ hay không. Có như vậy, bạn mới có thể cải thiện bản thân, khiến mình ngày một tốt hơn. Mà bản thân đã đoan chính rồi, thì người trong thiên hạ đều sẽ khẳng định bạn.

Thế nhưng, có đôi khi chúng ta vô cùng quan tâm đến người khác, lại rất lễ phép, hy vọng họ có thể đi vào nề nếp, nhưng phản ứng của đối phương lại nằm ngoài dự liệu. Lúc ấy chúng ta liền mất đi sự kiên nhẫn, trong lòng thầm nghĩ tôi đối xử với bạn tốt như vậy, sao bạn lại không biết điều thế. Những lúc này, bạn phải nhớ đến một câu nói của Khổng Tử: "Kiến hiền tư tề, kiến bất hiền nhi nội tự tỉnh dã." ("Luận Ngữ - Lý Nhân") Chữ "hiền" đại diện cho sự kiệt xuất, "hiền" có ba loại: Loại thứ nhất vô cùng có năng lực, gọi là hiền năng; loại thứ hai vô cùng có đức hạnh, gọi là hiền lương; loại thứ ba vô cùng thông minh, gọi là hiền minh. Hễ bạn nhìn thấy người khác hiền năng, hiền lương, hiền minh, có điểm gì kiệt xuất, thì phải nghĩ đến việc học tập theo họ, nỗ lực để được như họ. Nếu bạn nhìn thấy người khác có rất nhiều điểm làm không tốt, lúc này cũng đừng phê bình người ta, chê cười người ta, mà phải tự phản tỉnh xem bản thân có phạm phải cái thói hư tật xấu giống như họ hay không. Cho nên kết bạn trước tiên phải tự mình tu dưỡng. Bạn có thể dũng cảm tự tỉnh, lỗi lầm tự nhiên sẽ dần bớt đi, đức hạnh sẽ dần nâng cao, thì mới có thể khiến người khác từ từ khẳng định bạn, cuối cùng mới kết bạn với bạn.

2. Làm người xử thế

Nhắc đến làm người xử thế, đây vốn là chuyện cũ nhắc mãi thành nhàm. Nho gia đã đưa ra rất nhiều kiến nghị đáng để tham khảo về mặt này. Tỷ như "Quân tử dục nặc ư ngôn nhi mẫn ư hành." ("Luận Ngữ - Lý Nhân") Người quân tử muốn nói năng vô cùng cẩn trọng, trông có vẻ như ngập ngừng ít nói, nhưng lúc làm việc lại vô cùng nhanh nhẹn và hiệu quả. "Phu nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân. Năng cận thủ thí, khả vị nhân chi phương dã dĩ." ("Luận Ngữ - Ung Dã") Người nhân đức, khi bản thân muốn lập thân xử thế, thì cũng phải khiến người khác lập thân xử thế. Ví dụ như tôi nếu muốn làm một giáo viên giỏi, thì nhất định phải dạy học cho tốt. Muốn làm giáo viên giỏi chính là kỷ dục lập; muốn dạy học cho tốt thì học sinh sẽ chịu ảnh hưởng mà trở thành học sinh giỏi, đây chính là tôi đã giúp học sinh lập. Lại như câu nói nổi tiếng "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" ("Luận Ngữ - Vệ Linh Công") Con người phải biết suy rộng ra từ mình, đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, đứng ở góc độ của người khác mà cân nhắc. Những điều này đều là lời Khổng Tử nói. Về việc làm người xử thế, Mạnh Tử cũng từng nói ba câu quan trọng, có thể dùng để tham khảo. Câu thứ nhất: Nhân hữu bất vi nhi hậu khả dĩ hữu vi. ("Mạnh Tử - Ly Lâu Hạ" các câu sau đều thế)

Con người phải có việc không làm, sau đó mới có thể có việc làm nên.

Con người sống trên đời, thời gian và sức lực đều rất có hạn. Nếu việc gì bạn cũng muốn làm, cuối cùng có lẽ việc gì cũng làm không tốt. Cái gọi là "mười tám ban võ nghệ, món nào cũng tinh thông, món nào cũng làng nhàng". Chỉ khi biết lựa chọn từ bỏ, một số việc không làm, mới có thể tập trung sức lực để làm những việc mà bạn cho là nên làm. Tỷ như trong một tập thể, một người bình thường đối với rất nhiều việc đều không có ý kiến gì, anh ta cho rằng người khác là chuyên gia, cứ để người khác nói đi. Cho đến khi chính anh ta cho rằng đây là lĩnh vực mình từng nghiên cứu, mình có suy nghĩ của riêng mình, thì những lời anh ta nói ra, người khác sẽ nghiêm túc cân nhắc. Ngược lại, nếu một người bình thường việc gì cũng muốn góp ý, việc gì cũng muốn bày tỏ suy nghĩ của bản thân, thì đến cuối cùng người ta có lẽ sẽ không còn quá coi trọng ý kiến của bạn nữa. Bởi vì mọi người biết rằng bạn chỉ thích nói mà thôi, chứ chưa chắc đã thực sự có sở đắc gì. Cho nên con người phải có việc không làm, mới có thể làm nên việc lớn. Đây là nguyên tắc thứ nhất trong việc làm người xử thế. Câu thứ hai: Ngôn nhân chi bất thiện, đương như hậu hoạn hà?

Bàn luận về khuyết điểm của người khác, rước lấy hậu hoạn thì phải làm sao đây?

"Hậu hoạn" ở đây ý chỉ: Người bị bạn bàn tán có thể sẽ mang hận trong lòng mà tìm cách trả thù. Hơn nữa, đã Nông nỗi người này có khuyết điểm bị bạn đem ra bàn tán, thì anh ta hà cớ gì phải giữ thể diện cho bạn nữa? Điều mà Khổng Tử ghét nhất, chính là những kẻ chuyên kể lể khuyết điểm của người khác. Mạnh Tử cũng vậy. Mạnh Tử thích tranh biện, lúc tranh biện khó tránh khỏi việc nhắc đến khuyết điểm của người khác, nhưng bạn tuyệt đối đừng cố ý thêu dệt những chuyện tầm phào không có căn cứ. Nếu bạn nghe được lời ong tiếng ve nào đó mà cũng hùa theo đi nói, đến cuối cùng e rằng truyền qua truyền lại lại thành ra do chính bạn nói, người bị bạn nói sẽ "gậy ông đập lưng ông", cũng đi nói xấu sau lưng bạn, khiến sự việc biến thành "La Sinh Môn", chẳng ai biết chân tướng rốt cuộc là gì. Khổng Tử rất nhấn mạnh việc người quân tử phải cương nghị mộc mạc, cẩn trọng lời nói và việc làm, nói năng cố gắng tiết chế một chút, thậm chí có ấp úng, nói chậm một chút cũng chẳng sao; điều quan trọng là những lời không nắm chắc thì đừng dễ dàng thốt ra, đặc biệt là những lời liên quan đến khuyết điểm của người khác, lại càng phải cẩn thận. Có như vậy, mới có thể tránh được hậu hoạn. Câu thứ ba nhắc đến Khổng Tử: Mạnh Tử viết: "Trọng Ni bất vi dĩ thậm giả."

Mạnh Tử nói: "Khổng Tử là người làm việc gì cũng không thái quá."

Khổng Tử làm việc gì cũng đều vừa vặn thích hợp, bởi vì ông biết phán đoán, tu dưỡng phi thường. Con người khi còn trẻ, tính cách thường hay bồng bột, thích làm mọi chuyện đến nơi đến chốn, việc tốt làm tới cùng, việc xấu cũng làm tới cùng, đến cuối cùng e là đều bị quá đà. Khổng Tử nói "quá do bất cập", thái quá và bất cập đều không tốt. Trên đền thờ Delphi ở Hy Lạp có khắc hai câu nói, câu thứ nhất là "Hãy tự nhận thức chính mình", câu thứ hai là "Mọi việc đều chớ thái quá". Câu thứ nhất liên quan đến "tri", nhận thức bản thân quan trọng hơn nhiều so với việc nhận thức người khác, bạn đến bản thân còn chẳng hiểu rõ, mục tiêu cuộc đời mình rốt cuộc là gì cũng chưa vất vả làm cho rõ ràng, mà cứ chăm chăm đi tìm hiểu đủ thứ chuyện của người khác thì có ích gì chứ? Câu thứ hai liên quan đến "hành", bạn phải có chừng mực, phải biết tự kiềm chế bản thân. Cái gọi là "dĩ ước thất giả tiên hĩ", vì tự kiềm chế mà xảy ra sai sót gì trong đối nhân xử thế thì cực kỳ hiếm thấy. Nhan Uyên thỉnh giáo Khổng Tử thế nào là nhân, Khổng Tử đã đưa ra bốn chữ "vật": Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động. Những chuyện trái với quy phạm lễ nghĩa pháp luật thì đừng nhìn, đừng nghe, đừng nói, đừng làm. Bởi vì tác dụng của lễ chính là quy phạm hành vi, khiến nó trở nên vừa vặn thích hợp. Khổng Tử cả đời ghi tạc điều này trong lòng, đến năm bảy mươi tuổi, tự nhận là "tòng tâm sở dục, bất du củ", "tòng tâm sở dục" thì ai cũng làm được, nhưng "bất du củ" thì lại không hề dễ dàng chút nào. Chữ "củ" này chính là minh chứng rõ ràng cho việc Khổng Tử cực kỳ nghiêm khắc tự kiềm chế bản thân. Bình thường khi chúng ta kết bạn cũng đều hy vọng có thể kết giao với những người như thế. Có những người hào khí ngút trời, khi ấy bầu không khí rất tốt, sẽ cảm thấy sảng khoái, dứt khoát, nhưng sau đó e là sẽ cảm thấy không tài nào duy trì nổi, lời nói và việc làm không thể đi đôi với nhau.

Ba câu nói này của Mạnh Tử, trước hết nói về hành động của chúng ta, phải có việc không làm, thì mới có thể làm nên việc lớn, mục đích chúng ta thụ giáo trước tiên chính là phải có việc không làm. Bước thứ hai bàn về ngôn luận của chúng ta, có thể bàn luận về các sự vụ công cộng, nhưng phải cố gắng tránh bàn luận về khuyết điểm hay sự riêng tư của người khác, đặc biệt là không được nói những lời đồn đại không có căn cứ. Cuối cùng là phải học tập Khổng Tử tinh thần "bất vi dĩ thậm", mọi việc chớ thái quá, có thể dừng lại đúng mực trong lời nói và hành động, biết tự kiềm chế bản thân.

3. Năm điều bất hiếu

Người Trung Quốc từ xưa đến nay vẫn luôn coi trọng đạo hiếu, đến thời Nho gia của Khổng Tử và Mạnh Tử, lại một lần nữa đưa ra những cơ sở mang tính kinh nghiệm và lý luận cho đạo hiếu, khiến nó trở thành chuẩn mực hành vi có thể tuân theo phổ biến. Cho nên, những lời bàn về hiếu và bất hiếu không chỉ có một loại, Mạnh Tử từng liệt kê ra năm điều bất hiếu trong thế tục, rất đáng để chúng ta tham khảo.

Thế tục sở vị bất hiếu giả ngũ: Nọa kỳ tứ chi, bất cố phụ mẫu chi dưỡng, nhất bất hiếu dã; bác dịch hảo ẩm tửu, bất cố phụ mẫu chi dưỡng, nhị bất hiếu dã; hảo hóa tài, tư thê tử, bất cố phụ mẫu chi dưỡng, tam bất hiếu dã; tòng nhĩ mục chi dục, dĩ vi phụ mẫu lục, tứ bất hiếu dã; hảo dũng đấu hận, dĩ nguy phụ mẫu, ngũ bất hiếu dã. ("Mạnh Tử - Ly Lâu Hạ")

Những điều bất hiếu mà người đời thường nói có năm trường hợp: Chân tay lười biếng, không màng đến việc phụng dưỡng cha mẹ, đó là bất hiếu thứ nhất; thích cờ bạc thích uống rượu, không màng đến việc phụng dưỡng cha mẹ, đó là bất hiếu thứ hai; ham mê tiền tài, thiên vị vợ con, không màng đến việc phụng dưỡng cha mẹ, đó là bất hiếu thứ ba; buông thả ham muốn tai mắt, khiến cha mẹ chịu nhục nhã, đó là bất hiếu thứ tư; thích cưa quyền múa võ đánh lộn đấu đá, đẩy cha mẹ vào cảnh nguy hiểm, đó là bất hiếu thứ năm.

Ba loại bất hiếu đầu tiên đều vì một lý do nào đó mà "không màng đến việc phụng dưỡng cha mẹ". Hồi nhỏ cha mẹ nuôi chúng ta khôn lớn, sau khi trưởng thành chúng ta nhất định phải chăm lo cho đời sống của cha mẹ. Nếu bạn chân tay lười biếng, ăn bám lười làm, không chịu nỗ lực làm việc, dẫn đến việc cha mẹ áo mặc không đủ, cơm ăn không no, đây là tội bất hiếu đứng đầu. Giống như hiện nay có một số "tộc gặm nhão", bản thân tuổi trẻ tài cao lại không chịu ra ngoài làm việc, cứ ở nhà ăn bám của cha mẹ. Đương nhiên có những bậc cha mẹ nói, tôi không bận tâm, dù sao cũng chỉ có một đứa con, cứ mặc kệ nó gặm đi. Thế nhưng sau này khi cha mẹ trăm tuổi qua đời rồi, con cái phải làm sao đây? Nó vẫn phải sinh tồn trong xã hội, vẫn phải xây dựng gia đình lập nghiệp nuôi nấng con cái, đến lúc đó phải tính sao đây?

Loại bất hiếu thứ hai là thích uống rượu cờ bạc, chìm đắm trong trò chơi giải trí, chỉ biết hưởng thụ cuộc sống của riêng mình, mà lơ là việc chăm sóc nhu cầu của cha mẹ. Tình huống này khá là đáng sợ, bởi vì uống rượu hại thân, cờ bạc thì không chừng sẽ khiến khuynh gia bại sản. Đến lúc đó không những bản thân không có chỗ dung thân, mà đời sống của cha mẹ cũng hoàn toàn không được bảo đảm.

Loại bất hiếu thứ ba là tham lam tiền tài, chỉ chăm chăm tích lũy tài sản cho riêng mình, rất quan tâm chăm sóc vợ con mình, ngược lại lại mặc kệ đời sống của cha mẹ. Điều này sẽ làm tổn thương sâu sắc trái tim cha mẹ, chẳng khác nào sau khi nuôi bạn khôn lớn, bạn chỉ biết nghĩ đến gia đình nhỏ của mình, mà quên mất việc phụng dưỡng cha mẹ già cao tuổi.

Hơn thế nữa, chính là loại bất hiếu thứ tư: Buông thả ham muốn của tai mắt, theo đuổi tửu sắc vui chơi; ở ngoài xã hội làm chuyện ác, vi phạm pháp luật kỷ cương; làm ô danh gia tộc, sỉ nhục đến người đi trước, "dĩ vi phụ mẫu lục", chữ "lục" ở đây có nghĩa là sỉ nhục, vì hành vi của bản thân mà khiến cha mẹ chịu đựng sự sỉ nhục. Người Trung Quốc coi trọng gia đình, khi đánh giá thành tựu của một người, thường sẽ cân nhắc đến biểu hiện của con cái họ. Con cái ở điểm này, há có thể không cẩn trọng chứ?

Loại bất hiếu thứ sáu còn phiền phức hơn: Bạn ở bên ngoài thích gây sự đánh nhau, tham gia băng đảng xã hội đen, đao kiếm bạo lực, thậm chí bắt cóc tống tiền cướp đoạt tài sản, nằm trong danh sách truy nã, kết thù kết oán với người ta; những kẻ đó tìm không được bạn để trả thù, không chừng sẽ tìm đến cha mẹ bạn để trả thù, khiến cha mẹ cũng suốt ngày nơm nớp lo sợ, ăn ngủ không yên. Những đứa con như thế này quả thật tội ác tày trời, khiến người ta đau lòng tuyệt vọng.

Từ đó có thể thấy, cái gọi là "bất hiếu" thời cổ đại, trước tiên liên quan đến vấn đề phụng dưỡng cha mẹ, có thể để cha mẹ an hưởng tuổi già, cuộc sống không phải lo âu hay không, đây là việc lớn hàng đầu; tiếp theo là tránh để cha mẹ phải chịu sự sỉ nhục, đừng vì bạn ở bên ngoài làm những chuyện không tốt mà khiến cha mẹ phải lo lắng cho bạn, thậm chí bị người ta chê cười; cuối cùng liên quan đến vấn đề tính mạng và sự an nguy của cha mẹ, đừng vì bạn ở bên ngoài kết thù gây chuyện mà đẩy tính mạng của cha mẹ vào cảnh hiểm nguy. Năm loại bất hiếu này, chúng ta đều phải cẩn thận tránh xa. Sau khi đã tránh được rồi, mới tích cực tìm cách hiếu thuận với cha mẹ.

Ngoài năm loại bất hiếu này ra, Mạnh Tử còn từng nói một câu, mọi người ai nấy đều vô cùng quen thuộc, và cũng vì thế mà có rất nhiều ý kiến, gọi là "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại." ("Mạnh Tử - Ly Lâu Thượng") Bất hiếu có những ba điều gì? Dựa theo lời chú giải của Triệu Kỳ, điều bất hiếu thứ nhất là "nịnh nọt cúi đầu tuân theo, đẩy cha mẹ vào đường bất nghĩa", cha mẹ làm chuyện xấu, bạn mặc kệ không bận tâm, cũng không khuyên can ngăn cản, đẩy cha mẹ vào đường bất nghĩa. Từ đó có thể biết rằng, nếu cha mẹ làm những việc trái với chính nghĩa xã hội, làm con cái nhất định phải khuyên can ngăn cản, động viên họ bước lên con đường chính nghĩa, nếu không thì chính là bất hiếu. Điều bất hiếu thứ hai là "nhà nghèo cha mẹ già, không chịu ra làm quan nhận lộc", nhà rất nghèo, cha mẹ đã già, bạn lại không chịu đi làm, không chịu lao động, khiến cha mẹ già không có nơi nương tựa. Điều này có ý nghĩa tương tự với câu "chân tay lười biếng, không màng phụng dưỡng cha mẹ" đã nói ở trên. Điều bất hiếu thứ ba là "không kết hôn không có con cái, tuyệt đứt hương khói tổ tiên", bạn không kết hôn, theo chủ nghĩa độc thân, hoặc đã kết hôn rồi mà không sinh được con trai, khiến việc cúng tế tổ tiên không thể nối tiếp đời này qua đời khác, đây là loại bất hiếu lớn nhất.

Quan niệm thời cổ đại, sinh được một đứa con trai để cúng tế tổ tiên là việc quan trọng nhất. Giống như cha của Khổng Tử, lần kết hôn đầu tiên sinh được chín người con gái, lần kết hôn thứ hai sinh được một đứa con trai, nhưng đứa con trai này chân lại hơi tàn tật, đến lần thứ ba mới tìm được mẹ của Khổng Tử, sinh ra Khổng Tử. Trong mắt Mạnh Tử, một người nếu không sinh được con trai, chính là cái gọi là "vô hậu", là một vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Đương nhiên, con người hiện đại đã thoát khỏi quan niệm này rồi, nam nữ bình quyền, cúng tế tổ tiên không phân nam nữ, con trai hay con gái đều tốt như nhau; hơn nữa cho dù vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà không có con cái, cũng vẫn có thể sống một đời thật tốt đẹp. Thế nhưng, mấy điều bàn về bất hiếu của người xưa, vẫn là những chuẩn mực đáng để người đời nay cẩn trọng răn mình. Người làm con, tránh xa những hành vi bất hiếu, làm tròn trách nhiệm phụng dưỡng, thì mới có thể đời đời truyền tụng, hình thành nên một gia phong tốt đẹp.

4. Đổi con cho nhau mà dạy

Giáo dục con cái là một việc vô cùng khó khăn. "Chu Dịch - Quái Mông" có một câu: "Mông dĩ dưỡng chính, thánh công dã." Mông là giai đoạn non nớt của vạn vật, giống như trạng thái muội muội chưa được khai mở, ở con người thì chính là tuổi thơ ấu muội, cho nên trẻ con đi học cũng gọi là khai mông. Câu này có thể hiểu là: Vào giai đoạn trẻ thơ khai mông, bồi dưỡng cho chúng bước lên con đường chính nghĩa của cuộc đời, đây chính là công nghiệp làm nên bậc thánh nhân. Bởi vì con người nếu muốn trở thành thánh nhân, ngay từ giai đoạn khai mông đã phải đặt nền móng; nếu bước đầu tiên đi chệch hướng, sau này sẽ phải tốn rất nhiều thời gian để uốn nắn lại, đợi đến khi bạn bước trở lại con đường chính nghĩa, e là "thời gian không chờ người", đã không còn kịp nữa rồi. Cho nên giáo dục con cái, ngay từ khi bọn trẻ còn rất nhỏ đã phải đặc biệt tâm huyết.

Triết gia lớn phương Tây Plato, cả đời không kết hôn, cũng không có con cái, nhưng ông lại quan sát vô cùng sâu sắc về vấn đề giáo dục trẻ em. Ông nói, nếu bạn muốn hại một đứa trẻ, cách hiệu quả nhất chính là khiến mọi mong ước của nó đều thành hiện thực. Nghe xong câu này, chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng ngạc nhiên. Bình thường trẻ con muốn gì muốn mua gì, chúng ta làm cha mẹ đều cố gắng hết sức thỏa mãn, sao Plato lại nói làm như vậy là hại đứa trẻ? Bởi vì một con người nếu luôn luôn cầu gì được nấy, chưa từng trải nghiệm qua sự thối trát (thất bại, trắc trở), sẽ thiếu đi khả năng điều tiết cảm xúc, khi phải đối mặt với khốn cảnh nghịch cảnh, sẽ không biết phải đối mặt và xử lý ra sao. Mà cuộc đời con người không thể nào thuận buồm xuôi gió mãi được, cha mẹ cũng không thể nào cả đời che chở con cái dưới đôi cánh của mình, sau này nó gặp phải trắc trở thì phải làm sao đây? Nó có vấn đề về cảm xúc liệu có tự điều tiết được không? E là sẽ gặp khó khăn. Cho nên Plato nói, cha mẹ luôn để con cái muốn gì được nấy, trên thực tế chính là đang hại nó. Về việc tiến hành giáo dục gia đình thế nào, Mạnh Tử cũng từng nói một đoạn, gọi là "đổi con cho nhau mà dạy".

Cổ giả dịch tử nhi giáo chi, phụ tử chi quan bất trách thiện, trách thiện tắc ly. Ly tắc bất tường mạc đại yên. ("Mạnh Tử - Ly Lâu Thượng") Người thời cổ đại đem con đổi cho người khác để dạy, tình cha con giữa cha và con không dùng điều thiện để trách cứ lẫn nhau, dùng điều thiện để trách cứ thì sẽ xa cách nhau. Xa cách nhau thì không có sự bất cát nào lớn hơn thế.

Cái gọi là "dạy" ở đây chỉ việc giống như giáo viên, tiến hành giáo dục một cách chính thức. Người cha nếu ở nhà lúc nào cũng bày ra bộ mặt của một giáo viên, thường xuyên liên tục, nghiêm khắc giáo dục con cái, ắt sẽ làm tổn hại đến tình cảm thân thiết vốn có giữa cha và con. Cái gọi là "trách thiện", chính là dùng những điều thiện để yêu cầu lẫn nhau. Tỷ như người cha yêu cầu con cái làm việc thiện tránh việc ác, nhưng con cái nhất thời làm không được thì phải làm sao đây? Tình cảm thân thiết giữa cha và con rất có thể vì sự kỳ vọng sâu sắc này mà sụp đổ tổn thương. Hơn nữa, làm cha mẹ thì thân giáo quan trọng hơn ngôn giáo. Bạn cứ bắt con cái làm người tốt việc tốt, nhưng nếu bản thân bạn lại không làm được, con cái e là sẽ quay đầu lại hỏi bạn rằng: "Phu tử giáo ngã dĩ chính, phu tử vị xuất ư chính dã." ("Mạnh Tử - Ly Lâu Thượng") Ngài dùng đạo lý chính trực để giáo dục con cái, nhưng hành vi của chính ngài lại chưa chắc đã hoàn toàn phù hợp với đạo lý chính trực. Lúc này, cha mẹ và con cái e là sắp sửa cãi nhau rồi. Cuộc đời không có thứ tình cảm nào là thập toàn thập mỹ cả, tình cảm thân thiết trong gia đình cũng vậy. Lúc này bạn phải biết lựa chọn đánh đổi, rốt cuộc là tình cảm gia đình quan trọng hơn, hay là việc "trách thiện" quan trọng hơn? Mạnh Tử cho rằng, tình cảm gia đình là trên hết, không gì có thể thay thế được; nhưng giáo dục con cái bước lên con đường chính nghĩa cũng rất quan trọng, vậy thì hãy để thầy cô giáo dạy vậy.

Bản thân tôi đi dạy học ba mươi năm, dạy con nhà người ta thì có chút ít tâm đắc, nhưng dạy con gái mình thì lại bó tay toàn tập. Tại sao? Tình cảm gia đình là trên hết. Tôi nhớ có lần nói với con bé, con ở sau lưng bạn bè đừng có chê bai chỉ trích bạn bè. Kết quả là cách một thời gian sau, tôi ở nhà trò chuyện với người ta, lại phê bình chê bai một người bạn rất thân của mình. Con gái tôi lập tức lên tiếng nói, chẳng phải cha từng nói ở sau lưng không được phê bình bạn bè sao? Tại sao bây giờ cha lại phê bình bạn của cha chứ? Tôi cảm thấy vô cùng hổ thẹn. Cho nên, những đạo lý giáo dục con cái nói ra thì dễ, nhưng liệu cha mẹ có làm được không? Ai cũng có khuyết điểm, khuyết điểm đôi khi gắn liền với tính cách, bạn mang tính cách như thế này, thì cái khuyết điểm ấy rất khó sửa đổi, mà tính cách thường được định hình từ khi còn rất nhỏ, trừ phi bạn có tâm tu dưỡng, nếu không thì rất khó cải thiện.

Tư tưởng Nho gia đối với việc giáo dục con cái có hai nguyên tắc: Thứ nhất, ngay từ khi trẻ bắt đầu đi học, đã phải để chúng bước lên con đường chính nghĩa. Hiện nay rất nhiều bậc cha mẹ sẵn sàng bỏ tiền cho con vào học những trường mẫu giáo tốt, trường tiểu học tốt, đây là điều đúng đắn; nhưng giáo dục tốt đôi khi không nhất thiết phải tốn rất nhiều tiền, tỷ như bạn có một môi trường sống tốt, trong nhà thường xuyên có những người bạn tốt đến lui, khi con kết bạn bạn chú ý xem nó tương tác với những ai, những điều này đều là những việc chúng ta có thể làm được.

Thứ hai, phải có giáo dục gia đình, thân giáo của cha mẹ quan trọng hơn ngôn giáo. Giáo dục gia đình trên thực tế có thể bắt đầu từ việc xem tivi, cố gắng xem một số chương trình tivi thích hợp cho trẻ em, như vậy mọi người sẽ có chủ đề chung để giao tiếp trò chuyện. Một trong những phương pháp của tôi là dẫn con xem phim, sau đó thảo luận cốt truyện phim, giao tiếp về các giá trị quan của chúng ta. Hình thức giáo dục này tương đối ẩn ý, có thể mưa dầm thấm lâu. Trực tiếp mượn lời nói để giáo dục, nói con phải thế này, phải thế nọ, đến cuối cùng con cái nhìn thấy cha mẹ sẽ cảm thấy sợ hãi, lo lắng, bởi vì không làm được yêu cầu của cha mẹ, tình cảm e là cũng sẽ dần xa cách. Nếu quả thực cần phải có lời dạy bảo trực tiếp, thì hãy để thầy cô giáo làm việc đó. Thầy cô giáo có thể là giáo viên ở trường, cũng có thể là họ hàng bạn bè người lớn tuổi, để họ đóng vai trò là người thầy, giáo dục con cái của chính mình. Lỡ như con cái không làm được yêu cầu của thầy cô, thì cũng chẳng có tổn hại gì, vừa hay có thể khích lệ nhiều hơn, tiếp tục đưa ra yêu cầu. Đồng thời, con cái ở trường chịu áp lực quá lớn, hoặc vì không đạt được tiêu chuẩn mà cảm thấy hổ thẹn, lúc về nhà vẫn còn có tình cảm thân thiết của cha mẹ để vỗ về, khoan dung và kỳ vọng. Nếu không hiểu đạo lý này, cha mẹ con cái "trách thiện" lẫn nhau, yêu cầu khắt khe, sẽ khiến con người (hoặc cha, hoặc con, hoặc cả hai) cảm thấy bản thân không nơi nương tựa giữa đất trời, ngay cả trong gia đình cũng không có chỗ dung thân cho mình, đó thực sự là bi kịch cuộc đời. Tình cảm cha con ngày một xa cách, cuối cùng đi đến chỗ chia lìa, chính là chuyện bất hạnh nhất trong đời, cũng là chuyện khiến người ta cảm thấy tiếc nuối nhất. Bởi vì, mọi loại điều thiện, truy cứu tận cùng, thảy đều lấy tình cảm thân thiết giữa cha mẹ và con cái làm nền tảng. Nếu vì trách thiện mà tổn hại tình cảm gia đình, há chẳng phải là nhận thức đảo điên, bỏ gốc theo ngọn hay sao?

5. Lấy đức luận chuyện kết bạn

Kết bạn phải xem xét đức hạnh, đây là đạo lý mà ai ai cũng hiểu rõ. Khổng Tử nói: "Đức bất cô, tất hữu lân." Một người có đức hạnh sẽ không bao giờ cô độc, nhất định sẽ nhận được sự gần gũi và ủng hộ của những người có lập trường giống mình, kiên định với đạo đức. Điều này cũng nhấn mạnh rằng đạo đức là gốc rễ của việc làm người và kết bạn. Khổng Tử lại nói: "Lý nhân vi mỹ. Trạch bất xử nhân, yên đắc trí?" Khi bạn lựa chọn môi trường sống, nếu không chọn khu dân cư tràn ngập bầu không khí nhân đức, thì sao có thể coi là có trí tuệ được? Điều này cho thấy con người sẽ chịu ảnh hưởng bởi phong tục tập khí, bạn bè với nhau cũng sẽ ảnh hưởng lẫn nhau, mưa dầm thấm lâu.

Học trò của Mạnh Tử là Vạn Chương có lần đã hỏi Mạnh Tử rằng: "Cảm vấn hữu?" Xin hỏi ngài nguyên tắc kết bạn là gì vậy? Câu trả lời của Mạnh Tử là: Kết bạn với đức hạnh của họ. Lấy đức hạnh làm nền tảng.

Mạnh Tử viết: "Bất hiệp trưởng, bất hiệp quý, bất hiệp huynh đệ nhi hữu. Hữu giả giả, hữu kỳ đức dã, bất khả dĩ hữu hiệp dã." ("Mạnh Tử - Vạn Chương Hạ")

Mạnh Tử nói: "Không cậy vào tuổi tác lớn, không cậy vào địa vị cao, không cậy vào thành tựu của anh em để kết bạn. Cái gọi là kết bạn, là kết giao với phẩm đức của người ta, cho nên không được phép cậy thế điều gì cả."

Câu nói này nghe có vẻ khá sắc bén, nhưng lập trường lại vô cùng rõ ràng. Mạnh Tử nói, kết bạn phải đặt phẩm đức lên hàng đầu, chứ không phải nhìn vào những điều kiện bên ngoài như tuổi tác, địa vị, thành tựu. Mạnh Tử lấy ví dụ rằng, Mạnh Hiến Tử là một đại phu sở hữu một trăm chiếc xe ngựa, ông có năm người bạn. Nhưng khi ông qua lại với năm người này, trong lòng không hề có suy nghĩ mình là đại phu; mà năm người kia nếu trong lòng có suy nghĩ Mạnh Hiến Tử là đại phu, thì cũng đã không thèm giao du với ông ta rồi. Tại sao? Bạn bè qua lại với nhau, điều coi trọng là phẩm đức, chứ không phải thân phận, địa vị của đối phương. Cháu nội của Khổng Tử là Tử Tư làm thầy của Lỗ Mục Công. Có lần Lỗ Mục Công nói với ông rằng, trẫm bây giờ kết bạn với ngươi, hẳn là có thể lưu truyền thành giai thoại chứ nhỉ? Tại sao? Bởi vì một người là quân chủ, một người là kẻ sĩ bình thường; quân chủ kết bạn với thường dân, chẳng lẽ không phải là chuyện tốt đẹp hay sao? Nhưng Tử Tư đáp lại thế nào? Tử Tư nói, xét về địa vị, ngài là quân chủ, tôi là đại thần, sao dám làm bạn với ngài chứ? Xét về đức hạnh, tôi là thầy, ngài là học sinh, sao có thể làm bạn với tôi được? Ý là ngài tuy tôn quý là quốc vương, nhưng tôi Tử Tư là người có đức hạnh, người có đức hạnh kết bạn chỉ có một sự cân nhắc duy nhất: Đức hạnh tương đương. Hai người có đức hạnh tương đương kết bạn với nhau, mới có thể cùng nhau khích lệ, khiến đức hạnh của nhau ngày một cao hơn; chứ không phải nhìn xem ngài tuổi tác lớn bao nhiêu, địa vị cao bao nhiêu, hoặc huynh đệ có công trạng gì, mà tôi liền bằng lòng kết bạn với ngài. Cái gọi là "dùng kẻ dưới kính kẻ trên, gọi là quý quý; dùng kẻ trên kính kẻ dưới, gọi là tôn hiền. Quý quý tôn hiền, kỳ nghĩa nhất dã", kẻ địa vị thấp kính trọng người địa vị cao, gọi là tôn trọng người quý phái; người địa vị cao tôn trọng kẻ địa vị thấp, gọi là kính trọng người hiền tài. Mạnh Tử nói, tôn trọng người quý phái và kính trọng người hiền tài, đạo lý trong đó là như nhau, đều lấy "kết bạn với đức hạnh" làm nền tảng, rồi sau đó mới tìm kiếm việc thực hiện lý tưởng chung.

Kết bạn với đức hạnh có lợi ích gì? Trong "Mạnh Tử" còn có một câu chuyện, mấy cái tên nhân vật được nhắc đến đều có bốn chữ: Doãn Công Chi Thả, Tử Trước Nhu Tử, Dữ Công Chi Tư. Doãn Công Chi Thả là một cao thủ bắn cung, thầy của ông ta là Tử Trước Nhu Tử. Tử Trước Nhu Tử tuổi đã cao, nhận mệnh đi thảo phạt nước Vệ. Nước Vệ cử ra học trò của Doãn Công Chi Thả, cũng là một cao thủ bắn cung tên là Dữ Công Chi Tư. Tử Trước Nhu Tử là lão tướng quân, Dữ Công Chi Tư là tướng quân trẻ tuổi. Lão tướng quân tuổi tác đã lớn, đánh trận được nửa đường, phát hiện bệnh thấp khớp của mình tái phát, không thể giương cung được nữa, đành phải bỏ chạy, miệng nói "Ngô tử hĩ phu", hôm nay ta không sống nổi rồi. Trong quá trình tháo chạy, Tử Trước Nhu Tử hỏi người đánh xe rằng, kẻ đang đuổi theo phía sau ta là ai? Người đánh xe nhìn một cái, đáp rằng người đang đuổi theo phía sau là thần tiễn thủ Dữ Công Chi Tư của nước Vệ. Lão tướng quân vừa nghe xong liền nói vậy thì không sao rồi, hôm nay ta sẽ không chết đâu. Người đánh xe lấy làm lạ, nói Dữ Công Chi Tư là tay bắn cung cừ khôi nhất nước Vệ, trăm phát trăm trúng, sao lại không sao chứ? Tử Trước Nhu Tử nói: "Phu Doãn Công Chi Thả, đoan nhân dã, kỳ thủ hữu tất đoan hĩ." ("Mạnh Tử - Ly Lâu Thượng") Học trò của ta là Doãn Công Chi Thả là một trang quân tử chính trực, những người bạn mà cậu ta kết giao, những học trò mà cậu ta dạy bảo nhất định cũng sẽ là trang quân tử chính trực; quân tử chính trực sẽ không bao giờ thừa lúc người ta gặp khó khăn mà ra tay hãm hại, cho nên vị tướng quân trẻ tuổi này tuyệt đối sẽ không lợi dụng thời cơ tôi tái phát bệnh cũ, không thể giương cung để đối phó với tôi đâu.

Kết quả quả nhiên đúng như Tử Trước Nhu Tử đã dự đoán.

Dữ Công Chi Tư chí, viết: "Phu tử hà bất vi chấp cung?" Viết: "Hôm nay ngã tật tác, bất khả dĩ chấp cung." Viết: "Tiểu nhân học xạ ư Doãn Công Chi Thả, Doãn Công Chi Thả học xạ ư phu tử. Ngã bất nhẫn dĩ phu thiên tử đạo phản hại phu tử. Tuy nhiên, hôm nay chi sự, quân sự dã, ngã bất cảm phế." Trừ thỉ khấu luân, khứ kỳ kim, phát thừa thỉ nhi hậu phản. ("Mạnh Tử - Ly Lâu Thượng") Dữ Công Chi Tư đuổi tới nơi, cất lời: "Thưa thầy, sao thầy không cầm cung?" Tử Trước Nhu Tử nói: "Hôm nay bệnh cũ của ta tái phát, không thể cầm cung." Dữ Công Chi Tư nói: "Con học bắn cung từ Doãn Công Chi Thả, Doãn Công Chi Thả học bắn cung từ ngài. Con không nỡ dùng kỹ thuật ngài truyền dạy để quay lại hãm hại ngài. Mặc dù vậy, chuyện ngày hôm nay là việc của quốc quân giao phó, con không dám bỏ bê." Nói xong liền rút tên ra, gõ vào vành xe, tháo bỏ mũi tên đi, bắn bốn phát tên rồi quay người đi ngược trở lại.

Đây quả thực là một câu chuyện vô cùng cảm động. Đáng lẽ ra, trong lúc giao chiến, đụng độ đối thủ gặp phải sự cố, vừa hay là lúc nên thừa cơ hội đột nhập, thừa thắng xông lên. Thế nhưng Dữ Công Chi Tư lại không nỡ làm như vậy, bởi vì thầy của anh ta là Doãn Công Chi Thả là một trang quân tử chính trực. Anh ta cảm thấy,Ký nhiên thầy đã sớm nhìn trúng mình, thu nhận mình làm học trò, chính là vì tính cách và lý tưởng của mình gần gũi với thầy, cũng là một trang quân tử chính trực. Đã muốn làm quân tử chính trực, thì không được phép thừa lúc người ta gặp nguy hiểm mà ra tay hãm hại, cho nên ngày hôm nay mình bắt buộc phải tha cho Tử Trước Nhu Tử một con đường sống. Tử Trước Nhu Tử nhờ vậy mà bảo toàn được tính mạng. Thế nhưng, suy cho cùng, vẫn là do Tử Trước Nhu Tử có mắt nhìn người, bởi vì ông đã thu nhận được một người học trò tốt như Doãn Công Chi Thả, để rồi vào khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, bình an thoát nạn.

6. Giữ gìn nguyên tắc, uyển chuyển biến hóa

Nho gia đề cao việc lựa chọn điều thiện rồi kiên trì đến cùng. Sau khi đã chọn điều thiện rồi, còn phải kiên trì vững vàng. Kiên trì vững vàng chính là giữ vững nguyên tắc trong lòng, quyết không thỏa hiệp. Nhưng sự kiên trì ấy bảo vệ cảm xúc chân thật nơi nội tâm của chính mình, chứ không phải phương thức biểu hiện ra bên ngoài. Tỷ như tôi kiên trì lòng hiếu thảo với cha mẹ, nhưng phương thức biểu hiện lại phải tùy theo tình hình thực tế mà định đoạt, chứ không thể cứng nhắc bảo thủ. Khổng Tử nói: "Vô khả, vô bất khả." Ông không phải là kẻ cứng nhắc. Mạnh Tử cũng nói, tuyệt đối không được u mê chấp nhất không chịu tỉnh ngộ, nhất định phải biết giữ gìn nguyên tắc và uyển chuyển biến thông. Chữ "kinh" chỉ quy tắc, quy phạm, chữ "quyền" (quyền) chỉ sự biến thông. Con người kiên trì nguyên tắc là không sai, nhưng khi làm việc cụ thể, cũng phải biết cách biến hóa linh hoạt. Bằng không nếu bạn cứ khăng khăng ôm lấy nguyên tắc, mà không biết linh hoạt biến thông, thì đến cuối cùng e là sẽ lâm vào cảnh trắc trở khó đi. Trong "Mạnh Tử" có một đoạn câu chuyện như thế này: Thuần Vu Côn viết: Nam nữ thụ thụ bất thân, lễ dữ?

Mạnh Tử viết: Lễ dã.

Viết: Tẩu nịch, tắc viện chi dĩ thủ hồ?

Viết: Tẩu nịch bất viện, thị sài lang dã. Nam nữ thụ thụ bất thân, lễ dã; tẩu nịch viện chi dĩ thủ giả, quyền dã. ("Mạnh Tử - Ly Lâu Thượng") Thuần Vu Côn nói: "Nam nữ trao nhận đồ vật không chạm tay nhau, đó là quy định của lễ chế phải không?"

Mạnh Tử nói: "Là quy định của lễ chế."

Thuần Vu Côn nói: "Nếu chị dâu rơi xuống nước, thì có dùng tay để kéo lên không?"

Mạnh Tử nói: "Chị dâu rơi xuống nước mà không kéo, thì chính là loài sài lang. Nam nữ trao nhận đồ vật không chạm tay nhau, đó là lễ; chị dâu rơi xuống nước mà dùng tay kéo, đó là sự biến thông."

Thuần Vu Côn là một nhà biện luận nổi tiếng nước Tề. Quy định lễ chế thời cổ đại là nam nữ bình thường không được tiếp xúc với nhau, ví dụ như đưa một quyển sách cho một cô gái, không được trực tiếp đưa tận tay, mà phải đặt lên bàn, bảo cô ấy tự tới lấy, để tránh việc tay chạm tay. Hơn nữa không chỉ nam nữ xa lạ nam nữ thụ thụ bất thân, mà thậm chí chú em và chị dâu gặp mặt cũng không được nói chuyện nhiều. Bởi vì người thời xưa sống chung trong một đại gia đình, phải nghiêm ngặt phòng bị bất kỳ sự hiểu lầm nào có thể xảy ra giữa nam và nữ. Thuần Vu Côn liền hỏi, giả sử chị dâu rơi xuống nước sắp chết đuối, tôi là người em chồng này rốt cuộc có nên dùng tay để kéo cô ấy lên hay không? Ý là, một mặt cô ấy là nữ giới, mặt khác cô ấy lại là chị dâu của mình, chịu sự ràng buộc kép, nên phải làm sao đây? Mạnh Tử nói, chị dâu rơi xuống nước mà không cứu kéo lên, thì quả thực là loài dã thú sài lang, hoàn toàn không có tính người; bởi vì một cô gái không quen biết rơi xuống nước còn nên cứu kéo lên huống chi là người thân ruột thịt của mình? Sao bạn lại có thể vì giữ gìn quy định của lễ mà nhẫn tâm nhìn người thân chết đuối cơ chứ, đây há chẳng phải là loài sài lang tàn ác hay sao? Mạnh Tử nói, nam nữ thụ thụ bất thân, đó là lễ; chị dâu rơi xuống nước thì dùng tay kéo, đó là quyền biến. Bởi vì lúc này cứu người là quan trọng hàng đầu, nên uyển chuyển linh hoạt tùy theo hoàn cảnh, không cần phải câu nệ lễ giáo cổ xưa.

Con người sống trên đời, có đủ mọi loại quy phạm khác nhau, những quy phạm này duy trì trật tự của xã hội, nhưng hoàn cảnh thực tế của mỗi người lại hoàn toàn khác nhau, cho nên phải bồi dưỡng trí tuệ phán đoán, vừa có thể tuân thủ thông lệ, vừa có thể làm được sự biến thông. Tỷ như một chàng nam thanh niên đang đi trên đường, bên cạnh có một cô gái đi tới, phía sau đột nhiên có chiếc xe lao đến, lúc này để cứu cô gái đó, phải kéo giật cô ấy lại một cái. Lúc ấy, cô gái không những không trách bạn kéo mình, mà còn vô cùng cảm kích vì bạn đã cứu cô ấy. Ngược lại, nếu phía sau không có xe, cũng không có bất kỳ nguy hiểm nào, bạn đột nhiên sấn tới kéo người ta, chẳng phải biến thành quấy rối tình dục hay sao? Cho nên quy định của lễ nghi là một trạng thái thông thường, là những việc không được phép làm trong hoàn cảnh bình thường, nhưng hễ đụng phải tình huống bất thường, thì phải biết cách biến thông. Giống như chúng ta học ngữ pháp vậy, những người học ngoại ngữ đều biết rằng, một số cách dùng quen thuộc hàng ngày không hề phù hợp với quy định ngữ pháp, thế nhưng người ta vẫn cứ dùng như thường.

Thứ hai, ý nghĩa ban đầu của chữ "lễ" là cung cấp một bộ quy phạm xã hội, khiến cho cảm xúc bên trong của chúng ta có được phương thức biểu đạt. Thế nhưng, lễ một khi đã hình thành rồi, cũng có thể trở thành gông cùm xiềng xích, khắp nơi kìm kẹp con người, cho nên chữ "lễ" nhất định phải có chữ "nhân" xuất phát từ nội tâm làm nền tảng. Mà "nhân" lại xuất phát từ cảm xúc chân thật, hai điều này kết hợp lại với nhau, mới có thể khiến hành vi của một người vừa vặn thích hợp. Khổng Tử nói: "Nhân nhi bất nhân, như lễ hà?" Lễ bắt buộc phải lấy tâm ý chân thành của con người làm tiền đề. Mạnh Tử nhấn mạnh "chấp trung vô quyền, do chấp nhất dã", khi đưa ra lập trường bắt buộc phải cân nhắc nặng nhẹ, hiểu được sự biến thông, bằng không sẽ vì sợ nghẹn mà bỏ ăn, thành ra cứng nhắc xơ cứng.

Cho nên, tư tưởng của Nho gia vừa có nguyên tắc, lại vừa có thể biến thông, trong đó đòi hỏi sự phán đoán đầy trí tuệ, mà nền tảng của sự phán đoán lại nằm ở lương tri chân thành. Trong Phật giáo cũng có một câu chuyện tương tự. Lão hòa thượng cõng tiểu hòa thượng qua sông, đụng phải một vị nữ thí chủ muốn qua sông nhưng lại không dám qua, lão hòa thượng chủ động cõng cô ta qua sông, sau đó thả nữ thí chủ xuống, tiếp tục lên dọc đường. Tiểu hòa thượng liền hỏi, sư phụ, ngài phạm giới rồi, sao lại cõng phụ nữ thế kia? Lão hòa thượng đáp, ta cõng qua sông xong là đã đặt xuống rồi, cậu đến tận bây giờ mà vẫn chưa buông xuống sao! Tư tưởng của Nho gia cũng giống như vậy, tôi thành tâm muốn giúp đỡ người khác, chỉ xem họ có cần giúp đỡ hay không, chứ không hỏi họ là giới tính gì, thân phận gì, vai trò gì, địa vị gì. Trong lúc cấp bách hoạn nạn, mỗi một người đều nên chân thành chìa bàn tay giúp đỡ, đối với người khác, đối với người trong thiên hạ đều giống nhau cả.

Ở phần cuối của đoạn đối thoại này, Thuần Vu Côn lại hỏi Mạnh Tử rằng: "Kim thiên hạ nịch hĩ, phu thiên tử bất viện, hà dã?" Bây giờ người trong thiên hạ đều rơi xuống nước cả rồi, ngài lại không chịu chìa tay cứu giúp, là tại sao vậy? Tương đương với việc hắn ta biết Mạnh Tử là một nhân tài, có bản lĩnh lớn. Bây giờ chính trị thiên hạ bại hoại, thế sự vô đạo, hắn ta trách móc sao Mạnh Tử không chịu ra tay cứu giúp. Mạnh Tử đáp: "Thiên hạ nịch, viện chi dĩ đạo, tẩu nịch, viện chi dĩ thủ, tử dục thủ viện thiên hạ hồ?" Người trong thiên hạ rơi xuống nước, phải dùng chính đạo tức là "nhân chính" để cứu; chị dâu rơi xuống nước, phải dùng tay để cứu. Chẳng lẽ anh muốn dùng tay để cứu người trong thiên hạ hay sao? Nói cách khác, quốc quân bắt buộc phải thức tỉnh, trọng dụng nhân tài đến giúp sức, thực thi các biện pháp đúng đắn, cải thiện đời sống của bách tính, thì mới có thể cứu được thiên hạ. Nhưng Mạnh Tử chỉ là một học giả, quốc quân không trọng dụng ông, không cho ông sự tín nhiệm, không trao cho ông quyền lực, ông không tài nào làm được những chuyện mang lại phúc lợi cho bách tính, việc này đã vượt quá năng lực của ông rồi. Mạnh Tử dùng ví dụ này để giải thích rằng, suy nghĩ của Thuần Vu Côn quá ư ngây thơ, quá ư nông cạn hẹp hòi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.