Những Thành Phố Giấy

Lượt đọc: 303 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
20.

❊ ❊ ❊

Suốt đêm thứ Tư, và cả ngày thứ Năm, tôi cố gắng tận dụng những hiểu biết mới của tôi về Margo để rút ra ý nghĩa nào đó từ những manh mối đã có–mối liên hệ giữa tấm bản đồ và những cuốn sách du lịch, hoặc giữa Whitman và tấm bản đồ, những liên hệ sẽ khiến tôi hiểu được phiêu-du-ngữ của cô ấy. Nhưng tôi càng cảm thấy rõ hơn rằng có lẽ niềm hân hoan của sự ra đi đã cuốn hút Margo đến mức cô ấy không thực sự để tâm rắc một dải vụn bánh mì hoàn chỉnh. Nếu đúng như vậy, tấm bản đồ Margo không định để cho bọn tôi phát hiện ra có thể là cơ hội khả quan nhất để tìm thấy cô ấy. Nhưng không có địa điểm nào trên bản đồ đủ chính xác. Ngay cả Catskill Park, chỗ khiến tôi chú ý vì là nơi duy nhất không ở trong hoặc gần thành phố lớn, vẫn quá rộng lớn, quá đông đúc để đi tìm một cá nhân duy nhất. “Tự khúc” dẫn đến những nơi ở thành phố New York, nhưng có quá nhiều địa điểm phải lần theo. Làm thế nào xác định được một điểm trên bản đồ khi điểm ấy dường như luôn di chuyển từ thị thành này sang thị thành khác?

Sáng thứ Sáu, tôi đã dậy và đang lật giở các cuốn hướng dẫn du lịch thì bố mẹ vào phòng tôi. Cả hai hiếm khi cùng vào phòng tôi một lúc, tôi chớm cảm thấy nhộn nhạo trong người–hay là có tin không hay về Margo–rồi chợt nhớ ra hôm nay là ngày tôi tốt nghiệp.

“Sẵn sàng chưa con giai?”

“Rồi ạ. Cũng không có gì linh đình lắm, nhưng sẽ vui ạ.”

“Con chỉ tốt nghiệp phổ thông có một lần trong đời thôi đấy,” mẹ nói.

“Vâng,” tôi đáp. Bố mẹ ngồi xuống mép giường và nhìn tôi. Cả hai khúc khích liếc nhau. “Có chuyện gì thế ạ?” tôi hỏi.

“Chà, bố mẹ muốn tặng quà tốt nghiệp cho con,” mẹ nói. “Quentin à, bố mẹ thực sự tự hào về con lắm. Con là bảo bối quí giá nhất trong đời bố mẹ, hôm nay là một ngày trọng đại với con, và bố mẹ–Con thực sự là một chàng trai tốt đấy.”

Tôi mỉm cười và nhìn xuống. Và rồi bố rút ra một hộp quà rất nhỏ, được bọc bằng giấy gói màu xanh da trời.

“Không,” tôi thốt lên, vội cầm lấy nó.

“Mở ra đi con trai.”

“Không thể nào,” tôi nói, vẫn chằm chằm nhìn cái hộp. Kích cỡ một chiếc chìa khóa. Trọng lượng một chiếc chìa khóa. Tôi lắc lắc, cái hộp lọc xọc tiếng một chiếc chìa khóa. “Mau mở đi con,” mẹ giục tôi.

Tôi xé giấy bọc. MỘT CHIẾC CHÌA KHÓA! Tôi xem kĩ. Chìa khóa xe Ford! Nhà tôi không có cái Ford nào. “Bố mẹ mua xe cho con ạ?”

“Ừ,” bố nói. “Không phải xe mới tinh–nhưng mới chạy có hai năm và đi khoảng hai mươi ngàn dặm thôi.”

Tôi nhảy cẫng lên ôm cả bố lẫn mẹ. “Của con ạ?”

“Ừ!” mẹ suýt hét lên. Tôi có xe! Một cái xe ô-tô! Của riêng tôi!

Tôi gỡ mình ra khỏi bố mẹ và hét toáng lên “cảm ơn bố cảm ơn mẹ cảm ơn bố cảm ơn mẹ cảm ơn bố cảm ơn mẹ” trong khi chạy vù qua phòng khách, mở vèo cửa trước, trên người chỉ có cái áo phông cũ và quần đùi. Kia, đỗ ở lối đi và được thắt một cái nơ xanh da trời bự chảng, là một chiếc Ford minivan.

Bố mẹ cho tôi một chiếc minivan. Bố mẹ có thể chọn bất cứ loại xe nào, và đã chọn minivan. Một chiếc minivan. Ôi thưa Thần Công Lí Xe Cộ, sao ngài đùa dai với con vậy? Minivan, mi là cái gông đeo cổ, là nỗi xấu hổ không trôi! Mi là đồ quái vật trần cao lênh khênh mã lực thấp tè!

Tôi nặn ra một vẻ mặt quả cảm và quay lại. “Con cảm ơn bố, con cảm ơn mẹ ạ!” tôi nói, dù giọng nói hơi kém nồng nhiệt vì tôi hoàn toàn đang diễn.

“Bố mẹ để ý con rất thích lái xe của mẹ,” mẹ nói. Bố mẹ tôi cười rạng rỡ–rõ là hoàn toàn tin tưởng rằng mình đã trao cho thằng con phương tiện đi lại mơ ước của đời nó. “Chơi bời loanh quanh với bạn bè sẽ vui lắm đấy!” bố nói thêm. Và hãy nghĩ xem: chuyên môn chính của hai vị này là phân tích và thấu hiểu tâm lí con người đấy.

“Chà,” bố nói, “ta nên đi sớm thì mới có chỗ ngồi tốt được.”

Tôi chưa tắm rửa thay quần áo, chưa bất cứ gì cả. Ờ, như vậy không có nghĩa là tôi sẽ thực sự mặc đồ, nhưng vẫn cần thời gian chứ. “Mười hai rưỡi con mới phải có mặt,” tôi nói. “Con cần chuẩn bị nữa ạ.”

Bố nhíu mày, “Ừ, nhưng bố muốn ngồi chỗ có tầm nhìn tốt để chụp–”

Tôi ngắt lời bố, “Con TỰ ĐI được ạ,” tôi nói. “Con có thể TỰ LÁI XE CỦA CON đến trường mà,” tôi cười toe toét.

“Mẹ biết rồi!” mẹ cũng rất vui. Trời đất quỉ thần ơi, dù gì thì một cái ô-tô là một cái ô-tô. Lái minivan của tôi chắc chắn là một bước tiến so với lái minivan của người khác.

Tôi quay lại máy tính, khoe ngay với Radar và Lacey (Ben không trực tuyến) về chiếc minivan.

CÔNGDÂNCỦATOÀNTHƯ96: Tin quá tốt đấy! Tôi qua bỏ nhờ cái thùng giữ lạnh vào sau xe ông được không? Tôi phải đưa bố mẹ đến lễ tốt nghiệp và không muốn hai vị nghía thấy cái thùng đó.

QKẺHỒISINH: Được, xe không khóa đâu. Thùng giữ lạnh để làm gì vậy?

CÔNGDÂNCỦATOÀNTHƯ96: Ờ, hôm tiệc ở nhà tôi chả có ai uống bia, vẫn còn 212 chai, mang đến nhà Lacey cho cậu ấy mở tiệc tối nay luôn.

QKẺ HỒI SINH: 212 chai bia?

CÔNGDÂNCỦATOÀNTHƯ96: Cái thùng to đấy.

Ben vào mạng, GÀO THÉT rằng nó đã tắm rửa tinh tươm, nhân trần như nhộng và chỉ cần đội mũ, tròng áo chùng vào nữa thôi. Bọn tôi tán hươu tán vượn về lễ tốt nghiệp nhân trần. Sau khi cả lũ đều đã thoát khỏi mạng để đi chuẩn bị, tôi vào phòng tắm, đứng thẳng để nước bắn trực tiếp lên mặt, bắt đầu suy nghĩ trong khi nước vẫn xối. New York hay California? Chicago hay D.C.? Bây giờ mình cũng có thể đi được rồi, tôi nghĩ. Tôi có xe, như cô ấy cũng có một chiếc. Tôi có thể đến cả năm điểm trên bản đồ, dù có thể không tìm được cô ấy, thì cũng vui hơn một mùa hè nóng chảy nước ở Orlando. Nhưng không. Giống như lẻn vào SeaWorld vậy. Cần lập kế hoạch tỉ mỉ, cần thực thi kế hoạch một cách xuất sắc, rồi sau đó–không gì cả. Và cũng giống như SeaWorld, trừ chuyện tối hơn. Margo đã nói với tôi: phần vui nhất không nằm ở khâu thực thi; phần vui nhất là chính quá trình lên kế hoạch.

Đó là những điều tôi đã nghĩ khi đứng dưới vòi hoa sen: quá trình lên kế hoạch. Margo ngồi trong khu mua sắm mini với cuốn sổ tay, vạch ra các kế hoạch. Có thể cô ấy đang sắp xếp một hành trình đi bằng ô-tô, dùng tấm bản đồ để hình dung các tuyến đường. Cô ấy đọc Whitman và đánh dấu “Ta dấn mình vào chuyến đi miên viễn,” vì đó là thể loại việc cô ấy thích tưởng tượng mình đang làm, thể loại việc cô ấy thích lên kế hoạch.

Nhưng đó có phải thể loại việc cô ấy thích thực sự thực hiện không? Không. Vì Margo biết bí mật của sự ra đi, cái bí mật tôi vừa mới hiểu được: sự ra đi chỉ tuyệt diệu và thuần khiết khi ta rời bỏ điều gì đó quan trọng, điều gì đó có ý nghĩa với ta. Kéo bật sự sống lên từ gốc rễ. Nhưng ta không thể làm như vậy cho đến khi cuộc đời ta đã bén rễ.

Thế nên khi Margo ra đi, cô ấy ra đi mãi mãi. Nhưng tôi không tin rằng cô ấy ra đi vì một hành trình miên viễn. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng cô ấy ra đi để đến một nơi–nơi cô ấy có thể ở lại đủ lâu để chỗ đó trở nên có ý nghĩa, đủ lâu để lần ra đi sau cũng đem lại cảm giác tuyệt diệu như lần ra đi trước. Có một góc trên thế gian này, đâu đó cách xa đây, nơi không ai biết “Margo Roth Spiegelman” nghĩa là gì. Và Margo đang ngồi ở góc đó, đang viết vào cuốn sổ màu đen của cô ấy.

Nước bắt đầu lạnh. Còn chưa động đến bánh xà-phòng, nhưng tôi đi ra, cuốn khăn bông quanh hông và ngồi xuống bên máy tính.

Tôi mò lại e-mail Radar gửi chương trình trong Toàn Thư Đủ Thứ của nó, tải về máy mình. Chương trình chạy rất ổn. Đầu tiên, tôi gõ mã vùng khu trung tâm Chicago, chọn “địa điểm”, và tìm trong bán kín hai mươi dặm. Ra cả trăm câu trả lời, từ Navy Pier đến Deerfield. Câu đầu tiên của mỗi bài viết hiện lên màn hình của tôi, tôi đọc lướt qua mất chừng năm phút. Không có gì nổi bật. Tôi thử tiếp bằng một mã vùng gần Catskill Park ở New York. Lần này có ít trả lời hơn, tám mươi hai, sắp xếp theo ngày tháng bài viết được tạo ra trong Toàn Thư Đủ Thứ. Tôi bắt đầu đọc: Woodstock, bang New York, là một thành phố ở hạt Ulster, New York, có lẽ được biết đến nhiều nhất nhờ cuộc hòa nhạc cùng tên [xem Hòa nhạc Woodstock] năm 1969, một sự kiện kéo dài ba ngày, với sự tham gia của các nghệ sĩ từ Jimi Hendrix đến Janis Joplin, thực tế diễn ra ở một thành phố gần đó. Hồ Katrine là một hồ nhỏ thuộc hạt Ulster, New York, thường được Henry David Thoreau ghé thăm. Catskill Park rộng 2.800 cây số vuông, nằm trên dãy núi Catskill, do chính phủ liên bang và chính quyền địa phương đồng quản lí, bao gồm 5 phần trăm cổ phần của thành phố New York; một phần nước sinh hoạt cho thành phố được lấy từ các hồ ở Catskill Park. Roscoe, bang New York, là một khu dân cư nhỏ, theo điều tra dân số gần đây gồm 261 hộ gia đình. Agloe, bang New York, là một ngôi làng không có thật, do công ti Esso đưa ra vào đầu những năm 1930 và xuất hiện trong các bản đồ du lịch, đóng vai trò là một cái bẫy bản quyền, hoặc một thành phố giấy.

Tôi nhấn vào đường dẫn để đọc toàn bài, tiếp tục là:

Nằm ở giao lộ của hai con đường đất về phía bắc Roscoe, NY, Agloe là sản phẩm của các nhà làm bản đồ Otto G. Lindberg và Ernest Alpers, họ đã tạo ra tên Agloe bằng cách ghép các chữ cái đầu trong tên mình lại. Các bẫy bản quyền xuất hiện trong ngành làm bản đồ từ nhiều thế kỉ nay. Các nhà bản đồ học tạo ra những địa điểm, phố và thành phố không có thật, đặt vào những chỗ khó tìm trên bản đồ của họ. Nếu những địa danh không có thật đó được tìm thấy trên bản đồ của một người làm bản đồ khác, chắc chắn rằng một tấm bản đồ đã nghiễm nhiên bị sao chép trái phép. Bẫy bản quyền cũng được gọi là bẫy khóa, phố giấy, và thành phố giấy [xem những tra cứu không có thật]. Dù chỉ một số đơn vị làm bản đồ ghi nhận sự tồn tại của các bẫy bản quyền, những bẫy này vẫn là một đặc điểm phổ biến trong các bản đồ ngày nay.

Trong những năm 1940, Agloe, New York, bắt đầu xuất hiện trên bản đồ của các công ti khác. Esso nghi ngờ có hiện tượng vi phạm bản quyền và chuẩn bị thủ tục tố tụng, nhưng trên thực tế, một người dân không rõ danh tính đã xây một “Hiệu Tạp Hóa Agloe” tại giao lộ xuất hiện trong bản đồ của Esso.

Căn nhà này, hiện vẫn tồn tại [cần trích nguồn], là công trình duy nhất tại Agloe, tiếp tục xuất hiện trên nhiều bản đồ và thường kèm thống kê dân số là không.

Mỗi bài trong Toàn Thư Đủ Thứ đều có trang phụ để xem tất cả các lượt sửa chữa, biên tập được thực hiện, và bất cứ bình luận nào của các thành viên Toàn Thư về bài viết đó. Bài về Agloe không được chỉnh sửa gì từ gần một năm nay, nhưng mới đây có một bình luận của một người truy cập ẩn danh.

Để biết, cho bất cứ ai Biên tập bài này–dân Số agloe thực tế Là Một tính đến Trưa ngày 29 tháng năm.

Tôi lập tức nhận ra kiểu viết hoa này. Quy tắc viết hoa thông thường rất bất công với các từ không đứng đầu câu. Cổ họng đột nhiên cứng lại, nhưng tôi bắt bản thân phải bình tĩnh lại. Bình luận được viết cách đây mười lăm ngày. Nó đã luôn ở đó, đợi tôi. Nhìn đồng hồ ở máy tính, tôi chỉ còn chưa đến hai mươi tư tiếng nữa.

Lần đầu tiên từ mấy tuần nay, Margo trở nên hoàn toàn, không thể phủ nhận được, sống động đối với tôi. Cô ấy còn sống. Ít nhất thêm một ngày nữa, cô ấy vẫn còn sống. Tôi đã chú tâm quá lâu đến những lang bạt của Margo, để không bị ám ảnh trong mớ bòng bong băn khoăn không biết cô ấy còn sống hay không, lâu đến mức tôi không nhận ra rằng mình đã cảm thấy sợ hãi chừng nào, cho đến lúc này. Ôi, ơn Chúa. Cô ấy còn sống.

Tôi nhảy lên, kệ chiếc khăn bông rơi xuống, gọi điện ngay cho Radar. Tôi kẹp điện thoại vào hõm cổ trong khi tròng quần lót và quần soóc vào người. “Tôi biết những thành phố giấy nghĩa là gì rồi! Ông có máy tính cầm tay ở đó không?”

“Có. Ông rất nên có mặt ở đây rồi đấy. Họ sắp bắt bọn mình xếp hàng rồi.”

Tôi nghe thấy Ben gào qua điện thoại. “Bảo nó diện nhân trần không áo chùng thì hơn!”

“Radar,” tôi gọi, cố gắng để nó hiểu được tính hệ trọng của vấn đề. “Hãy tra trang viết về Agloe, New York đi. Được chứ?”

“Ừ. Đang đọc. Đợi đã. Ôi. Ôi. Chắc là lỗ ghim ở Catskill trên bản đồ đúng không?”

“Đúng, tôi cũng nghĩ thế. Rất gần mà. Xem tiếp phần thảo luận đi.”

“...”

“Radar?”

“Ôi Chúa ơi.”

“Tôi biết, tôi biết!” tôi hét lên. Tôi không nghe nó trả lời vì phải mặc vội áo phông, nhưng khi áp lại điện thoại vào tai, tôi chỉ nghe thấy tiếng Radar đang nói với Ben.

Tôi ngắt luôn.

Quay lại máy tính, tôi tìm chỉ dẫn lái xe từ Orlando đến Agloe, nhưng hệ thống bản đồ chưa bao giờ biết đến Agloe, nên tôi thay bằng Roscoe. Với tốc độ trung bình sáu mươi lăm dặm một giờ, máy tính nói chuyến đi cần mười chín tiếng và bốn phút. Đang là hai giờ mười lăm phút. Tôi có hai mươi mốt tiếng và bốn mươi lăm phút để đến đó. Tôi in bản hướng dẫn ra, vớ chìa khóa chiếc minivan, quay lưng khóa cửa trước.

“Đi mất mười chín tiếng bốn phút,” tôi nói vào điện thoại di động. Bên kia là di động của Radar, nhưng Ben đang nói.

“Ông định thế nào?” nó hỏi. “Có bay đến không?”

“Không, tôi không đủ tiền, mà chỗ đó cũng cách thành phố New York khoảng tám tiếng. Cho nên tôi sẽ lái xe đi.”

Đột nhiên Radar lấy lại điện thoại. “Đi mất bao lâu?”

“Mười chín tiếng bốn phút.”

“Ai nói vậy?”

“Google Maps.”

“Không ổn,” Radar nói. “Những chương trình bản đồ đó đều không tính đến giao thông. Tôi sẽ gọi lại. Ông nhanh lên. Đang phải xếp hàng rồi đấy!”

“Tôi không đến đâu. Không thể hên xui với thời gian được,” tôi nói, nhưng chỉ có không khí nghe.

Một phút sau Radar gọi lại. “Nếu tốc độ trung bình là sáu mươi lăm dặm một giờ, không dừng, và tính trên lưu lượng giao thông trung bình, sẽ mất hai mươi ba tiếng chín phút. Như vậy ông sẽ đến nơi sau một giờ chiều, cho nên phải vừa đi vừa bù thời gian.”

“Sao cơ? Nhưng–”

Radar ngắt lời tôi, “Tôi không phê bình gì đâu, nhưng có lẽ với vấn đề cụ thể này, người đi muộn kinh niên cần nghe người luôn đúng giờ. Nhưng ông sẽ phải qua đây ít nhất một giây, nếu không bố mẹ ông sẽ tá hỏa khi tên ông được gọi mà không thấy người đâu. Vả lại, dù đây không phải vấn đề quan trọng nhất, tiện thì tôi nói luôn–tất cả bia của bọn tôi ở trong xe ông đó.”

“Cơ mà tôi không có thời gian,” tôi đáp.

Ben ghé vào điện thoại. “Đừng có mà xuẩn thế. Chỉ mất có năm phút thôi.”

“Thôi đành.” Tôi vượt một đèn vừa chuyển sang đỏ, phóng thật nhanh–xe này tăng tốc tốt hơn xe mẹ, nhưng chỉ hơn chút xíu thôi–đến trường. Tôi đến được bãi đỗ xe của khu thể thao đa năng sau ba phút. Tôi không lái vào chỗ đỗ hẳn hoi mà chỉ dừng xe giữa bãi và nhảy ra. Đang chạy về phía nhà tập đa năng, tôi thấy ba người mặc áo chùng chạy lại phía mình. Có thể thấy ngay hai cẳng chân như hai ống sậy sẫm màu của Radar dưới áo chùng phấp phới, Ben chạy ngay cạnh, đi giày thể thao không tất. Lacey chạy phía sau.

“Các ông lấy bia ra đi,” tôi vừa nói vừa chạy qua chúng nó. “Tôi vào báo cáo bố mẹ.”

Người nhà của học sinh năm cuối ngồi theo các dãy ghế khán giả. Tôi chạy tới chạy lui trong sân bóng rổ mới thấy bố mẹ ngồi ở lưng chừng khán đài. Cả hai đang vẫy tôi. Tôi nhảy hai bậc thang một lên nên hơi hổn hển khi cúi xuống chỗ bố mẹ và nói, “Thế này ạ, con sẽ không [thở] ra khi được gọi, vì con [thở] nghĩ đã tìm thấy Margo và [thở] phải đi ngay, con bật điện thoại di động [thở] bố mẹ đừng cáu, con cảm ơn bố mẹ vì cái xe.”

Mẹ nắm lấy cổ tay tôi, hỏi, “Sao thế? Con đang nói chuyện gì thế hả Quentin? Bình tĩnh đã nào.”

Tôi nói tiếp, “Con sẽ đến Agloe, New York, và con phải đi ngay. Tất cả chỉ có thế thôi ạ. Thế, con đi đây ạ, còn ít thời gian lắm. Con có mang theo di động. Thế ạ, con yêu bố mẹ.”

Tôi phải rút ngay khỏi bàn tay đang nắm hờ của mẹ. Trước khi bố mẹ kịp nói gì, tôi đã sải chân chạy xuống cầu thang, lao trở ra xe. Tôi vào xe, khởi động và chuẩn bị lăn bánh, nhìn sang thì thấy Ben đang ngồi trên ghế cạnh lái xe.

“Lấy thùng bia rồi ra khỏi xe đi!” tôi nói lớn.

“Bọn này đi luôn,” nó nói. “Lái đường trường như vậy thì ông sẽ ngủ gật cho coi.”

Tôi quay ra sau, Lacey và Radar đều đang áp điện thoại vào tai. “Sắp báo với bố mẹ,” Lacey giải thích, nhịp tay lên điện thoại. “Kìa Q. Đi thôi đi thôi đi thôi.”

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của John Green

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.