Những Thành Phố Giấy

Lượt đọc: 249 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
17.

❊ ❊ ❊

Thứ Sáu, lúc mẹ đi làm về, tôi báo cáo là sẽ đi xem ca nhạc với Radar, nhưng rồi dong xe chạy thẳng ra vùng nông thôn, hạt Seminole, tới Collier Farms. Tất cả các tiểu khu khác trong tập quảng cáo rút cục đều đã được hoàn thiện–đa phần nằm ở phía bắc thành phố, khu vực được phát triển hoàn toàn từ cách đây rất lâu rồi.

Tôi nhận ra lối rẽ vào Collier Farms chỉ vì tôi đã thành chuyên gia xác định những con đường lờ mờ lẫn vào đất. Nhưng Collier Farms không giống khu đô thị ma nào tôi từng đến. Nơi này cỏ dại mọc um tùm, như thể đã bị bỏ hoang năm chục năm nay rồi. Không rõ thâm niên nơi này có cao hơn những đô thị ma khác không, hay do địa thế thấp, đất đầm lầy ẩm mà mọi thứ mọc nhanh hơn. Tôi vừa rẽ đã thấy không thể đi tiếp được theo đường vào Collier Farms vì những bụi mâm xôi đâm lên um tùm chắn hết lối đi.

Tôi xuống cuốc bộ. Cỏ lác quệt vào ống chân tôi, đôi giày thể thao dận xuống bùn theo mỗi bước đi. Tôi không thể không hi vọng rằng Margo dựng một căn lều ở đâu đó, trên một vạt đất nhỏ nhắn cao hơn những thứ khác chừng nửa mét và không bị úng nước mưa. Tôi đi từ từ, vì nơi này cần được quan sát nhiều hơn những nơi khác, vì có nhiều chỗ trú ẩn hơn, và vì tôi biết khu đô thị ma này có liên hệ trực tiếp với khu mua sắm mini. Mặt đất rất dày, tôi đi thật chậm để thu vào tầm mắt từng cảnh quan mới, kiểm tra những chỗ đủ lớn để chứa được một người. Đến cuối phố, tôi thấy một hộp các-tông màu xanh da trời và trắng trên đất bùn, trong tích tắc trông nó rất giống hộp đựng thanh dinh dưỡng tổng hợp tôi đã thấy trong khu mua sắm mini. Nhưng, không. Đó là cái hộp cũ nát, loại đựng mười hai chai bia. Tôi chật vật quay lại xe, đi về phía bắc, đến một nơi tên là Logan Pines.

Đường đi mất một tiếng đồng hồ, giờ tôi đang ở mạn gần rừng quốc gia Ocala, không thực sự còn nằm trong khu vực có tàu điện ngầm Orlando nữa. Tôi còn cách vài dặm thì Ben gọi điện.

“Có chuyện gì đấy?”

“Ông đang đến những thành phố giấy đấy phỏng?” Ben hỏi.

“Ừ, tôi gần đến nơi cuối cùng mà tôi biết rồi. Chưa có gì.”

“Vậy bồ tèo nghe đây, bố mẹ của Radar phải ra khỏi thành phố vì công chuyện cực kì đột xuất.”

“Tất cả vẫn ổn chứ?” tôi hỏi, biết rằng ông bà của Radar đã rất cao tuổi và sống trong một khu điều dưỡng ở Miami.

“Ổn, chuyện là: ông có nhớ ông cụ ở Pittsburgh có bộ sưu tập ông già Noel da đen đồ sộ thứ nhì thế giới không?”

“Ừ, sao?”

“Cụ ấy vừa thăng rồi.”

“Đùa à?”

“Này, tôi không đùa về chuyện sinh tử của những nhà sưu tầm ông già Noel da đen đâu. Cụ ấy bị chứng phình động mạch. Bố mẹ Radar đang trên đường bay tới Pennsylvania tìm cách mua lại bộ sưu tập của ông cụ. Thế là chúng ta sẽ có mấy vị khách.”

“Chúng ta là ai?”

“Ông, tôi, và Radar. Bọn mình là chủ.”

“Tôi chưa biết được,” tôi nói.

Im lặng một hồi, rồi Ben réo nguyên tên tôi, “Quentin,” nó nói, “tôi biết ông muốn tìm Margo. Tôi biết Margo là điều quan trọng nhất với ông. Như thế đáng mặt đấy. Nhưng còn một tuần nữa là cả lũ tốt nghiệp. Tôi không bảo ông hãy từ bỏ cuộc tìm kiếm. Tôi mời ông hãy đến dự tiệc với hai cạ cứng mà ông đã quen biết trong phân nửa cuộc đời. Tôi mời ông hãy dành khoảng hai, ba tiếng đồng hồ nhâm nhi mấy món đồ uống ngọt ngọt lạnh lạnh hơi hơi vị rượu, như một cô bé ngoan, và khoảng hai, ba tiếng đồng hồ nữa ói món đồ uống trên qua đằng mũi. Rồi xin mời ông tiếp tục điều tra các dự án nhà bỏ hoang.” Tôi thấy khó chịu vì Ben chỉ muốn nói đến Margo khi có mùi phiêu lưu thu hút nó, vì nó nghĩ tôi có vấn đề khi chỉ biết có Margo mà quên cả bạn bè, dù cô ấy mất tích còn chúng nó thì không. Nhưng Ben là Ben, như Radar đã nói. Và dù sao sau Logan Pines, tôi cũng chẳng còn gì để tìm kiếm nữa. “Tôi đến khu cuối cùng này rồi sẽ qua chỗ các ông.”

Vì Logan Pines là đô thị ma cuối cùng ở Trung Florida– hoặc ít nhất là khu cuối cùng mà tôi biết–nên tôi đặt rất nhiều hi vọng vào nơi này. Nhưng khi cầm đèn pin đi quanh con phố cụt duy nhất, tôi không thấy căn lều nào. Không có dấu lửa nào. Không có bao bì thực phẩm. Không dấu tích của con người. Không Margo. Ở cuối con đường, tôi thấy một móng bê-tông duy nhất ăn vào đất. Nhưng không có gì được xây ở phía trên, chỉ có hố móng lõm xuống như cái miệng há hốc của một xác chết, cây gai và cỏ dại cao đến hông rối vào nhau đâm lên xung quanh. Nếu đúng là Margo muốn tôi thấy những nơi này, tôi cũng không hiểu tại sao cô ấy muốn vậy. Và nếu Margo đã đến những khu đô thị ma và không bao giờ trở lại, cô ấy biết một nơi mà những tìm kiếm của tôi đã không phát hiện ra được.

Mất một tiếng rưỡi lái xe về Jefferson Park, tôi về nhà cất xe, mặc áo phông có cổ và cái quần jeans đẹp nhất, rồi đi bộ qua Jefferson Way sang Jefferson Court, rẽ phải vào Jefferson Road. Có mấy chiếc xe đã đỗ dọc hai bên Jefferson Place, phố nhà Radar. Mới tám-giờ-bốn-mươi-lăm-phút.

Tôi mở cửa. Radar đón tôi, tay ôm đầy nhóc các ông già Noel da đen bằng thạch cao. “Phải cất những ông đẹp nhất đi,” nó nói. “Chúa cấm làm vỡ bất cứ ông nào.”

“Cần tôi giúp gì không?” tôi hỏi. Radar hất đầu về phía phòng khách. Trên các bàn kê dọc xô-pha có bày ba bộ búp bê làm tổ hình ông già Noel da đen. Trong khi lồng chúng vào nhau, búp bê nhỏ nằm gọn trong bụng búp bê lớn hơn, tôi không khỏi thán phục bộ búp bê rất đẹp–sơn thủ công và cực kì tinh tế. Nhưng tôi không dám hở ra với Radar vì sợ nó sẽ xử tôi tới chết bằng cây đèn hình ông già Noel da đen trong phòng khách.

Tôi mang bộ búp bê sang phòng ngủ dự phòng để Radar cẩn thận cất vào ngăn tủ. “Ông biết không, khi thấy tất cả các ông già Noel da đen này ở cùng một chỗ, điều đó thực sự khiến ta phải đặt câu hỏi về cách chúng ta tưởng tượng ra những giai thoại.”

Radar tròn mắt. “Ừ, tôi luôn tự đặt câu hỏi về cách tôi tưởng tượng ra các giai thoại của mình khi tôi ăn ngũ cốc Bùa May Mắn mỗi sáng bằng thìa có hình ông già Noel da đen.”

Bàn tay ai đó đặt lên vai tôi và xoay tôi lại. Là Ben, hai chân nó nhún nhảy chộn rộn trông như đang mắc tiểu. “Tụi tui hun nhau rùi. Lacey đã hôn tôi. Khoảng mười phút trước. Trên giường của bố mẹ Radar.”

“Gớm quá,” Radar nói. “Đừng có mà gặm nhau trên giường bố mẹ tôi chứ.”

“Ái chà chà, tôi hiểu là ông đã thạo rồi nhá,” tôi trêu.

“Đồ tú ông!”

“Thôi ngay, ghê răng quá!” Ben nói, nó nhìn tôi, gần như thẳng vào mắt, “Tôi không nghĩ mình làm tốt lắm.”

“Làm gì cơ?”

“Hun ấy mà. Nghĩ mà xem, suốt những năm tháng qua Lacey đã hôn nhiều hơn tôi rất nhiều. Tôi không muốn mình động khẩu dở ẹc đến mức làm cậu ấy đá tôi. Các cô gái chôn ông luôn đấy,” nó nói với tôi, điều đó tối đa chỉ đúng nếu định nghĩa các cô gái theo kiểu “các cô gái trong đội diễu hành.”

“Này ông, tôi đang hỏi xin lời khuyên đấy.”

Suýt chút nữa tôi đã khuấy động bầu nhặng xị vô đáy của Ben về những cách khác nhau nó thể áp dụng với các cô gái khác nhau, nhưng rồi tôi chỉ nói, “Theo thiển ý của tôi, có hai nguyên tắc căn bản: 1. Đừng cắn lung tung nếu không được phép, và 2. Lưỡi con người như mù tạt vậy: nồng nàn khó quên, nhưng sử dụng thận trọng thôi.”

Hai mắt Ben đột nhiên hoảng hốt sáng trưng lên. Tôi đỏ mặt nói, “Cậu ấy đang đứng sau tôi, phải không?”

“‘Lưỡi con người như mù tạt vậy,’” Lacey nhại tôi bằng thứ giọng trầm trầm đờ đẫn mà tôi hi vọng rằng không thực sự giống giọng tôi. Tôi quay lại. “Thực ra tớ thấy lưỡi Ben giống kem chống nắng,” Lacey nói tiếp. “Tốt cho sức khỏe và cần được áp dụng rộng rãi.”

“Tôi nôn trong chính miệng mình mất,” Radar rên rỉ.

“Lacey ơi, cậu vừa lấy đi ý chí tiến lên của tớ rồi,” tôi nói thêm.

“Giá mà tôi có thể ngăn được trí tưởng tượng của mình,” Radar nói.

Tôi tiếp, “Chính ý tưởng đó gây xúc phạm đến mức trên thực tế, đề cập đến cụm từ ‘lưỡi của Ben Starling’ trên truyền hình là hành vi phạm pháp.”

“Hình phạt đối với đối tượng vi phạm pháp luật là mười năm tù hoặc một chầu tắm lưỡi Ben Starling,” Radar tuyên án.

“Ai ai,” tôi nói.

“Cũng chọn,” Radar cười mím chi.

“Nhà tù,” bọn tôi cùng kết thúc.

Và rồi Lacey hôn Ben ngay trước mặt chúng tôi. “Chúa ơi,” Radar than, vắt cánh tay trước mặt. “Ôi Chúa ơi, con mù rồi, con mù rồi.”

“Thôi thôi,” tôi nói, “các cậu làm các ông già Noel da đen buồn đấy.”

Bữa tiệc khép lại ở phòng tiếp khách quí trên lầu hai nhà Radar, tất cả có hai mươi đứa. Tôi dựa vào tường, đầu cách bức chân dung ông già Noel da đen vẽ trên nhung vài phân. Nhà Radar có bộ xô-pha rất bự nên mọi người đều tụ tập quanh đó. Có bia trong thùng giữ lạnh cạnh ti-vi, nhưng không ai uống cả. Thay vào đó, hết đứa nọ đến đứa kia kể chuyện. Hầu hết tôi đã từng nghe rồi–những chuyện éo le dở khóc dở cười, chuyện về Ben Starling, chuyện nụ hôn đầu–nhưng Lacey chưa nghe chuyện nào, và dù sao đó đều là những chuyện rất vui. Tôi hầu như đứng ngoài cuộc cho đến khi bị Ben tóm gáy, “Q ơi, ông sẽ tốt nghiệp ra sao ta?”

Tôi mím chi nói, “Nhân trần dưới áo chùng.”

“Có thế chứ!” Ben nhấp một ngụm Dr Pepper.

“Đây sẽ không mang quần áo đâu, đừng tưởng đây sợ nhé,” Radar tuyên bố.

“Tôi cũng vậy! Q, ông thề là ông sẽ không mang quần áo theo đi.”

Tôi cười, “Long trọng xin thề.”

“Tôi nhập cuộc với!” Frank bạn của bọn tôi nói. Cứ thế càng có thêm mấy thằng con trai gia tăng quân số nhân trần dưới áo chùng. Tụi con gái có lí do để kháng cự.

Radar quay sang Angela, “Sự phủ quyết của cậu khiến tớ phải đặt dấu hỏi cho nền móng tình cảm của chúng ta.”

“Cậu chẳng hiểu gì cả,” Lacey nói. “Tụi này không sợ. Chỉ là tụi này đã chọn sẵn áo đầm để diện rồi.”

Angela chỉ vào Lacey, hưởng ứng ngay. “Chính xác.” Rồi Angela còn dặn, “Các cậu nên hi vọng hôm ấy trời đừng trở gió.”

“Tớ lại mong gió to,” Ben nói. “Không khí trong lành có lợi cho đôi bi bự nhất thế giới.”

Lacey che mặt xấu hổ. “Cậu là anh bạn trai khó nhằn,” Lacey nói. “Ra tấm ra món, nhưng khó nhằn.” Bọn tôi cười nghiêng ngả.

Đây là những gì tôi yêu nhất ở những người bạn của mình: chỉ ngồi với nhau và tán chuyện. Những câu chuyện cửa sổ và những câu chuyện gương soi. Tôi chỉ lắng nghe– những câu chuyện trong tâm trí tôi không vui vẻ rộn rã đến vậy.

Tôi không thể không nghĩ đến trường phổ thông và kết thúc của tất cả. Tôi thích chỉ đứng cạnh xô-pha và nhìn ngắm đám bạn–có vẻ hơi buồn một chút nhưng tôi thấy ổn, và tôi chỉ lắng nghe, mặc tất cả những niềm vui và nỗi buồn của kết cục này xoáy cuộn quanh tôi, cái này mài vào cái kia. Trong khoảnh khắc dài nhất, dường như lồng ngực tôi đang rạn mở, nhưng không phải là một cách không dễ chịu.

Tôi ra về trước nửa đêm. Mấy đứa khác ở lại muộn hơn, nhưng đó là giờ giới nghiêm của tôi, mà tôi cũng không muốn ở lại thêm. Mẹ lơ mơ ngủ trên xô-pha, nhưng nhỏm dậy khi thấy tôi. “Vui không con?”

“Dạ,” tôi đáp, “vui run cả người ạ.”

“Y như con nhỉ,” mẹ cười. Cảm giác đó làm tôi thấy phấn chấn, nhưng tôi không nói gì. Mẹ đứng dậy kéo tôi vào lòng, hôn lên má tôi. “Mẹ thích làm mẹ của con lắm.”

“Cảm ơn mẹ,” tôi nói.

Tôi leo lên giường với cuốn Whitman, giở đến đoạn tôi thích, khi ông ấy dành toàn bộ thời gian nghe opera và những người khác.

Sau tất cả những ngồi nghe ấy, ông viết, “Ta được phô bày... bị cắt rời trong mưa đá đắng độc.” Thật hoàn hảo, tôi nghĩ: mình lắng nghe người khác để mình có thể tưởng tượng được về họ, mình nghe thấy tất cả những khủng khiếp và kì diệu con người gây ra cho bản thân và cho những người khác, nhưng rút cục sự lắng nghe phô bày chính mình nhiều hơn là nó phô bày những người mình đang gắng sức lắng nghe.

Lang thang trong những đô thị ma và cố gắng lắng nghe cô ấy không làm nứt được cái vỏ bọc Margo Roth Spiegelman nhiều như đã làm nứt chính tôi. Mấy trang sau–nghe và bị phô bày–Whitman bắt đầu viết về tất cả những viễn du ông có thể thực hiện trong tưởng tượng, và liệt kê tất cả những nơi ông có thể ghé thăm trong khi an nhiên trên cỏ. “Lòng bàn tay ta trùm lên những lục địa,” ông viết.

Tôi vẫn nghĩ về những tấm bản đồ, như hồi bé thỉnh thoảng tôi xem bản đồ, và chỉ xem thôi cũng có chút cảm giác như mình đang ở nơi khác rồi. Đây là những gì tôi phải làm. Tôi phải nghe và tưởng tượng con đường của tôi trong bản đồ của cô ấy.

Nhưng chẳng phải tôi đã cố làm vậy rồi hay sao? Tôi đã xem những bản đồ treo phía trên máy tính của tôi. Tôi đã cố gắng vạch ra lộ trình cô ấy có thể đi, nhưng giống như cánh cỏ mang quá nhiều ẩn dụ, ở Margo cũng có quá nhiều. Dường như không thể nào ghim được cô ấy xuống những bản đồ. Cô ấy quá bé nhỏ và không gian những tấm bản đồ quá lớn. Những bản đồ này còn hơn cả sự lãng phí thời gian–chúng là biểu hiện hữu hình của những kết luận hoàn toàn vô ích, sự bất lực tuyệt đối của tôi khi muốn tạo ra những lòng bàn tay trùm lên các lục địa, muốn có bộ óc biết tưởng tượng đúng.

Tôi đứng dậy, đến trước những tấm bản đồ và giật chúng khỏi tường, những ghim mũ bung khỏi mặt giấy, rơi vương xuống sàn. Tôi vo tròn lũ bản đồ và ném hết vào thùng rác. Khi quay về giường, tôi ngớ ngẩn dẫm phải một ghim mũ. Dù đang cáu, cạn kiệt sức lực và ý tưởng, cạn kiệt cả những khu đô thị ma, tôi vẫn phải nhặt đám ghim mũ lăn lung tung trên thảm lên để không dẫm phải nữa. Tôi chỉ muốn dồn sức nện lên tường, nhưng tôi phải nhặt hết đám ghim mũ ngu ngốc chết tiệt này đã. Xong hết, tôi quay về giường, đấm thật lực vào gối, hai hàm răng nghiến chặt.

Tôi cố đọc Whitman trở lại, nhưng giữa những trang sách và suy nghĩ về Margo, tôi cảm thấy đêm nay mình bị phơi bày thế là quá đủ rồi. Cuối cùng tôi đặt sách xuống, không buồn dậy tắt đèn nữa. Tôi chỉ nhìn chong chong lên tường, dần dần nhắm mắt lại lâu hơn. Mỗi lần mở mắt ra, tôi lại thấy mảng tường treo từng tấm bản đồ–bốn lỗ thành hình chữ nhật, những lỗ cắm ghim mũ rải rác trong hình chữ nhật đó. Tôi từng nhìn thấy khuôn hình kiểu này rồi. Trong gian phòng trống, phía trên tấm thảm được cuộn lại.

Một bản đồ. Với những địa danh được đánh dấu.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của John Green

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.