Những Thành Phố Giấy

Lượt đọc: 351 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8.

❊ ❊ ❊

Sáng hôm sau mẹ vào phòng tôi và bảo, “Hôm qua con còn chẳng buồn đóng cửa phòng nữa hả sâu ngủ?” Tôi mở mắt đáp, “Bụng con khó chịu quá mẹ,” và nhích người ra phía cái thùng rác giờ đang chứa đám ói của tôi. “Quentin! Ôi trời ơi! Con thấy khó chịu từ khi nào?”

“Từ khoảng sáu giờ ạ,” tôi đáp, đúng thế thật.

“Sao không gọi bố mẹ?”

“Con mệt quá ạ,” tôi đáp, lại đúng thế thật.

“Khó chịu quá nên con không ngủ được à?” mẹ rối rít.

“Vâng,” điều này thì không đúng. Tôi thức dậy vì đồng hồ réo sáu giờ, rồi tôi rón rén vào bếp, ăn một thanh ngũ cốc và uống ít nước cam. Mười phút sau, tôi móc hai ngón tay vào họng. Tôi không muốn làm vậy từ đêm vì sợ món ói bốc mùi khắp phòng cả đêm. Màn nôn ọe khá rùng rợn nhưng cũng qua nhanh thôi.

Mẹ mang thùng rác đi, tôi nghe thấy tiếng mẹ cọ rửa nó trong bếp. Mẹ quay lại với cái thùng sạch, môi bặm lại đầy lo lắng. “Thế này có lẽ mẹ nên nghỉ một hôm–” mẹ chưa nói hết tôi đã lập tức can luôn.

“Thực sự con không sao đâu ạ. Chỉ hơi muốn ói. Chắc con ăn phải cái gì đấy.”

“Con chắc là không sao chứ?”

“Nếu thấy khó chịu hơn thì con sẽ gọi điện ạ,” tôi nói. Mẹ hôn lên trán tôi, lớp son của mẹ dinh dính trên da tôi. Thực ra tôi không ốm đau gì sất, nhưng gì thì gì, mẹ đã khiến tôi thấy khá hơn.

“Con muốn mẹ đóng cửa phòng không?” mẹ hỏi, một tay đặt lên cửa. Cánh cửa vẫn chỉ đang cài hờ vào bản lề.

“Đừng, đừng, mẹ đừng đóng ạ,” tôi lắp bắp, chắc tại căng thẳng quá.

“Được rồi,” mẹ nói. “Trên đường đi làm mẹ sẽ gọi điện đến trường cho con. Cần gì thì con báo với mẹ ngay nghe chưa? Bất cứ cái gì. Hoặc nếu muốn mẹ về nhé. Mới cả gọi cho bố bất cứ lúc nào cũng được. Chiều mẹ sẽ gọi về xem tình hình thế nào nhé.”

Tôi gật đầu rồi kéo chăn kín tới tận cằm. Dù cái thùng rác đã sạch, nhưng tôi vẫn ngửi thấy mùi ói thoang thoảng lẫn trong mùi xà phòng, khiến tôi nhớ lại màn nôn ọe trước đấy, và chả hiểu sao khiến tôi muốn ói thêm. Nhưng tôi chỉ thở từ từ, thậm chí há miệng ra thở cho đến khi nghe thấy tiếng chiếc Chrysler lùi xa khỏi nhà. Đồng hồ chỉ 7:32. Ít nhất lúc này, tôi nghĩ mình sẽ đúng giờ.

Không phải đúng giờ vào lớp, phải thừa nhận là vậy. Nhưng vẫn là đúng giờ.

Tôi tắm, đánh răng, tròng vào người cái quần jeans tối màu và áo phông đen tuyền, nhét mẩu báo của Margo vào túi quần. Tôi đóng đinh lại vào bản lề, rồi chuẩn bị lên đường. Tôi không chắc nên bỏ những gì vào ba-lô, nhưng có cái tua-vít để tháo thanh dọc khung cửa, bản in tấm bản đồ chụp từ vệ tinh, những hướng dẫn, chai nước, và cuốn thơ Whitman, phòng khi Margo ở đó. Tôi muốn hỏi cô ấy về tập thơ đó.

Ben và Radar có mặt lúc tám giờ đúng, không sớm không muộn một tích tắc nào. Tôi ngồi ở ghế sau. Hai thằng đang hát ông ổng theo một bài của ban nhạc Mountain Goats.

Ben quay xuống và chìa nắm tay ra với tôi. Tôi khẽ đấm lại, dù không thích kiểu chào hỏi đó. “Q!” nó hét toáng át tiếng nhạc. “Thấy trò này bá cháy đến chừng nào?”

Tôi hiểu chính xác Ben muốn nói gì: nghe nhạc của Mountain Goats cùng các chiến hữu trong một cái xe đang bon bon vào một sáng thứ Tư, tháng Năm, trên cung đường dẫn đến Margo, và bất cứ giải thưởng tuyệt-như-Margo nào nếu tìm thấy cô ấy. “Bá cháy hơn món giải tích,” tôi đáp. Nhạc to rộn rã nên khó nói chuyện với nhau. Ra khỏi khu Jefferson Park, chúng tôi hạ một tấm kính cửa sổ còn hoạt động xuống để thiên hạ biết rằng chúng tôi nghe nhạc có gu ra sao.

Bọn tôi chạy dọc Colonial Drive, qua những rạp chiếu phim và hiệu sách mà tôi đã ghé qua ghé lại cả đời mình.

Nhưng chuyến đi này khác và khoái hơn nhiều, vì hành trình diễn ra trùng giờ môn giải tích, vì đồng hành cùng Ben và Radar, vì chúng tôi đang trên đường tới nơi tôi tin mình sẽ tìm thấy Margo. Và rút cục, sau hai chục dặm, thành phố Orlando nhường chỗ cho những trảng cam cuối cùng và những nông trang còn ban sơ–mặt đất bằng phẳng trải ra ngút ngàn, dày lên dưới lớp cây bụi, thiết lan bám trên những cành sồi, tự tại buông xuống trong cái nóng không một gợn gió. Đây là Florida mà tôi từng trải qua những đêm đuổi bắt con ta-tu, bị muỗi đốt chi chít, từ hồi còn là cậu nhóc hướng đạo sinh. Trên đường lúc này toàn xe bán tải, đi chừng một dặm lại gặp một tiểu khu nằm cách đường cao tốc–những phố nhỏ ngoằn ngoèo chẳng vì lí do gì, chạy quanh những căn nhà mọc lên giữa đồng không mông quạnh, như một ngọn núi lửa bọc chất dẻo vậy.

Đi tiếp, chúng tôi chạy xe qua một bảng hiệu gỗ cũ kĩ đề GROVEPOINT ACRES. Một dải đường đen nứt nẻ, chỉ kéo dài vài trăm mét rồi cụt vào một bãi đất xám, chớm báo hiệu rằng Grovepoint Acres là một thứ như mẹ tôi vẫn gọi là “khu đô thị ma”–một tiểu khu bị bỏ hoang trước khi hoàn thành thi công xây dựng. Trước đây mấy lần đi trên đường bố mẹ đã chỉ cho tôi thấy những khu đô thị ma kiểu này, nhưng tôi chưa từng thấy nơi nào hoang vắng tiêu điều đến thế.

Chúng tôi đi quá Grovepoint Acres khoảng năm dặm thì Radar vặn nhỏ nhạc lại và thông báo, “Tầm một dặm nữa thì đến nhé.”

Tôi hít một hơi thật sâu. Cơn hứng khởi trốn học đi chơi đã xẹp dần. Nơi này chẳng có vẻ gì là chỗ Margo sẽ trú ẩn, hoặc thậm chí ghé qua. Khác một trời một vực thành phố New York. Đây là phần Florida mà người ta chỉ bay qua, tự hỏi sao có thể tá túc ở mảnh bán đảo này. Tôi chăm chăm nhìn mặt đường nhựa trống trơn, cái nóng như kéo nhòe thị giác. Phía trước, một vệt cửa hàng trông như khu mua sắm dập dờn trong ánh nắng xa xa.

“Đằng kia phải không?” tôi hỏi, rướn lên chỉ.

“Hẳn rồi,” Radar đáp.

Ben ấn nút điều khiển dàn âm thanh, và chúng tôi chìm trong yên lặng khi Ben tấp xe vào bãi đỗ từ lâu đã bị lớp đất cát xám ngoét chiếm dụng. Đã từng có biển hiệu cho bốn cửa hàng ở mặt tiền này. Một cây cột gỉ sét, cao chừng hai mét rưỡi, được cắm bên vệ đường. Nhưng biển hiệu đã tiêu đời từ lâu, bị trận bão nào đó cuốn đi hoặc do cũ kĩ tích tụ. Dãy cửa hàng trụ được khá khẩm hơn: khu nhà một tầng, mái bằng, lác đác trơ ra những khối bê-tông thô. Những dải sơn bong tróc nhăn nhúm bám trên tường, như đám côn trùng ráng bám vào tổ. Cặn nước vẽ những bức tranh trừu tượng màu nâu lên các ô cửa sổ. Cửa sổ được ráp lại từ những tấm gỗ ép. Một ý nghĩ khủng khiếp bung lên trong đầu tôi, thứ suy nghĩ không thể nhốt lại được một khi nó đã len vào bầu khí quyển nhận thức: dường như đây không phải nơi người ta đến để sống. Đây là nơi người ta đến để chết.

Xe vừa dừng lại, mũi và miệng tôi đã ngập trong thứ mùi khăn khẳn của chết chóc. Tôi phải nuốt ngược cơn ói đang dâng lên lờm lợm và đau nhói nơi cuống họng. Chỉ đến lúc này, sau tất cả những thời gian đã mất, tôi mới nhận ra mình đã nhầm tai hại đến thế nào về trò chơi của Margo và phần thưởng cho người chiến thắng.

Tôi ra khỏi xe, Ben đứng cạnh tôi và Radar cạnh nó. Tôi lập tức hiểu rằng chuyện này không vui chút nào, rằng tất cả không phải là hãy-chứng-minh-rằng-cậu-đủ-bản-lĩnh-chơi-với-tớ. Tôi nghe được tiếng Margo đêm đó khi chúng tôi lái xe lòng vòng Orlando. Tôi nghe được cô ấy nói với tôi, “Tớ không muốn đứa trẻ con nào tìm thấy tớ trong cảnh ruồi bâu kiến đậu vào một sáng thứ Bảy ở Công viên Jefferson đâu.” Không muốn bị trẻ con tìm thấy trong Công viên Jefferson không đồng nghĩa với không muốn chết.

Chẳng có gì cho thấy lâu nay còn có người ở đây, trừ cái mùi, thứ mùi chua chua nồng nồng bệnh bệnh bốc lên để giữ người sống tránh xa người chết. Tôi tự nhủ Margo không thể nào có mùi như thế, nhưng tất nhiên là có thể rồi. Tất cả chúng ta đều có thể bốc mùi như vậy. Tôi giơ cánh tay chặn ngang mũi để ngửi mùi mồ hôi và da mình, bất kể mùi gì trừ cái chết.

“MARGO ƠI?” Radar gọi. Một con chim nhại đậu trên ống máng hoen gỉ của tòa nhà, phun ra hai âm tiết đáp trả. “MARGO!” Radar lại gọi lớn. Không có gì. Radar đá sục một cú vào cát, ngao ngán rủa, “Chết tiệt.”

Đứng trước tòa nhà này, tôi hiểu được chút gì đó về nỗi sợ hãi. Tôi hiểu rằng đó không phải là ảo giác đờ đẫn của người có lẽ muốn chuyện gì đó trọng đại xảy ra với mình, dù điều trọng đại đó thực khủng khiếp. Đó không phải là cảm giác ghê sợ khi thấy một người xa lạ bị chết, cũng không phải khoảnh khắc nghẹt thở khi nghe thấy tiếng súng rít lên từ nhà Becca Arrington. Không thể điều hòa bình ổn nó bằng bài tập thở. Nỗi sợ hãi này không có chút nào tương đồng với những sợ hãi tôi từng biết trước đó. Nó nằm ở nơi sâu nhất của mọi cảm xúc có thể có, thứ cảm giác theo chúng ta từ trước khi chúng ta tồn tại, trước khi khối nhà này tồn tại, trước cả khi trái đất tồn tại. Đó là nỗi sợ hãi đã đẩy cá khỏi đất khô mà tiến hóa buồng phổi, nỗi sợ hãi đã dạy chúng ta phải chạy, nỗi sợ hãi khiến chúng ta chôn cất những người đã qua đời.

Cái mùi ấy thít lấy tôi trong cơn hoảng loạn tuyệt vọng– hoảng loạn không phải như trong phổi tôi đã cạn sinh khí, mà như chính sinh quyển đã cạn khí. Tôi nghĩ có thể lí do tôi lo lắng hết phần lớn thời gian đời mình là vì tôi cố gắng tự chuẩn bị cho bản thân, rèn luyện cơ thể sẵn sàng chống lại nỗi sợ hãi đích thực khi nó tràn tới. Nhưng tôi không sẵn sàng.

“Nên đi thôi mấy bồ,” Ben lên tiếng. “Nên gọi cảnh sát hay làm gì đại khái thế.” Chúng tôi vẫn chưa nhìn nhau. Cả ba thằng vẫn chăm chăm nhìn tòa nhà, cái nơi bị bỏ hoang từ bao nhiêu lâu nay không có khả năng cất giấu bất cứ thứ gì trừ những xác chết.

“Không,” Radar kêu lên. “Không không không không không. Bọn mình sẽ gọi khi có gì đó để trình báo. Margo để lại địa chỉ này cho Q. Không phải cho cảnh sát. Chúng ta phải tìm cách vào trong đó.”

“Vào trong đó?” Ben ngờ vực hỏi.

Tôi vỗ vỗ lên lưng Ben, và lần đầu tiên trong suốt cả ngày, ba đứa chúng tôi không nhìn về phía trước mà quay sang nhìn nhau. Như vậy còn có thể chịu đựng được. Khi tôi nhìn hai thằng bạn, có điều gì đó như mách bảo tôi rằng Margo không chết cho đến khi nào chúng tôi tìm ra cô ấy. “Đúng vậy, vào trong đó,” tôi nói.

Tôi không còn biết Margo là ai nữa, hay từng là ai, nhưng tôi cần tìm cô ấy.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của John Green

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.