Sau ba tiếng đồng hồ một mình với tám trăm chữ của Ovid vào sáng thứ Hai, tôi đi trong hành lang, cảm tưởng như bộ óc mình sắp nhỏ tong tong từ tai ra. Nhưng tôi làm bài ổn. Chúng tôi có một tiếng rưỡi ăn trưa, để não có thời gian đông trở lại trước buổi thi thứ hai trong ngày. Radar đang đợi trước ngăn tủ đựng đồ của tôi.
“Tôi vừa đánh bom tôi bằng tiếng Tây Ban Nha,” Radar nói.
“Chắc chắn ông làm tốt mà.” Nó sẽ đến Dartmouth bằng một học bổng khổng lồ. Radar thừa thông minh.
“Tôi cũng chẳng biết ông ạ. Tôi cứ gà gật suốt lúc thi vấn đáp. Nhưng này, tôi đã thức đến nửa đêm để viết chương trình này. Ngon lành lắm. Nó cho phép ông nhập một mục từ vào–có thể là vùng địa lí hoặc chi họ động vật nào đó–và rồi ông có thể đọc được những câu đầu tiên của khoảng một trăm bài trong Toàn Thư Đủ Thứ về chủ đề ông đang cần, chỉ trên một trang duy nhất. Ví dụ, ông đang tìm một giống thỏ nào đó nhưng không nhớ tên chính xác. Ông có thể đọc phần giới thiệu tất cả hai mươi mốt loài thỏ trên cùng một trang, trong, xem nào, ba phút.”
“Ông làm việc này trong đêm trước ngày thi sao?” tôi hỏi.
“Ừ, tôi biết, sao chứ? Cơ mà tôi sẽ gửi vào e-mail cho ông. Trò này vui não lắm.”
Ben xuất hiện. “Q ơi, thề có Chúa chứng giám, Lacey và tôi ngồi trên mạng đến hai giờ sáng, nghịch cái trang duongdaivongquanh ấy. Sau khi soát hết từng tuyến Margo có thể đi từ Orlando đến năm điểm kia, tôi kết luận hóa ra suốt từ đầu tôi đã sai lè. Margo không ở Orlando. Radar nói đúng. Cậu ấy sẽ quay lại vào ngày lễ tốt nghiệp.”
“Tại sao?”
“Thời điểm hoàn hảo. Lái xe từ Orlando đến New York đến rặng núi đến Chicago đến Los Angeles rồi quay về Orlando là một chuyến đi chính xác hai mươi ba ngày. Thêm nữa, trò này thâm thật, nhưng đó là kiểu của Margo. Khiến mọi người tin rằng mình đã tiêu rồi. Giăng một màn khói bí ẩn, giấu mình trong đó để ai cũng phải chú ý. Và rồi khi sự chú ý bắt đầu nhạt đi, thì đột ngột lộ diện ở lễ tốt nghiệp.”
“Không,” tôi nói. “Không thể nào.” Bây giờ tôi đã hiểu Margo rõ hơn. Cô ấy muốn được chú ý. Tôi tin như vậy. Nhưng Margo không đùa với sinh mạng để mua vui. Cô ấy không bỏ đi chỉ để chơi khăm như vậy.
“Này bồ, tôi đang nói với ông đấy. Hãy tìm Margo ở lễ tốt nghiệp ấy. Cậu ấy sẽ xuất hiện cho coi.” Tôi chỉ lắc đầu. Mọi người ăn trưa cùng một thời gian nên căng-tin đông như nêm, bọn tôi bèn thực hành quyền của học sinh năm cuối và lái xe đến tiệm kem Wendy’s. Cố gắng tập trung vào bài thi giải tích sắp tới, nhưng tôi bắt đầu cảm thấy hình như câu chuyện còn cần thêm dây nối. Nếu Ben đúng về chặng đường hai mươi ba ngày, điều đó quả cũng rất thú vị. Có thể đó là những gì Margo đã lập kế hoạch trong cuốn sổ màu đen, một hành trình bằng ô-tô, dài và đơn độc. Điều đó không giải thích được tất cả, nhưng hợp với một Margo thích lập kế hoạch. Như thế không có nghĩa là điều đó nhích tôi đến gần cô ấy hơn. Xác định một chấm trong mảnh bản đồ rách đã khó, khi cái chấm di chuyển thì còn khó hơn.
Sau một ngày dài toàn thi cử, trở về với sự bất khả xâm phạm dễ chịu của “Tự khúc” gần như là một giải tỏa nhẹ nhõm. Tôi đọc đến một đoạn rất lạ của bài thơ–sau tất cả thời gian nghe và lắng nghe con người, rồi phiêu du cùng họ, Whitman không nghe nữa và không phiêu du nữa, ông bắt đầu trở thành những người khác. Như thể thực sự ở trong họ. Ông kể chuyện vị thuyền trưởng một con tàu đã cứu được tất cả mọi người trên tàu, trừ chính ông ta. Whitman nói rằng thi sĩ kể được câu chuyện vì ông đã trở thành vị thuyền trưởng đó. Khi ông viết, “Ta là người đàn ông ấy... Ta chịu đựng... Ta đã ở đó.” Mấy dòng sau, càng rõ ràng là Whitman không cần phải lắng nghe để trở thành người khác nữa: “Ta không hỏi người mang vết thương rằng anh có thấy đau không... Chính ta trở thành người mang vết thương.”
Tôi đặt cuốn sách xuống và nằm nghiêng, nhìn ra ô cửa sổ đã luôn ở giữa tôi và cô ấy. Chỉ nhìn hoặc nghe thấy cô ấy là không đủ. Để tìm được Margo Roth Spiegelman, ta phải trở thành Margo Roth Spiegelman.
Tôi đã làm nhiều điều cô ấy có thể đã làm: Tôi đã chế ra một đôi ít có khả năng đi dạ tiệc cùng nhau nhất. Tôi đã dẹp yên bầy chó săn của cuộc chiến đẳng cấp. Tôi đã tự nhiên thoải mái ở trong căn nhà ma nơi bọn chuột là bá chủ, nơi cô ấy đã suy tư nhiều nhất. Tôi đã thấy. Tôi đã lắng nghe. Nhưng tôi chưa thể trở thành người mang vết thương.
Ngày hôm sau, tôi lờ đờ suốt bài thi vật lí và môn nhà nước và chính quyền, rồi thứ Ba thức đến 2 giờ sáng hoàn thành bài luận cuối cùng môn Quốc ngữ, về Moby Dick.
Ahab là anh hùng, tôi đã quyết định như vậy. Không có lí do gì đặc biệt cho quyết định đó–đặc biệt trong hoàn cảnh tôi chưa đọc cuốn sách–nhưng tôi đã quyết định vậy và cứ thế viết nốt thôi.
Tuần thi được rút gọn đồng nghĩa rằng thứ Tư là ngày cuối của chúng tôi ở trường. Suốt cả ngày hôm đó, khó mà không đi vòng vòng, nghĩ đến những sự cuối cùng của tất cả: Lần cuối đứng với mấy đứa thành một vòng tròn bên ngoài phòng tập nhạc, dưới bóng sồi đã bảo bọc bao thế hệ nhạc công kì tài này. Lần cuối ăn pizza trong căng-tin với Ben. Lần cuối ngồi trong ngôi trường này, một tay viết vội bài luận, một tay kẹp giữa cuốn sách màu xanh. Lần cuối lé mắt liếc đồng hồ. Lần cuối thấy Chuck Parson lầm lầm đi qua hành lang, nụ cười thoáng vẻ khinh mạn bất cần đời. Trời đất. Tôi bắt đầu lưu luyến Chuck Parson mới ghê chứ. Thứ bệnh gì đó đang hoành hành trong tôi mất rồi.
Với Margo hẳn tất cả cũng như vậy. Với tất cả thời gian lập kế hoạch, hẳn cô ấy biết mình sẽ ra đi, thậm chí lẽ ra cô ấy đã không hoàn toàn miễn dịch với cảm xúc. Cô ấy đã có những ngày tươi đẹp ở đây. Những giờ phút cuối cùng, thật khó gợi lại những ngày tồi tệ, vì bằng cách này hay cách khác, cô ấy đã qua một phần đời ở nơi này, cũng giống như tôi. Thành phố này là giấy, nhưng những kỉ niệm thì không. Tất cả những gì tôi đã làm ở đây, tất cả những trìu mến, xót xa, thương cảm, tàn bạo và độc ác, tất cả đang đầy lên trong tôi. Những bức tường tổ ong sơn trắng. Những bức tường trắng của tôi. Những bức tường trắng của Margo. Chúng tôi đã bị hãm giữa những bức tường ấy quá lâu, bị mắc kẹt trong bụng nó như Jonah bị mắc kẹt trong bụng cá vậy.
Suốt cả ngày, tôi đã nghĩ có lẽ chính cảm xúc này là lí do tại sao cô ấy lại lên kế hoạch tất cả thật chi tiết và chính xác: dù có muốn đi nữa, ra đi vẫn thật khó khăn. Cần được chuẩn bị, và có lẽ ngồi vạch kế hoạch trong khu mua sắm bỏ hoang đó là một việc vừa trí tuệ vừa đầy cảm xúc–cách Margo hình dung về chính mình dấn thân vào số phận.
Ben và Radar tập nhạc ròng rã để đảm bảo rằng tụi nó sẽ khiến tất cả phải rung chuyển trong hành khúc “Pomp and Circumstance” ở lễ tốt nghiệp. Lacey nói có thể đưa tôi về, nhưng tôi quyết định dọn dẹp ngăn tủ cá nhân vì không muốn quay lại trường và lại phải cảm thấy hai lá phổi mình sắp chết chìm trong những nhớ nhung ngang ngạnh trào lên.
Ngăn tủ của tôi thuần túy là một hố tạp nham–nửa đựng rác, nửa đựng sách. Ngăn của Margo sách vở vẫn gọn gàng đâu ra đấy khi Lacey mở nó ra, tôi vẫn nhớ thế, như thể Margo định quay lại trường ngay hôm sau. Tôi kéo thùng rác lại gần dãy tủ và mở ngăn của mình. Tôi bắt đầu từ bức ảnh chụp Radar, Ben và tôi, ba thằng đều làm biếng đang thộn mặt ra. Tôi bỏ bức ảnh vào ba-lô, rồi khởi động qui trình kinh hoàng nhặt ra đủ thứ bẩn thỉu tích tụ cả năm trời–bã kẹo cao su vo viên trong giấy xé vở, cơ man bút hết mực, khăn giấy lem nhem dầu mỡ–tôi lẳng hết vào thùng rác. Suốt lúc đó, tôi cứ nghĩ, Mình sẽ không bao giờ làm lại việc này nữa, mình sẽ không bao giờ ở đây nữa, đây không bao giờ còn là ngăn tủ đựng đồ của mình nữa, Radar và mình sẽ không bao giờ viết giấy nói chuyện riêng trong giờ giải tích nữa, mình sẽ không bao giờ thấy Margo đi ngoài hành lang nữa. Lần đầu tiên trong đời tôi, có nhiều đến thế những điều sẽ không bao giờ xảy ra nữa.
Và cuối cùng thì quá nhiều rồi. Tôi không thể lái được dòng cảm xúc, và những xúc cảm trở thành bất khả chịu đựng. Tôi sục sâu vào ngăn tủ, lôi ra tất cả–những tranh ảnh, ghi chép và sách vở–gạt hết vào thùng rác. Tôi để ngỏ ngăn tủ đấy mà đi. Ngang phòng tập nhạc, tôi nghe thấy bài “Pomp and Circumstance” lùng bùng vọng ra qua những bức tường. Tôi cứ đi. Bên ngoài trời nóng, nhưng không nóng như mọi khi. Có thể chịu đựng được. Đường về nhà đa phần là vỉa hè, tôi nghĩ. Thế là tôi cứ đi tiếp.
Cũng đờ đẫn và rệu rã như tất cả những không-bao-giờ-nữa, sự rời bỏ cuối cùng này thật hoàn hảo. Thuần khiết. Dạng thức dễ chắt lọc được nhất của sự giải phóng. Tất cả những dính mắc, trừ một tấm ảnh dở ẹc, đều ở yên trong thùng rác, nhưng cảm giác thật tuyệt vời. Tôi bắt đầu bước nhanh, muốn doãng thêm khoảng cách giữa tôi và ngôi trường.
Ra đi thật khó khăn–cho đến khi ta ra đi. Và sau đó là điều dễ dàng nhất trên thế giới này.
Trong khi chạy, tôi cảm thấy mình lần đầu tiên trở thành Margo. Tôi biết: cô ấy không ở Orlando. Cô ấy không ở bang Florida. Ra đi mang lại cảm giác quá tuyệt vời, một khi đã ra đi. Nếu đang ngồi ô-tô, không phải đang đi bộ, hẳn tôi cũng sẽ lái xe đi mãi. Margo đã ra đi và sẽ không quay lại lễ tốt nghiệp hay bất cứ gì khác. Bây giờ tôi đã cảm thấy chắc chắn.
Tôi ra đi, và sự ra đi quá phấn chấn nên tôi biết mình có thể không bao giờ trở lại. Nhưng rồi sao? Liệu tôi có tiếp tục rời bỏ nơi nào đó, ra đi và lại ra đi, dấn mình vào một chuyến đi miên viễn hay không?
Ben và Radar lái xe ngang qua khi tôi còn cách Công viên Jefferson một phần tư dặm. Ben dừng huỵch RHAPAW ngay ở Lakemont, bất chấp giao thông tứ phía. Tôi chạy đến và vào xe. Hai thằng muốn đến nhà tôi chơi Hồi Sinh, nhưng tôi phải nói rằng không được, vì tôi đang ở gần hơn lúc nào hết.