Những Thành Phố Giấy

Lượt đọc: 303 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12.

❊ ❊ ❊

Khi tấp bãi đỗ bên khu mua sắm mini, tôi nhận thấy ai đó đã dán băng dính dày màu xanh da trời bít cái lỗ bọn tôi phá trên ván gỗ ép hôm nọ. Không biết ai đã ở đây sau khi bọn tôi rời đi nhỉ.

Tôi lái xe ra phía sau, đỗ cạnh một thùng rác to hoen gỉ, hàng thập kỉ nay chưa được gặp cái xe chở rác nào. Tôi tính nếu cần thì cứ lao mình qua đám băng dính, nên toan đi vòng lại phía trước thì phát hiện ra những cánh cửa hậu bằng kim loại không gắn với tấm bản lề nào cả.

Nhờ Margo, tôi đã thêm chút chuyên môn về bản lề cửa, và kịp nhận ra rằng tại sao ba thằng không cách gì kéo được những cánh cửa ấy ra: vì chúng đều mở vào trong. Tôi đến trước cửa văn phòng công ti thế chấp và đẩy vào. Cánh cửa bật ra dễ như bỡn. Trời ạ, hôm nọ rặt cả ba thằng đều ngố. Chắc chắn ai đó quan tâm đến tòa nhà này cũng đã biết về cánh cửa không khóa, cho nên những dải băng dính xanh bên kia xem ra càng thừa thãi.

Tôi lẳng cái ba-lô đã gói ghém từ sáng xuống, lấy đèn pin Maglite công suất lớn của bố ra và rọi khắp căn phòng. Tuồng như thứ gì đó to lớn ở giữa những xà rầm trên mái vừa lẩn đi. Tôi rùng mình. Mấy con thằn lằn con nhảy vào góc tối, tránh đường đi của ánh sáng.

Dải sáng duy nhất qua một lỗ thủng trên trần rơi xuống góc phía trước căn phòng, và chút nắng le lói sau những ván gỗ ép, nhưng tôi hầu như chỉ dựa vào ánh đèn pin. Tôi đi qua đi lại những dãy bàn, xem những thứ chúng tôi đã thấy trong các ngăn kéo và để lại. Cảm giác rờn rợn cuộn lên ghê gớm khi nhìn từ bàn này sang bàn kia đều là một trang lịch không kèm bất cứ ghi chú nào: tháng Hai 1986. Tháng Hai 1986. Tháng Hai 1986. Tháng Sáu 1986. Tháng Hai 1986. Tôi quay một vòng rồi chiếu đèn vào cái bàn ở chính giữa phòng. Lịch được giở đến tháng Sáu. Tôi cúi gần lại và săm soi tờ lịch, hi vọng thấy một góc nham nhở, chỗ mấy tháng trước được xé đi, hoặc dấu tích gì đó trên giấy chứng tỏ bút đã lướt qua, nhưng chẳng có gì khác những tờ lịch khác, trừ ngày tháng.

Kẹp đèn pin giữa cổ và vai, tôi kiểm tra lại các hộc bàn lần nữa, đặc biệt chú ý đến cái bàn tháng Sáu: vài tờ khăn ăn, mấy cái bút chì còn nhọn, ghi chú về những thế chấp của một vị Dennis McMahon nào đó, bao thuốc lá Marlboro rỗng không, và lọ sơn móng tay màu đỏ còn gần đầy.

Tôi chuyển đèn pin sang một tay, tay kia cầm lọ sơn móng tay và quan sát thật kĩ. Màu đỏ bầm đến mức như ngả sang đen. Tôi từng nhìn thấy màu đỏ này. Trên bảng điều khiển chiếc minivan đêm hôm đó. Đột nhiên, những sinh vật to lớn lẩn khuất trên mái và tiếng cót két trong tòa nhà chẳng còn nghĩa lí gì nữa–tôi chỉ cảm thấy một niềm hân hoan kì dị. Tất nhiên tôi không thể biết được có phải cùng một lọ sơn hay không, nhưng chắc chắn là cùng một gam màu.

Tôi xoay xoay cái lọ và thấy, không nghi ngờ gì nữa, một vết bé xíu sơn xanh da trời lem trên vỏ lọ. Lem từ ngón tay dính sơn xanh da trời của Margo. Bây giờ tôi có thể chắc chắn được rồi. Cô ấy đã đến đây sau khi chúng tôi tạm biệt nhau buổi sáng hôm ấy. Có lẽ cô ấy còn ở đây. Có lẽ phải khuya cô ấy mới xuất hiện. Có lẽ cô ấy đã dán băng dính lên tấm gỗ ép để bảo toàn sự riêng tư.

Tôi lập tức quyết định mình sẽ ở lại đây đến sáng. Nếu Margo ngủ được ở chỗ này thì tôi cũng ngủ được. Và thế là một cuộc tự vấn chóng vánh diễn ra.

Tôi: Còn lũ chuột đấy.

Tôi: Ừa, nhưng hình như chúng chỉ duyệt binh trên trần thôi.

Tôi: Thằn lằn nữa.

Tôi: Ôi dào, hồi bé vẫn kéo đứt đuôi thằn lằn đấy thôi.

Thằn lằn thì sợ gì.

Tôi: Nhưng còn chuột.

Tôi: Dù gì thì chuột làm đau được ai chứ. Chuột sợ mình hơn là mình sợ chuột nhiều.

Tôi: Ờ, thế còn lũ chuột thì sao?

Tôi: Thôi ngay.

Cuối cùng, lũ chuột thực sự cũng chẳng hề gì, vì tôi đang ở nơi Margo từng ở. Tôi đang ở nơi đã được chiêm ngưỡng cô ấy sau khi tôi được chiêm ngưỡng, và sự ấm áp từ suy nghĩ đó khiến khu mua sắm mini này trở nên gần như dễ chịu. Tôi không cảm thấy mình như đứa trẻ con, động làm gì cũng có mẹ theo sát, nhưng tôi vẫn nín thở mỗi khi nghe thấy tiếng động lạ. Và vì cảm giác dễ chịu, nên nơi này thành ra dễ khám phá hơn. Còn nhiều điều để khám phá, và giờ, tôi đã sẵn sàng.

Tôi rời văn phòng, chui qua một Lỗ Quỉ sang căn phòng mê hồn trận những giá sắt. Tôi đi tới đi lui theo lối đi giữa các dãy giá trong chốc lát, đến cuối căn phòng, qua Lỗ Quỉ tiếp theo sang gian phòng trống. Tôi ngồi xuống tấm thảm đã cuộn lại, dựa vào tường ở góc phòng. Lớp sơn trắng loang lổ nghe giòn và nứt nẻ hơn sau lưng tôi. Tôi ngồi thế một lúc, đủ lâu để chùm sáng duệch doạc từ trên trần rọi xuống bò được vài phân trên sàn, trong khi tôi dần thích nghi với những âm thanh.

Một lúc sau, tôi chán, chui qua Lỗ Quỉ cuối cùng vào phòng lưu niệm. Tôi đảo qua đám áo phông. Lôi cái hộp đựng sách lữ hành dưới tủ trưng bày ra và xem một lượt, tìm xem Margo có ngoáy dăm ba chữ vào không, nhưng tôi không thấy gì.

Tôi quay trở lại căn phòng bây giờ tôi đặt tên là thư viện. Giở qua đống tạp chí Reader’s Digest, tôi thấy một tập mấy tờ National Geographic từ những năm 1960. Nhưng mấy món này bụi chồng bụi chất nên tôi biết Margo chưa từng xem qua.

Phải đến khi quay lại căn phòng trống, tôi mới thu được bằng chứng cho thấy sinh hoạt của con người. Trên mảng tường gần cuộn thảm, tôi phát hiện ra chín lỗ găm ghim mũ trên nền tường sơn đã tróc và nứt nẻ. Bốn lỗ dựng thành một hình tương đối vuông, và trong hình vuông đó có năm lỗ nữa. Tôi đoán có lẽ Margo đã ở đây từ khá lâu, đủ thời gian để muốn treo tấm áp-phích nào đó lên chẳng hạn, dù chúng tôi không thấy thiếu gì khi tìm trong phòng cô ấy.

Tôi trải tấm thảm được nửa chừng thì phát hiện ra còn có thứ khác nữa: một hộp rỗng, gấp phẳng, từng đựng hai mươi tư thanh dinh dưỡng tổng hợp. Tôi bắt đầu tưởng tượng được Margo đã ở đây, dựa lưng vào tường, trên tấm thảm ẩm mốc cuộn lại làm chỗ ngồi, ăn một thanh dinh dưỡng. Cô ấy hoàn toàn một mình, chỉ có thứ này để ăn. Có thể hàng ngày Margo vẫn lái xe đến cửa hàng tiện lợi mua bánh mì kẹp và vài chai Mountain Dew, nhưng hầu hết thời gian trong ngày là ở đây, ở trên hoặc gần tấm thảm. Hình dung đó dường như quá ảm đạm, khó có thể là thật được–tất cả đều dựng nên trong tâm trí tôi một Margo quá cô đơn và quá không-giống-Margo. Nhưng mọi bằng chứng từ mười ngày qua đều tụ đến một kết luận đáng ngạc nhiên: chính Margo–chí ít là cũng có lúc–rất không giống Margo.

Tôi trải nốt tấm thảm ra và thấy một cái chăn len đan màu xanh da trời, mỏng gần như giấy báo. Tôi vội cầm lấy và đưa lên mặt, phải rồi, ơn Chúa, đúng vậy. Mùi của Margo. Dầu gội đầu mùi tử đinh hương và kem dưỡng da mùi hạnh nhân, lẩn quất trong đó thoáng chút ngọt ngào của làn da.

Tôi tưởng tượng lại về cô ấy: hàng đêm Margo trải tấm thảm này ra nửa chừng để hông không bị tì lên bê-tông cứng khi cô ấy nằm nghiêng. Cô ấy cuộn mình dưới tấm chăn này, gối lên đoạn thảm không trải ra hết, và nhắm mắt ngủ. Nhưng tại sao lại ở đây? Chỗ này có gì tốt hơn ở nhà? Nếu thích ở đây đến thế, sao còn ra đi? Những điều đó tôi không thể tưởng tượng được, tôi nhận ra mình không thể tưởng tượng vì mình không hiểu Margo. Tôi biết cô ấy thơm như thế nào, tôi biết cô ấy cư xử ra sao trước mặt tôi, tôi biết cô ấy cư xử ra sao trước mặt những người khác, tôi biết cô ấy thích Mountain Dew, thích phiêu lưu và những trò kịch tích, tôi cũng biết cô ấy hài hước, thông minh, nhìn chung là vượt trội những đứa còn lại trong chúng tôi. Nhưng tôi không biết điều gì đã khiến Margo tới đây, điều gì đã khiến cô ấy nán lại đây, điều gì đã khiến cô ấy ra đi. Tôi không biết tại sao cô ấy có hàng ngàn đĩa ghi âm nhưng không bao giờ kể với ai rằng cô ấy thích âm nhạc đến thế nào. Tôi không biết những gì cô ấy làm hàng đêm, sau tấm rèm buông kín đáo, sau cánh cửa khóa, trong không gian riêng tư bất khả xâm phạm là căn phòng của cô ấy.

Và có lẽ hơn hết đây chính là điều tôi cần làm. Tôi cần khám phá xem Margo ra sao khi cô ấy không phải là Margo.

Tôi nằm đó một lúc trong tấm chăn mang mùi Margo, chong chong nhìn lên trần. Vạt trời chiều chạng vạng buông qua vết nứt trên mái, như tấm toan tước ra một dải xanh nhạt. Đây hẳn là nơi hoàn hảo để chìm vào giấc ngủ: đêm được ngắm sao trời mà không sợ ướt mưa.

Tôi gọi điện về nhà để báo an. Bố nghe máy, tôi nói chúng tôi đang trong xe, trên đường đến chỗ Radar và Angela, và tôi sẽ ở lại với Ben cả đêm. Bố dặn tôi đừng uống tạp nham, tôi đáp tôi sẽ không như vậy, và bố bảo bố rất vui vì tôi đã đi dạ tiệc. Còn tôi tự hỏi không biết bố có vui nếu thực sự biết những gì tôi đang làm hay không.

Nơi này chán ngắt. Một khi đã trên cơ bè lũ gặm nhấm và bắt bài những rên rỉ bí ẩn tòa-nhà-sập-đến-nơi-rồi vẳng ra từ những bức tường, thì chẳng còn gì để làm nữa. Không Internet, không ti-vi, không nhạc nhẽo. Tôi thấy chán, thế nên tôi càng không hiểu tại sao Margo lại chọn nơi này, cô ấy luôn để lại ấn tượng rằng mình dành rất ít khoan dung cho những nhàm chán. Hay cô ấy thích cảnh điêu tàn xập xệ này chăng? Có lí nào. Với cô Margo diện quần jeans điệu đột nhập vào SeaWorld đó.

Chính tình cảnh thiếu những kích thích thay thế đã khiến tôi quay lại với “Tự khúc,” món quà chắc chắn duy nhất tôi nhận từ Margo. Tôi đến khoảng sàn nhà loang lổ vết nước đã khô róc từ lâu, thẳng dưới lỗ hổng trên trần, ngồi xếp chéo chân, nghiêng người để ánh sáng soi xuống trang sách. Rút cục, không hiểu sao, tôi đã đọc trôi được nó.

Vấn đề ở chỗ bài thơ mở đầu cực kì chậm chạp–khúc vào đề kéo dài lê thê, tới đâu tận dòng thứ chín, rút cục Whitman mới chịu hé ra câu chuyện, và đó là chỗ tôi bắt đầu thấy vỡ vạc ra. Vậy là Whitman đang ngồi suông (mà ông gọi là an nhiên) trên cỏ, thì:

Một đứa trẻ lên tiếng, Cỏ là gì ạ? và mang đến cho ta một nắm đầy tay;

Biết trả lời cháu bé sao đây?... Ta không biết rộng hơn những gì cậu bé biết.

Có lẽ đó hẳn là ngọn cờ thiên lương của ta, dệt bằng màu xanh hi vọng.

Đây là hi vọng mà cô Holden đã nhắc đến–cỏ là ẩn dụ của hi vọng. Nhưng không chỉ có thế, nhà thơ tiếp:

Hay có lẽ đó là tấm khăn tay của Người,

Món quà mang hương thơm, kỉ vật Người ban xuống.

Kiểu như cỏ là ẩn dụ cho sự vĩ đại của Chúa Trời, và còn nữa...

Hay có lẽ cỏ chính là trẻ thơ...

Và ngay sau đó,

Hay có lẽ cỏ là tượng hình đồng nhất,

Vươn lên giữa đại ngàn và từ góc hữu hạn,

Xanh mọc giữa những bằng hữu đen cũng như những người bạn trắng.

Vậy có lẽ cỏ là ẩn dụ cho sự bình đẳng và liên hệ mật thiết giữa chúng ta, như cô Holden đã nói. Và những lời cuối của Whitman về cỏ:

Và giờ với ta, cỏ là làn tóc mộ chí buông không buồn cắt.

Như vậy cỏ cũng là cái chết–mọc lên từ những thân xác đã chôn vùi. Có quá nhiều lớp lang ý nghĩa trong hình ảnh cỏ, thật đúng là rối mòng mòng. Tóm lại cỏ là ẩn dụ chỉ sự sống, cái chết, sự bình đẳng, mối liên kết, ám chỉ cả trẻ thơ, Chúa Trời và hi vọng.

Tôi chưa luận ra được điều gì trong những hình ảnh trên, nếu có, là cốt lõi của bài thơ này. Nhưng nghĩ đến cỏ và những cách nhìn nhận khác nhau về nó khiến tôi nghĩ đến tất cả những cách tôi đã nhìn và nhìn-nhầm Margo. Chẳng thiếu cách để nhìn cô ấy. Tôi đã quá tập trung vào những gì trở thành cô ấy, nhưng bây giờ, khi cố gắng hiểu tính đa biểu hiện của cỏ, khi mùi Margo từ tấm chăn vẫn còn vương vít trong cổ họng tôi, tôi nhận ra rằng câu hỏi quan trọng nhất chính là: tôi đang muốn tìm ai. Nếu “Cỏ là gì?” cần câu trả lời phức tạp đến vậy, thì điều tương tự ắt cũng đúng với câu “Margo Roth Spiegelman là ai?” Như một ẩn dụ không thể tức khắc được truyền tải trọn vẹn bởi những tầng đa nghĩa đồng hiện của nó, trong những gì Margo để lại cho tôi, có đủ chỗ cho những tưởng tượng bất tận, cho một chuỗi không giới hạn những Margo khác nhau.

Tôi phải thu hẹp cô ấy lại, và tôi hiểu ra rằng ở nơi này, ắt có những điều tôi đã nhìn sai đi hoặc không nhìn thấy. Tôi những muốn xé toang trần mái phía trên, rọi sáng mọi ngóc ngách để đồng thời thấy được tất cả, chứ không phải chỉ nhìn theo ánh đèn pin rời rạc quét qua quét lại. Tôi đặt tấm chăn của Margo sang một bên và hét lên, đủ lớn để tất cả bè lũ gặm nhấm phải nghe thấy, “Tôi Sẽ Tìm Ra Điều Gì Đó Ở Nơi Này!”

Tôi dò lại từng bàn làm việc trong văn phòng, càng tìm càng thấy rõ rằng Margo chỉ dùng cái bàn có lọ sơn móng tay trong ngăn kéo và tờ lịch dừng ở tháng Sáu.

Tôi chui qua Lỗ Quỉ, quay lại thư viện, một lần nữa đi dọc các giá sắt bỏ không. Trên mỗi giá tôi căng mắt tìm xem có chỗ nào không dính bụi, chứng tỏ Margo đã dùng vào việc gì không, nhưng tôi không thấy gì. Rồi đèn pin của tôi tình cờ lướt qua thứ gì đó trên nóc một giá ở góc phòng, ngay gần cửa sổ mặt tiền được chắn bằng gỗ ép. Đó là gáy một cuốn sách.

Cuốn sách có tựa đề Men theo nước Mĩ: Cẩm nang du lịch, xuất bản năm 1998, sau khi nơi này bị bỏ hoang. Tôi kẹp đèn pin giữa cổ và vai, tay giở qua các trang sách. Cuốn sách liệt kê hàng trăm thắng cảnh có thể ghé thăm, từ cuộn dây thừng lớn nhất thế giới ở Darwin, bang Minnesota, tới quả cầu tem lớn nhất thế giới ở Omaha, bang Nebraska. Ai đó đã gấp mép vài trang có vẻ là ngẫu nhiên. Cuốn sách không mấy bám bụi. Có lẽ SeaWorld chỉ là điểm dừng chân đầu tiên của cơn lốc xoáy những cuộc phiêu lưu. Đúng vậy. Như thế có lí lắm. Thế mới là Margo. Bằng cách nào đó cô ấy đã phát hiện ra nơi này, đến đây sửa soạn hành lí, ngủ lại một, hai đêm, rồi thế là lên đường. Tôi có thể hình dung được cô ấy nảy qua nảy lại giữa những địa danh hút hầu bao khách du lịch.

Trong khi chùm sáng cuối cùng mảnh dần qua cái lỗ trên trần, tôi tìm thấy thêm mấy cuốn sách trên các giá khác. Sơ lược hành trình đến Nepal; Canada hùng vĩ; Rong ruổi bằng ô-tô trên đất Mĩ; Cẩm nang của Fodor đến Bahamas; Bhutan thẳng tiến. Dường như không có liên hệ nào giữa những cuốn sách, trừ việc tất cả đều là sách hướng dẫn du lịch và đều được xuất bản sau khi khu mua sắm mini này bị bỏ hoang. Tôi kẹp đèn pin dưới cằm, xếp tất cả sách thành một chồng từ thắt lưng cao đến ngực, bê hết sang gian phòng trống mà bây giờ tôi hình dung là phòng ngủ.

Rút cục hóa ra tôi đã trải qua đêm dạ tiệc với Margo, chỉ là không giống lắm với những mơ mộng của tôi. Không cùng nhau oanh tạc sàn nhảy, tôi ngồi dựa vào cuộn thảm của cô ấy, phủ tấm chăn cũ của cô ấy qua đầu gối, dò đèn pin đọc những cuốn hướng dẫn du lịch, ngồi tĩnh lặng trong bóng tối khi lũ ve sầu du dương hòa âm trên đầu và xung quanh tôi.

Có lẽ Margo từng ngồi đây, trong thứ bóng tối gào thét, cảm thấy nỗi tuyệt vọng nào đó trào dâng lên mãi. Và có lẽ cô ấy nhận ra rằng không thể không tua ngược suy nghĩ về cái chết. Tôi tưởng tượng như vậy, tất nhiên rồi.

Nhưng tôi cũng tưởng tượng thế này nữa: Margo nhặt nhạnh những sách này từ nhiều đợt bán hàng thanh lí, mua bất cứ cuốn hướng dẫn du lịch nào với giá dưới hai mươi lăm xu mà cô ấy tìm được. Rồi Margo đến đây–trước cả khi cô ấy biến mất–đọc sách và tránh xa những cặp mắt tò mò. Đọc hết, cố gắng vạch ra hành trình. Đúng vậy. Cô ấy sẽ rong ruổi và không để lại dấu vết, một quả bóng bay phiêu du trên bầu trời, thuận chiều ngọn gió miên viễn, mỗi ngày bỏ lại đằng sau hàng trăm dặm đường. Và trong tưởng tượng này của tôi, Margo đầy sức sống. Có phải Margo dẫn tôi đến đây để trao cho tôi những manh mối ghép lại với nhau thành một hành trình hay không? Có thể. Tất nhiên tới giờ tôi vẫn chưa mon men tới gần được hành trình ấy. Dựa theo những cuốn sách, Margo có thể đang ở Jamaica hoặc Namibia, Topeka hoặc Bắc Kinh.

Nhưng tôi chỉ mới bắt đầu tìm kiếm thôi mà.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của John Green

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.