Những Người Đàn Ông Nhỏ Bé: Cuộc Sống Ở Plumfield Cùng Những Cậu Con Trai Của Jo

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
“What's The Matter, Daisy?”

❊ ❊ ❊

“Bọn con trai không cho em chơi cùng.”

“Sao lại thế?”

“Chúng bảo con gái không biết đá bóng.”

“Con gái chơi được chứ, dì từng chơi rồi mà!” Bà Bhaer mỉm cười khi nhớ lại những trò nghịch ngợm thời thơ ấu.

“Em biết là em chơi được; trước kia em với Demi hay chơi cùng, vui lắm, nhưng bây giờ nó không cho em chơi nữa vì mấy đứa con trai khác cứ cười trêu nó,” Daisy tỏ vẻ vô cùng đau buồn trước sự tuyệt tình của anh trai.

“Nói chung, dì nghĩ con bé nói đúng đấy, cục cưng ạ. Lúc hai đứa chơi với nhau thì không sao, nhưng chơi chung với cả chục đứa con trai thì trò đó quá thô bạo đối với con; thế nên con hãy tìm trò gì nhẹ nhàng hơn mà chơi nhé.”

“Em chán chơi một mình lắm rồi!” Giọng Daisy đầy vẻ sầu muộn.

“Lát nữa dì sẽ chơi cùng con, nhưng bây giờ dì phải chạy đi chuẩn bị đồ đạc để vào phố. Con sẽ đi cùng dì để thăm mẹ, và nếu thích, con có thể ở lại với mẹ.”

“Em rất muốn đi gặp mẹ và em bé Josy, nhưng xin dì cho em được quay về nhé. Demi sẽ nhớ em, với lại em thích ở đây lắm, dì ạ.”

“Không thể sống thiếu cậu Demi của con được cơ à?” Dì Jo nhìn thấu sự gắn bó của cô bé đối với người anh sinh đôi duy nhất.

“Đương nhiên là không rồi ạ; chúng em là anh em sinh đôi, nên chúng em thương nhau hơn người khác chứ,” Daisy đáp, khuôn mặt bừng sáng rạng rỡ, bởi con bé coi việc là một đứa trẻ sinh đôi là niềm vinh dự lớn lao nhất trên đời.

“Thế bây giờ, trong lúc dì bận rộn tất bật, con định làm gì nào?” Bà Bhaer hỏi, tay đang nhanh nhẹn nhét những chồng khăn là vào tủ quần áo.

“Em không biết nữa, em chán búp bê với mấy thứ đồ chơi lắm rồi; dì nghĩ ra trò gì mới cho em đi, dì Jo,” Daisy vừa nói vừa đu đưa người uể oải trên cánh cửa.

“Dì sẽ phải nghĩ một trò hoàn toàn mới, và việc đó mất khối thời gian đấy; hay là con xuống bếp xem Asia có món gì cho bữa trưa của con không,” bà Bhaer gợi ý, thỉnh cầu này quả là một cách hay để tống khứ “cục nợ” nhỏ bé này đi một lát.

“Vâng, em nghĩ là em thích thế, nếu mụ ấy không cáu kỉnh,” rồi Daisy lững thững đi xuống nhà bếp, nơi Asia, nữ đầu bếp da màu, đang ngự trị một cách yên bình.

Năm phút sau, Daisy đã quay trở lại với gương mặt tỉnh táo hẳn ra, tay cầm một nhúm bột mì và trên chóp mũi nhỏ xinh còn dính một vệt bột trắng.

“Ôi dì ơi! Con xin phép được đi làm bánh gừng với mấy thứ khác được không ạ? Asia không cáu đâu, mụ ấy bảo con làm được và chắc sẽ vui lắm đấy, dì cho con làm nhé,” Daisy một hơi tuôn một tràng.

“Quá tuyệt ấy chứ, cứ đi đi và hoan nghênh con, thích làm gì thì làm, và ở lại bao lâu tùy thích,” bà Bhaer đáp lại với vẻ nhẹ nhõm vô cùng, bởi đôi khi dỗ dành một đứa con gái nhỏ còn khó hơn cả chục đứa con trai.

Daisy lon ton chạy đi, còn trong lúc con bé đang say sưa làm việc, dì Jo vắt óc suy nghĩ để tìm ra một trò chơi mới. Bỗng nhiên, bà như nảy ra một ý tưởng, tự mỉm cười một mình, sập mạnh cánh cửa tủ quần áo lại và bước đi thật nhanh, miệng lẩm bẩm: “Dì sẽ làm bằng được, nếu việc đó khả thi!”

Đó là trò gì thì hôm đó không ai tìm ra được, nhưng đôi mắt dì Jo lấp lánh niềm vui khi bảo với Daisy rằng bà đã nghĩ ra một trò chơi mới và chuẩn bị đi mua nó, khiến Daisy vô cùng phấn khích và hỏi dồn dập suốt dọc đường vào phố mà chẳng nhận được câu trả lời nào tiết lộ điều gì. Con bé được để ở nhà chơi với em bé mới sinh và làm vui lòng mẹ, trong khi dì Jo đi mua sắm. Lúc bà trở lại với đủ thứ gói hàng kỳ lạ nhét ở các góc xe, sự tò mò của Daisy lớn đến mức con bé muốn quay về Plumfield ngay lập tức. Nhưng người dì không chịu vội vàng, mà ngồi lại khá lâu trong phòng của mẹ, ngồi bệch xuống sàn nhà với em bé trong lòng, làm cho bà Brooke cười ngất trước những trò nghịch ngợm của lũ trẻ cùng đủ thứ chuyện trêu cười ngộ nghĩnh.

Làm thế nào mà dì kể lại bí mật đó thì Daisy không thể tưởng tượng nổi, nhưng rõ ràng mẹ con bé đã biết chuyện, bởi khi buộc chiếc mũ nhỏ lên đầu con bé và hôn lên má hồng phao phao bên trong, mẹ dặn dò: “Hãy là một đứa bé ngoan nhé, Daisy của mẹ, và học lấy trò chơi mới tuyệt vời mà dì đã chuẩn bị cho con. Đó là một trò vô cùng bổ ích và thú vị, và thật tốt bụng biết bao khi dì chịu chơi cùng con, bởi bản thân dì không thích trò ấy cho lắm.”

Câu nói cuối cùng khiến hai người phụ nữ cười vang sảng khoái và làm Daisy càng thêm bối rối. Khi xe lăn bánh rời đi, có tiếng lục cục phát ra từ phía sau xe.

“Gì thế ạ?” Daisy hỏi, vênh tai lên nghe.

“Trò chơi mới đấy,” dì Jo đáp giọng nghiêm trang.

“Nó làm bằng gì ạ?” Daisy kêu lên.

“Sắt, thiết, gỗ, đồng thau, đường, muối, than đá, và hàng trăm thứ khác nữa.”

“Lạ thế nhỉ! Nó màu gì ạ?”

“Đủ mọi màu sắc.”

“Nó to lắm không ạ?”

“Một phần thì to, còn một phần thì không.”

“Con đã thấy cái nào bao giờ chưa?”

“Nhiều lắm rồi, nhưng chưa bao giờ thấy cái nào tuyệt như cái này.”

“Ôi! Nó có thể là gì cơ chứ? Con không chờ nổi mất. Chừng nào con mới được thấy nó ạ?” Daisy nhảy tưng lên vì số ruột.

“Sáng mai, sau giờ học.”

“Mấy đứa con trai có được chơi không ạ?”

“Không, dành riêng cho con và Bess. Bọn con trai sẽ thích ngắm nó, và muốn chơi một phần trong đó. Nhưng con có quyền cho chúng chơi cùng hay không tùy ý.”

“Em sẽ cho Demi chơi, nếu nó muốn.”

“Khỏi lo là chúng không thèm thích, nhất là Stuffy,” đôi mắt bà Bhaer lại càng lấp lánh hơn nữa khi bà vỗ nhẹ vào một bọc đồ lợn cợn kỳ lạ đặt trên đùi.

“Cho con sờ một cái thôi nhé,” Daisy nài nỉ.

“Đừng hòng sờ; con sẽ đoán được ngay và làm hỏng mất bất ngờ.”

Daisy rên rỉ rồi lại cười toe toét khắp cả mặt, bởi qua một lỗ thủng nhỏ trên lớp giấy bọc, con bé thoáng thấy một vật gì đó sáng lấp lánh.

“Sao mà con chờ lâu thế được cơ chứ? Con xem ngày hôm nay không được ạ?”

“Ôi trời, không đời nào! Nó còn phải được sắp xếp, và bao nhiêu là bộ phận phải đặt đúng vị trí nữa chứ. Dì đã hứa với chú Teddy là con sẽ không được nhìn thấy cho đến khi mọi thứ ngăn nắp đâu vào đấy cơ mà.”

“Nếu chú biết về nó thì chắc chắn nó phải tuyệt lắm đây!” Daisy reo lên, vỗ tay rào rào; bởi người chú tốt bụng, giàu có và vui tính này đối với lũ trẻ chẳng khác nào bà tiên đỡ đầu trong truyện cổ tích, luôn lên kế hoạch cho những bất ngờ vui nhộn, những món quà xinh xắn và những trò tiêu khiển ngộ nghĩnh dành cho chúng.

“Ừ; chú Teddy đã cùng đi mua với dì, và chúng ta đã có khoảng thời gian cực kỳ vui vẻ trong cửa hàng khi chọn lựa từng bộ phận khác nhau. Chú ấy cứ khăng khăng mọi thứ phải thật đẹp và lớn, và cái ý tưởng nhỏ bé của dì bỗng trở nên hoành tráng hẳn lên khi chú ấy nhúng tay vào. Con phải dành cho chú cái ôm hôn thắm thiết nhất khi chú đến, bởi chú là người chú tuyệt vời nhất trân trọng mua một chiếc bếp nhỏ xinh... Ấy chết! Dì suýt nữa thì lỡ miệng nói cho con biết nó là gì rồi!” và bà Bhaer ngắt ngang từ ngữ vô cùng hấp dẫn ấy ở giữa chừng, rồi cúi xuống xem lại mấy tờ hóa đơn, ra điều sợ lỡ miệng "bật mí" bí mật nếu còn nói tiếp. Daisy đan hai tay vào nhau với vẻ nhẫn nhịn, ngồi im thin thít và cố gắng suy nghĩ xem trò chơi nào lại có dính dáng đến từ “bếp”.

Về đến nhà, con bé săm soi từng gói đồ được mang xuống, và có một gói to nặng do Franz khênh thẳng lên lầu rồi giấu vào phòng trẻ, đã khiến con bé tràn ngập ngạc nhiên và tò mò. Chiều hôm đó, có điều gì đó rất bí ẩn diễn ra trên gác, vì Franz thì đang cưa búa đóng đinh, Asia thì tất tả chạy lên chạy xuống, còn dì Jo thì thoăn thoắt như một bóng ma trơi với đủ thứ đồ giấu dưới tạp dề, trong khi bé Ted – đứa trẻ duy nhất được vào vì chưa biết nói sõi – thì cứ bập bẹ cười đùa, cố mô tả xem món “đồ chơi đẹp lắm” ấy là gì.

Tất cả những điều đó làm Daisy phát điên lên một nửa, và sự phấn khích của con bé lan sang cả lũ con trai, những đứa đã nhiệt tình đề nghị mẹ Bhaer giúp một tay, nhưng bị bà từ chối bằng cách mượn chính lời của chúng để nói lại với Daisy:

“Con gái không chơi cùng con trai. Cái này là dành cho Daisy, Bess và dì, nên bọn tao không cần tụi mày.” Nghe vậy, các cậu ấm liền ngoan ngoãn rút lui, và quay sang rủ Daisy chơi bi, chơi ngựa gỗ, đá bóng, bất cứ thứ gì con bé thích, với một sự nồng nhiệt và lịch sự đột ngột khiến tâm hồn ngây thơ của con bé phải kinh ngạc.

Nhờ những sự quan tâm ấy, con bé cũng qua được buổi chiều, đi ngủ sớm và sáng hôm sau làm bài tập với một năng lượng tràn trề khiến chú Fritz chỉ ước sao ngày nào cũng phát minh ra được một trò chơi mới. Không khí trong lớp học như râm ran hẳn lên khi Daisy được cho nghỉ học vào lúc mười một giờ, bởi ai nấy đều biết rằng bây giờ con bé sắp được chơi trò chơi mới vô cùng bí ẩn kia.

Biết bao ánh mắt dõi theo bước chân con bé, và tâm trí Demi xao lãng đến độ khi Franz hỏi sa mạc Sahara nằm ở đâu, cậu nhóc buồn rầu đáp: “Ở trên phòng trẻ,” khiến cả lớp được một trận cười ngất.

“Dì Jo ơi, con làm xong hết bài rồi, con không thể chờ thêm một phút nào nữa đâu!” Daisy vừa kêu lên vừa lao vút vào phòng bà Bhaer.

“Xong xuôi hết cả rồi, đi thôi nào;” tay kẹp bé Ted bên hông, tay kia cắp giỏ đựng đồ khâu, dì Jo nhanh nhẹn dẫn đường lên lầu.

“Con chẳng thấy gì cả,” Daisy ngước mắt nhìn xung quanh khi bước vào cửa phòng trẻ.

“Con có nghe thấy gì không?” dì Jo hỏi, vội kéo tà áo nhỏ của bé Ted lại khi cậu bé đang định lao thẳng về một góc phòng.

Daisy quả thực nghe thấy tiếng lách tách lạ tai, và sau đó là tiếng kêu ro ro nho nhỏ giống như tiếng ấm nước đang sôi. Những âm thanh ấy phát ra từ đằng sau tấm rèm che trước một ô cửa sổ lồi lớn. Daisy giật phăng tấm rèm ra, thốt lên một tiếng “Ôi!” đầy sung sướng rồi đứng ngây người ngắm nghía thứ đang hiện ra trước mắt – đố bạn biết đó là gì?

Một chiếc ghế băng dài chạy vòng quanh ba mặt của khung cửa sổ; một bên treo và bày đủ loại nồi niêu xoong chảo nhỏ xíu, vỉ nướng và chảo rán; bên kia là một bộ đồ ăn tối và uống trà mini; và ở chính giữa là một chiếc bếp nấu ăn. Không phải bếp bằng thiết đâu nhé, loại đó chẳng tích sự gì, mà là một chiếc bếp lò bằng sắt thực sự, to đủ sức nấu nướng cho một gia đình búp bê đông đúc đang đói ngấu. Nhưng tuyệt nhất là trong bếp có ngọn lửa cháy thực sự, hơi nước bốc lên nghi ngút từ vòi của chiếc ấm đằng trà nhỏ xíu, và nắp chiếc nồi con thì đang nhảy nhót tưng bừng vì nước sôi sùng sục bên trong. Một tấm kính cửa sổ đã được tháo ra và thay bằng một tấm thiết có khoét lỗ để luồn ống khói nhỏ, và làn khói thật bay ra ngoài tự nhiên đến nỗi nhìn vào thấy ấm cả cõi lòng. Hùng củi cùng chiếc thùng đựng than hoa đặt ngay gần đó; phía trên treo cái hót rác, chổi quét và chổi lông gà; một chiếc giỏ đi chợ xinh xắn đặt trên chiếc bàn thấp mà Daisy hay ngồi chơi, và tựa lưng ghế của con bé treo một chiếc tạp dề trắng có yếm cùng chiếc mũ trùm đầu ngộ nghĩnh. Ánh nắng chiếu vào như thể cũng đang tận hưởng niềm vui, chiếc bếp lò nhỏ gầm lên vui tai, ấm nước bốc hơi nghi ngút, những chiếc nồi thiết mới tinh lấp lánh trên vách tường, bộ đồ sứ xinh xắn xếp thành từng hàng đầy cám dỗ, và nói chung đó là một căn bếp ấm cúng và trọn vẹn nhất mà bất kỳ đứa trẻ nào cũng hằng ao ước.

Daisy đứng im phăng phắc sau tiếng “Ôi!” vui sướng ban đầu, nhưng đôi mắt cứ đảo nhanh từ món đồ đáng yêu này sang món đồ khác, sáng rực lên theo từng cái nhìn, cho đến khi dừng lại trên gương mặt tươi cười của dì Jo; con bé liền ôm chầm lấy dì và bày tỏ lòng biết ơn:

“Ôi dì ơi, đây là một trò chơi mới tuyệt vời quá! Con thực sự được nấu ăn trên chiếc bếp đáng yêu này, được tổ chức tiệc tùng, nghịch bẩn, quét dọn và nhóm lửa cháy thật ư? Con thích lắm! Sao dì lại nghĩ ra được hay thế ạ?”

“Vì thấy con thích làm bánh gừng với Asia nên dì mới nảy ra ý đó,” bà Bhaer vừa nói vừa ôm lấy Daisy đang nhảy tưng tưng như thể sắp bay lên. “Dì biết Asia sẽ không đời nào cho con vào bếp của mụ nghịch ngợm thường xuyên đâu, mà nấu ở cái bếp dưới nhà thì không an toàn chút nào, thế nên dì nghĩ thử tìm một chiếc bếp nhỏ cho con và dạy con nấu nướng; vừa vui mà lại vừa hữu ích nữa. Thế là dì lùng sục khắp các cửa hàng đồ chơi, nhưng mấy thứ to thì đắt quá và dì cứ ngỡ phải chịu thua, đúng lúc đó thì gặp chú Teddy. Vừa hay tin dì định làm gì, chú liền bảo muốn góp một tay và khăng khăng đòi mua cho bằng được chiếc bếp đồ chơi to nhất có thể tìm thấy. Dì la rầy nhưng chú chỉ cười trừ, trêu ghẹo về tài nấu nướng của dì hồi trẻ, rồi bảo dì phải dạy cả Bess lẫn con, và tiếp tục mua đủ thứ đồ nho nhỏ xinh xinh cho ‘lớp học nấu ăn’ của dì như chú gọi.”

“Con mừng vì dì đã gặp chú!” Daisy nói khi dì Jo dừng lại để cười khi nhớ lại khoảng thời gian vui nhộn bên chú Teddy.

“Con phải chăm chỉ học hành và nấu đủ các món, vì chú bảo chú sẽ sang uống trà rất thường xuyên và trông chờ những món ngon độc lạ đấy.”

“Đây là căn bếp ngọt ngào và đáng yêu nhất trên đời, con thà học nấu ăn ở đây còn hơn làm bất cứ việc gì khác. Con có thể học làm bánh nướng, bánh ngọt, mì ống và đủ thứ được không ạ?” Daisy vừa nói vừa nhảy múa quanh phòng, tay cầm một chiếc quánh nhỏ, tay kia cầm chiếc gạt tàn lửa tí xíu.

“Cái gì cũng phải từ từ chứ. Đây sẽ là một trò chơi bổ ích, dì sẽ giúp con, còn con sẽ là đầu bếp của dì, nên dì sẽ bảo con phải làm gì và hướng dẫn con cách làm. Rồi chúng ta sẽ có những món ăn ngon lành, và con sẽ thực sự học được cách nấu nướng quy mô nhỏ. Dì sẽ gọi con là Sally, và coi như con là một cô đầu bếp mới đến,” dì Jo nói thêm, rồi ngồi xuống bắt đầu công việc, trong khi cậu bé Ted ngồi bệt dưới sàn mút ngón tay, ngước nhìn chiếc bếp lò như thể đó là một sinh vật sống khiến cậu vô cùng tò mò.

“Tuyệt quá đi mất! Em phải làm gì trước tiên đây ạ?” Sally hỏi với gương mặt rạng rỡ niềm vui và thái độ sẵn sàng đến mức dì Jo chỉ ước sao mọi đầu bếp mới đều xinh xắn và dễ thương được một nửa như thế.

“Trước tiên, hãy đội chiếc mũ sạch này vào và đeo tạp dề lên. Dì hơi cổ hủ một chút, và dì thích đầu bếp của mình phải thật gọn gàng.”

Sally nhét đám tóc xoăn vào chiếc mũ tròn, đeo tạp dề lên mà không hề phàn nàn một tiếng, dẫu bình thường con bé hay cự nự việc mặc áo có yếm lắm.

“Bây giờ, con có thể sắp xếp lại mọi thứ cho ngăn nắp và rửa sạch bộ đồ sứ mới đi. Bộ cũ cũng cần được rửa luôn, vì cô đầu bếp trước của dì hay để nó trong tình trạng thê thảm sau mỗi buổi tiệc.”

Dì Jo nói với giọng rất tỉnh khô, nhưng Sally bật cười vì con bé thừa biết cô đầu bếp lùm xùm để lại những chiếc cốc dính đầy đường dính dáng là ai. Rồi con bé xắn tay áo lên, thở dài một hơi đầy mãn nguyện và bắt đầu lăng xăng quanh căn bếp của mình, chốc chốc lại ôm tim thổn thức vì vẻ đẹp của “chiếc cán lăn bột ngọt lịm”, “cái chậu rửa bát cưng xỉu”, hay “lọ rắc tiêu xinh xẻo”.

“Nào Sally, cầm giỏ lên và đi chợ thôi; đây là danh sách những thứ dì cần cho bữa trưa,” dì Jo nói, đưa cho con bé mẩu giấy khi mọi bát đĩa đã gọn gàng đâu vào đấy.

“Chợ ở đâu hả dì?” Daisy ngẩn người nghĩ rằng trò chơi mới này mỗi phút lại càng trở nên thú vị hơn.

“Asia chính là cái chợ.”

Thế là Sally chạy đi, lại làm xôn xao cả lớp học khi lướt qua cửa với bộ trang phục mới tinh, thì thầm với Demi bằng gương mặt ngập tràn hạnh phúc: “Trò chơi này tuyệt cú mèo luôn!”

Mụ Asia già tận hưởng trò đùa này chẳng kém gì Daisy, cười sảng khoái khi cô bé lao vào phòng với chiếc mũ lệch hẳn sang một bên, những nắp giỏ kêu lốc cốc như tiếng đàn castanet trông chẳng khác nào một mụ đầu bếp đang điên tiết.

“Dì Jo muốn lấy những thứ này, và con phải mang về ngay lập tức,” Daisy ra điều quan trọng lắm.

“Để ta xem nào, cục cưng; đây là hai cân thịt bò bít-tết, khoai tây, bí ngô, táo, bánh mì và bơ. Thịt thì chưa mang tới; chốc mang tới ta sẽ sai người đưa lên sau. Mấy thứ kia thì có sẵn cả đây rồi.”

Thế là Asia nhét một củ khoai tây, một quả táo, một miếng bí ngô, một cục bơ nhỏ và một ổ bánh mì vào giỏ, dặn Sally phải canh chừng cậu bé giao thịt vì thỉnh thoảng hay giở trò nghịch ngợm.

“Cậu ấy là ai ạ?” Daisy thầm mong đó sẽ là Demi.

“Rồi con sẽ biết,” Asia chỉ nói vỏn vẹn có thế; và Sally hào hứng bước đi, cất cao giọng hát một đoạn trong bài thơ kể chuyện ngọt ngào của người bạn thân Mary Howitt:

“Bé Mabel vội vã ra đi,

Cùng chiếc bánh mì lúa mì thơm ngon,

Hũ bơ vừa đánh xong,

Và bình rượu vang nhỏ.”

“Cất tất cả mọi thứ vào tủ thức ăn, trừ quả táo ra nhé,” dì Jo dặn khi cô đầu bếp về đến nhà.

Có một chiếc tủ nằm ngay bên dưới chiếc kệ giữa, và khi mở cửa ra, những điều kỳ diệu mới lại hiện ra. Một nửa rõ ràng là hầm rượu, vì củi, than đá và củi khô được chất đống ở đó. Nửa kia chứa đầy những chiếc lọ nhỏ, hộp và đủ loại dụng cụ ngộ nghĩnh dùng để đựng một lượng nhỏ bột mì, bột ngô, đường, muối và các nhu yếu phẩm gia đình khác. Một hũ mứt nằm ở đó, một chiếc hộp bánh gừng bằng thiết nhỏ, một lọ nước hoa eau de Cologne đựng đầy rượu vang nho, và một ống đựng trà tí xíu. Nhưng điểm nhấn tuyệt vời nhất là hai chiếc khay búp bê đựng sữa tươi nguyên chất với lớp váng kem đang nổi lên bồng bềnh, kèm theo một chiếc vá vớt kem nhỏ xíu sẵn sàng dùng để hớt. Daisy chắp hai tay lại trước cảnh tượng tuyệt ngon này và muốn hớt ngay lập tức. Nhưng dì Jo bảo:

“Chưa đâu; con sẽ cần lớp kem đó để ăn cùng bánh táo vào bữa trưa, không được động đến nó cho tới lúc đó nhé.”

“Con sắp được ăn bánh nướng cơ à?” Daisy kêu lên, khó lòng tin nổi hạnh phúc lớn lao nhường ấy lại đang chờ đón mình.

“Đúng thế; nếu lò nướng của con hoạt động tốt, chúng ta sẽ có hai chiếc bánh nướng, một nhân táo và một nhân dâu,” dì Jo nói, bà cũng hứng thú với trò chơi mới này chẳng kém gì Daisy.

“Ôi, tiếp theo là gì ạ?” Sally nóng lòng muốn bắt đầu.

“Hãy đóng cửa thông gió phía dưới của bếp lò lại để lò nhanh nóng. Sau đó rửa tay và lấy bột mì, đường, muối, bơ và quế ra. Kiểm tra xem thớt cán bánh đã sạch chưa, rồi gọt vỏ táo sẵn sàng để làm nhân nhé.”

Daisy gom mọi thứ lại với số tiếng động và số bột rơi vãi ít nhất có thể đối với một đầu bếp còn quá nhỏ tuổi.

“Dì thực sự không biết phải đong đếm thế nào cho những chiếc bánh nướng tí hon này; đành phải áng chừng vậy, và nếu mấy cái này không thành công, chúng ta sẽ thử lại,” dì Jo nói, trông có vẻ khá bối rối nhưng cũng rất thích thú trước công trình tí hon trước mặt. “Lấy chiếc chảo nhỏ đựng đầy bột mì đó, cho vào một nhúm muối, rồi nhào thật nhiều bơ như lượng bơ trên cái đĩa kia. Hãy luôn nhớ trộn các nguyên liệu khô với nhau trước, rồi mới đến nguyên liệu ướt. Trộn thế sẽ đều hơn.”

“Con biết cách làm; con thấy Asia làm rồi mà. Con cũng phải phết bơ vào khuôn bánh nướng nữa chứ ạ? Mụ ấy làm việc đó đầu tiên mà,” Daisy vừa nói vừa hất tung bột mì lên với tốc độ chóng mặt.

“Rất chính xác! Dì tin là con có năng khiếu nấu nướng đấy, con nắm bắt nhanh ghê,” dì Jo lên tiếng khen ngợi. “Bây giờ nhỏ vài giọt nước lạnh vào, vừa đủ để làm ướt bột thôi; sau đó rắc chút bột lên thớt, nhào một ít, rồi cán bột mỏng ra; đúng rồi, thế đấy. Bây giờ phết từng miếng bơ nhỏ lên khắp mặt bột và cán mỏng lại lần nữa. Chúng ta không làm bánh béo ngậy quá đâu, kẻo bọn búp bê ăn vào lại bị khó tiêu.”

Daisy cười khúc khích trước ý nghĩ đó và hào phóng rắc những miếng bơ lên. Sau đó con bé lăn qua lăn lại bằng chiếc cán bột đáng yêu của mình, và khi lớp bột đã sẵn sàng, tiến hành phủ kín các chiếc khuôn. Tiếp theo, táo được thái lát mỏng, đường và quế rắc thật đẫm lên trên, và cuối cùng phần vỏ bánh trên được đậy lên với sự cẩn trọng đến nín thở.

“Con vẫn luôn muốn tự tay cắt viền bánh cho tròn mà Asia không cho phép. Thích thật đấy khi được tự tay làm mọi thứ theo ý mình!” Daisy reo lên khi con chiếc dao nhỏ lướt qua lướt lại cắt tròn vành khuôn bánh đặt trên lòng bàn tay.

Đầu bếp nào cũng thế, dù giỏi đến đâu thì thỉnh thoảng cũng gặp phải sự cố, và sự cố đầu tiên của Sally đã xảy ra ngay lúc đó, bởi con dao di chuyển nhanh quá khiến chiếc khuôn trượt khỏi tay, lộn nhào một vòng trên không trung và hạ cánh với chiếc bánh đáng yêu úp ngược xuống sàn nhà. Sally hét lên, dì Jo cười phá lên, bé Ted lật đật bò tới để nhặt, và trong chốc lát sự hỗn loạn ngự trị trong căn bếp mới.

“Nó không bị vỡ hay rách gì cả vì con bóp chặt mép bánh lại lắm; chẳng hỏng chút nào đâu, thế nên con sẽ châm vài lỗ lên mặt bánh, rồi thế là sẵn sàng,” Sally vừa nói vừa nhặt món báu vật bị lật úp lên, nắn lại hình dáng với sự dửng dưng ngây thơ đối với đám bụi bẩn bám phải lúc rơi.

“Đầu bếp mới của dì có tính khí thật tốt, ta thấy thế và điều đó thật dễ chịu biết bao,” dì Jo nói. “Bây giờ hãy mở hũ mứt dâu ra, phết đầy vào chiếc bánh chưa đậy nắp, và xếp vài dải bột lên trên giống như cách Asia vẫn làm.”

“Con sẽ tạo hình chữ D ở giữa, và viền xung quanh bằng những đường ziczac, ăn vào chắc sẽ thú vị lắm đây,” Sally vừa nói vừa trang trí lên bánh những đường uốn lượn và hoa văn đủ kiểu có thể làm cho một thợ làm bánh thực thụ phát điên lên. “Giờ thì con cho chúng vào lò đây!” con bé kêu lên khi chiếc núm bám đầy muội than cuối cùng đã được cẩn thận đặt vào khoảng không mứt đỏ rực, và với vẻ mặt đắc thắng, con bé đóng sập cửa lò nhỏ lại.

“Dọn dẹp sạch sẽ lại đồ đạc đi con; một đầu bếp giỏi không bao giờ để dụng cụ bừa bãi. Sau đó gọt vỏ bí ngô và khoai tây nhé.”

“Chỉ có một củ khoai tây thôi ạ,” Sally cười khúc khích.

“Cắt nó thành bốn phần để vừa vào chiếc nồi nhỏ, rồi ngâm các miếng khoai vào nước lạnh cho đến lúc đem đi nấu.”

“Con có ngâm cả bí ngô không ạ?”

“Không đời nào! Chỉ gọt vỏ, cắt nhỏ rồi đặt vào xửng hấp trên nồi thôi. Làm thế bí sẽ ráo hơn, dẫu thời gian nấu lâu hơn một chút.”

Đúng lúc đó, tiếng cào cửa vang lên khiến Sally vội chạy ra mở, và Kit xuất hiện với chiếc giỏ ngậm trong miệng.

“Cậu bé giao thịt tới rồi kìa!” Daisy reo lên, vô cùng thích thú với ý tưởng đó khi lấy giỏ đồ từ miệng chú chó, khiến nó liếm mép và bắt đầu làm bộ nài nỉ, rõ ràng nghĩ rằng đó là bữa trưa của chính mình vì nó vẫn thường mang giỏ đồ cho chủ theo cách ấy. Khi nhận ra không phải vậy, nó tức tối bỏ đi và sủa ăng ẳng suốt dọc cầu thang để trút giận.

Trong giỏ có hai miếng thịt bò bít-tết (theo trọng lượng búp bê), một quả lê nướng, một chiếc bánh nhỏ và mẩu giấy đi kèm trên đó Asia nguệch ngoạc viết: “Dành cho bữa trưa của tiểu thư, nhỡ may món con bé nấu không thành công.”

“Con chẳng cần mấy thứ quả lê cũ rích của mụ đâu; con nấu thế nào cũng thành công và con sẽ có một bữa trưa thị soạn cho mà xem!” Daisy phẫn nộ kêu lên.

“Biết đâu chúng ta sẽ cần đến chúng nếu có khách ghé thăm. Trong kho lúc nào cũng nên dự trữ sẵn một ít đồ ăn,” dì Jo nói, bà đã được dạy dỗ bài học quý giá này qua một chuỗi các phen hoảng loạn trong gia đình.

“Con đói bụng lắm rồi,” bé Ted thông báo, bắt đầu nghĩ rằng với ngần ấy công đoạn nấu nướng diễn ra thì cũng đã đến lúc ai đó nên ăn thứ gì đó rồi. Mẹ cậu bé liền đưa giỏ đựng đồ khâu cho con nghịch với hy vọng giữ cho cậu ngồi yên cho đến khi bữa trưa sẵn sàng, rồi quay lại với công việc nội trợ của mình.

“Bắc rau lên bếp, dọn bàn ăn, rồi nhóm sẵn than để chuẩn bị nướng thịt lò.”

Thật là một trải nghiệm tuyệt vời khi được nhìn những củ khoai tây lỉnh kỉnh nhảy nhót trong nồi nhỏ; được lén nhìn miếng bí ngô đang mềm dần đi trong xửng hấp tí hon; được mở toang cửa lò nướng cứ sau mỗi năm phút để xem tiến độ mấy chiếc bánh nướng, và cuối cùng khi than đã đỏ hồng rực rỡ, đặt hai miếng bít-tết thực sự lên chiếc vỉ nướng dài bằng ngón tay rồi kiêu hãnh lật chúng bằng chiếc nĩa. Khoai tây chín trước tiên, và cũng dễ hiểu thôi, vì chúng đã sôi sùng sục suốt quãng thời gian qua. Chúng được nghiền nát bằng một chiếc chày nhỏ, cho thêm thật nhiều bơ nhưng lại quên cho muối (cô đầu bếp quên béng mất trong phút giây quá phấn khích), sau đó được đắp thành một gò cao trên chiếc đĩa màu đỏ rực rỡ, làm mịn bề mặt bằng con dao nhúng sữa, rồi đưa vào lò nướng cho xém vàng.

Mải mê với những công đoạn cuối cùng đó đến độ Sally suýt quên mất đám bánh nướng cho đến khi mở cửa lò để nhét đĩa khoai vào, và thế là một tiếng còi than khóc vang lên, ôi thôi hỡi ôi! Mấy chiếc bánh nhỏ đã bị nướng cháy đen thui!

“Ôi, bánh của con! Mấy chiếc bánh cưng của con! Chúng hỏng hết rồi!” tội nghiệp Sally kêu lên, vặn vẹo đôi bàn tay lấm lem khi ngắm nhìn tàn tích của công sức mình. Chiếc bánh tart trông đặc biệt thảm hại, bởi những đường xoắn ốc và ziczac tua tủa chĩa lên đủ mọi hướng từ lớp mứt đen kịt, chẳng khác nào những bức tường và ống khói của một ngôi nhà sau vụ hỏa hoạn.

“Trời ơi, dì quên không nhắc con lấy chúng ra; đúng là cái số đen đủi của dì,” dì Jo ân hận nói. “Đừng khóc nữa con cưng, là lỗi tại dì; lát nữa sau bữa trưa chúng ta sẽ làm lại,” bà nói thêm khi một giọt nước mắt lớn rơi từ khóe mắt Sally và xèo xèo bốc hơi trên lớp tàn tích nóng bỏng của chiếc bánh tart.

Mọi chuyện có lẽ còn tồi tệ hơn nếu miếng thịt bít-tết không bỗng dưng bốc cháy và thu hút toàn bộ sự chú ý của cô đầu bếp, khiến con bé nhanh chóng quên bẵng đi mớ bánh nướng vừa hỏng.

“Đặt đĩa thịt và đĩa ăn của con xuống dưới cho ấm, trong lúc con nghiền bí ngô với bơ, muối và rắc chút hạt tiêu lên trên nhé,” dì Jo cầu nguyện tha thiết mong bữa trưa sẽ không gặp thêm tai họa nào nữa.

Chiếc “lọ rắc tiêu xinh xẻo” xoa dịu tâm trạng của Sally, và con bé bày món bí ngô ra đĩa cực kỳ chuyên nghiệp. Bữa trưa đã được dọn lên bàn an toàn; sáu con búp bê được xếp ngồi ba người mỗi bên; Ted ngồi ở đầu bàn, còn Sally ngồi đầu bên kia. Khi mọi thứ đã ổn định, đây là một cảnh tượng vô cùng hoành tráng, bởi một con búp bê mặc váy dạ hội lộng lẫy, con khác mặc đồ ngủ; Jerry, chú bé len, mặc bộ đồ mùa đông màu đỏ, trong khi Annabella, cô bé cưng cụt mũi, mặc một bộ đồ mát mẻ chẳng có gì ngoài chính lớp da thuộc của nó. Với tư cách là gia trưởng trong nhà, Ted cư xử vô cùng đúng mực, vì cậu nhóc vui vẻ ngấu nghiến mọi thứ dọn ra mà không hề phàn nàn nửa lời. Daisy rạng rỡ nhìn đám khách của mình với vẻ mệt mỏi, nóng nực nhưng vô cùng hiếu khách chẳng kém gì những chủ nhân của các bữa tiệc lớn, và thực hiện nghi thức tiếp khách với vẻ thỏa mãn ngây thơ mà ta hiếm khi thấy ở bất kỳ nơi nào khác.

Miếng bít-tết dai đến mức con dao cắt thịt nhỏ không sao cắt đứt được; khoai tây thì không đủ chia cho mọi người, còn bí ngô thì vón cục; nhưng các vị khách vẫn lịch sự tỏ ra như không hề hay biết những chuyện vặt vãnh đó; và chủ nhà cùng phu nhân đã càn quét sạch sẽ bàn ăn với một chiếc thèm thuồng khiến bất kỳ ai nhìn thấy cũng phải thèm thuồng. Niềm vui được hớt một hũ váng kem đã xoa dịu nỗi đau đớn vì mất đi mớ bánh nướng, và chiếc bánh bị coi thường của Asia bỗng hóa thành kho báu tráng miệng.

“Đó là bữa trưa tuyệt nhất mà con từng có; ngày nào con cũng làm thế này được không ạ?” Daisy vừa hỏi vừa cạo sạch mấy mẩu thừa ăn nốt.

“Con có thể nấu ăn mỗi ngày sau giờ học, nhưng dì muốn con ăn các món chính vào bữa ăn bình thường, và chỉ được ăn một chút bánh gừng vào bữa trưa thôi. Hôm nay là ngày đầu tiên nên dì châm chước, nhưng chúng ta phải tuân thủ quy tắc. Chiều nay con có thể làm gì đó để uống trà nếu thích,” dì Jo nói, bà đã tận hưởng bữa tiệc trưa vô cùng vui vẻ dù chẳng ai mời bà dự tiệc cả.

“Dì cho phép con làm bánh kếp cho Demi nhé, nó thích món đó lắm, với lại lật bánh rồi kẹp đường ở giữa vui lắm ạ,” Daisy vừa nói vừa dịu dàng lau vết bẩn màu vàng trên chiếc mũi gãy của Annabella, vì Bella kiên quyết không chịu ăn bí ngô khi được ép ăn vì bảo tốt cho bệnh “thấp khớp” – một chứng bệnh mà chẳng có gì lạ khi con bé mắc phải, xét trên mức độ mỏng manh của trang phục nó mặc.

“Nhưng nếu con cho Demi ăn đồ ngon, mấy đứa khác cũng sẽ mong ngóng, và thế là con sẽ bận rộn ngập đầu cho mà xem.”

“Em có thể mời Demi lên uống trà một mình chỉ trong bữa này thôi có được không ạ? Sau đó em sẽ nấu đồ cho mấy đứa khác nếu chúng ngoan ngoãn,” Daisy đề xuất với một ý chợt lóe lên trong đầu.

“Đó là một ý tưởng tuyệt vời, Posy! Chúng ta sẽ biến những món ăn nhỏ xinh của con thành phần thưởng cho mấy đứa trẻ ngoan, và dì không biết có đứa nào trong số chúng lại không thích đồ ăn ngon hơn bất cứ thứ gì khác trên đời. Nếu những người đàn ông nhí cũng giống như người lớn, đồ ăn ngon chắc chắn sẽ chạm đến trái tim và xoa dịu tâm tính của chúng một cách tuyệt vời,” dì Jo nói thêm với một cái gật đầu vui vẻ hướng về phía cửa, nơi cha Bhaer đang đứng quan sát khung cảnh với gương mặt tràn ngập vẻ thích thú.

“Câu nói vừa rồi là nhắm vào anh đấy, người phụ nữ sắc sảo ạ. Anh xin nhận, vì đó là sự thật; nhưng nếu anh cưới em chỉ vì tài nấu nướng của em, người yêu dấu hỡi, chắc anh đã chết đói suốt bao nhiêu năm nay rồi,” vị giáo sư cười vang đáp lại khi tung tung bé Ted lên, cậu nhóc đang cố gắng miêu tả lại bữa tiệc vừa thưởng thức đến mức sắp nghẹt thở.

Daisy kiêu hãnh khoe căn bếp của mình, và bốc đồng hứa với chú Fritz bao nhiêu chiếc bánh kếp tùy thích. Con bé vừa kể về những phần thưởng mới thì bọn con trai, dẫn đầu là Demi, đã ùa vào phòng, hếch mũi ngửi không khí như một bầy chó săn đói, bởi giờ học đã tan, bữa trưa chưa sẵn sàng và hương thơm từ miếng bít-tết của Daisy đã dẫn lối chúng thẳng tới đây.

Chưa từng có một cô tiểu thư nào kiêu hãnh hơn Sally khi khoe những báu vật của mình và kể cho lũ trẻ nghe những gì đang chờ đợi chúng. Vài đứa tỏ ra chế giễu khả năng nấu được món gì ra hồn của con bé, nhưng trái tim Stuffy thì đã bị chinh phục hoàn toàn ngay lập tức. Nat và Demi thì đặt niềm tin vững chắc vào tài nghệ của con bé, còn những đứa khác bảo rằng sẽ chờ xem sao. Tuy nhiên, tất cả đều trầm trồ thán Đức căn bếp và săm soi chiếc bếp lò với sự tò mò sâu sắc. Demi ngỏ ý mua ngay cái nồi đun nước trên bếp để dùng cho động cơ hơi nước mà cậu đang chế tạo; còn Ned tuyên bố chiếc quánh to nhất và đẹp nhất chính là thứ hoàn hảo để nấu chảy chì khi cậu đúc đạn, rìu và những thứ vặt vãnh tương tự.

Daisy tỏ ra hoảng hốt trước những đề xuất này, khiến dì Jo ngay lập tức đặt ra và ban hành một luật lệ nghiêm ngặt: không một đứa con trai nào được phép chạm vào, sử dụng hay thậm chí đến gần chiếc bếp lò thiêng liêng nếu không có giấy phép đặc biệt từ chính chủ nhân của nó. Điều này làm gia tăng giá trị của căn bếp lên bội phần trong mắt lũ trẻ, đặc biệt là khi bất kỳ hành vi vi phạm nào cũng sẽ bị trừng phạt bằng cách tước bỏ toàn bộ quyền tham gia thưởng thức những món ngon hứa hẹn dành cho những đứa trẻ ngoan ngoãn.

Đúng lúc đó chuông reo vang, và toàn bộ cư dân kéo nhau xuống dưới nhà ăn trưa, bữa ăn được hâm nóng bởi việc mỗi đứa con trai đều đưa cho Daisy một danh sách những món chúng muốn được con bé nấu cho ăn ngay khi chúng giành được phần thưởng. Daisy, với niềm tin không giới hạn vào chiếc bếp lò của mình, hứa hẹn đủ thứ, miễn là dì Jo chỉ cho cách làm. Gợi ý này khiến dì Jo có phần lo lắng, bởi một vài món ăn vượt quá xa tầm tay kỹ năng của bà – ví dụ như bánh cưới, kẹo bơ cứng; hay súp bắp cải nấu với cá trích và anh đào mà ông Bhaer đề xuất như món ăn khoái khẩu của ông, để rồi ngay lập tức khiến vợ mình chìm đắm trong tuyệt vọng vì ẩm thực Đức vượt quá tầm hiểu biết của bà.

Daisy muốn bắt đầu lại ngay giây phút bữa trưa kết thúc, nhưng con bé chỉ được phép dọn dẹp, đổ đầy nước vào ấm chuẩn bị cho giờ uống trà, và giặt chiếc tạp dề trông giống như vừa trải qua một bữa tiệc Giáng sinh. Sau đó con bé được đuổi ra ngoài chơi đến tận năm giờ, vì chú Fritz bảo rằng học hành quá sức, ngay cả với bếp lò nấu ăn, cũng không tốt cho tâm trí và thể xác non nớt của trẻ nhỏ, và dì Jo thừa kinh nghiệm để biết những món đồ chơi mới sẽ mất đi sức hút nhanh nhường nào nếu không được sử dụng một cách khôn ngoan.

Chiều hôm đó ai nấy đối xử với Daisy vô cùng tốt bụng. Tommy hứa tặng con bé những sản phẩm đầu mùa trong khu vườn của mình, mặc dù loại cây trồng duy nhất có thể thấy lúc đó là cỏ dại; Nat đề nghị cung cấp củi miễn phí cho con bé; Stuffy thì tôn sùng con bé ra mặt; Ned lập tức bắt tay vào làm một chiếc tủ lạnh mini cho căn bếp của cô chủ nhỏ; và Demi, với sự đúng giờ đáng kinh ngạc ở một đứa trẻ tuổi ăn tuổi lớn, đã hộ tống con bé lên phòng trẻ đúng lúc đồng hồ điểm năm giờ. Vẫn chưa đến giờ bắt đầu buổi tiệc, nhưng cậu nài nỉ xin vào phụ giúp đến mức được đặc quyền mà ít vị khách nào có được: cậu tự tay nhóm lửa, chạy vặt và theo dõi tiến trình làm bữa tối của mình với sự hứng thú tột độ. Dì Jo điều hành mọi việc khi đi qua đi lại, vì bà đang bận rộn treo những tấm rèm sạch khắp nhà.

“Hãy xin Asia một cốc kem chua, khi đó bánh của con sẽ xốp nhẹ mà không cần dùng nhiều soda, loại mà dì không thích lắm đâu,” mệnh lệnh đầu tiên được đưa ra.

Demi phi như bay xuống lầu và trở lên với cốc kem cùng một gương mặt nhăn nhó, vì cậu đã nếm thử trên đường đi và thấy nó chua đến mức dự đoán thể nào bánh cũng không tài nào ăn nổi. Dì Jo nhân cơ hội này để giảng một bài ngắn từ trên chiếc thang chữ A về các tính chất hóa học của soda, Daisy thì chẳng thèm nghe nhưng Demi lại chú ý lắng nghe và hiểu rõ, bằng chứng là câu trả lời ngắn gọn nhưng đầy đủ ý:

“Vâng, em hiểu rồi, soda làm cho những thứ chua trở nên ngọt dịu, và phản ứng sủi bọt giúp bánh xốp lên. Để em xem chị làm thế nào nhé, Daisy.”

“Đổ đầy bát bột mì gần sát mép và cho thêm một ít muối vào đó,” dì Jo tiếp tục chỉ dẫn.

“Ôi trời ơi, hình như món gì cũng phải cho muối vào thì phải,” Sally phàn nàn, đã cảm thấy chán ngấy việc cứ phải mở cái hộp đựng thuốc nhỏ xíu chứa muối ra mãi.

“Muối cũng giống như sự hòa nhã vậy, và hầu như món gì cũng sẽ ngon hơn nếu có thêm một nhúm muối đấy, Posy,” chú Fritz dừng chân khi đi ngang qua, tay cầm chiếc búa để đóng hai ba chiếc đinh treo mấy chiếc chảo nhỏ của Sally.

“Anh không được phép vào phá lớp học nấu ăn của em đâu đấy, kẻo em sẽ vào lớp dạy tiếng Latinh của anh để thuyết giáo đấy. Anh thích thế không?” dì Jo vừa nói vừa ném một tấm rèm chintz lớn trùm lên đầu chồng.

“Thích lắm chứ, thử làm xem nào,” vị cha xứ Bhaer khả ái vừa hát hò vừa gõ cụp cụp quanh nhà như một chú chim gõ kiến khổng lồ.

“Cho soda vào kem, và khi nó ‘sủi bọt’ lên như lời Demi nói, hãy quấy đều vào bột mì rồi đánh thật mạnh tay vào nhé. Làm cho vỉ nướng thật nóng, phết thật nhiều bơ lên, rồi cứ thế rán cho đến khi dì quay lại,” và dì Jo cũng biến mất luôn.

Tiếng thìa khuấy lách cách và những nhát đánh bột túi bụi vang lên, lớp bột sủi bọt tơi xốp lên trông thấy, xin thưa với bạn là vậy; và khi Daisy đổ một ít bột lên vỉ nướng, nó phồng lên như phép thuật thành một chiếc bánh kếp xốp mềm khiến Demi nuốt nước bọt ực ực. Quả nhiên, chiếc bánh đầu tiên bị dính và cháy xém vì con bé quên phết bơ, nhưng sau thất bại đầu tiên ấy mọi chuyện đều suôn sẻ, và sáu chiếc bánh nhỏ tuyệt hảo đã nằm gọn gàng trên đĩa.

“Anh thích siro cây phong hơn là đường,” Demi nói từ chiếc ghế bành nơi cậu đã tự túc ngồi sau khi dọn bàn theo một phong cách mới lạ và đặc biệt.

“Thế thì ra xin Asia một ít đi,” Daisy đáp, bước vào phòng tắm để rửa tay.

Trong lúc phòng trẻ vắng bóng người, một thảm kịch kinh hoàng đã xảy ra. Số là Kit đã cảm thấy ấm ức suốt cả ngày nay vì nó mang thịt về an toàn mà chẳng được miếng nào lót dạ. Nó không phải là một chú chó hư, nhưng cũng có những tật xấu nhỏ giống như phần lớn chúng ta và không phải lúc nào cũng chống lại được sự cám dỗ. Tình cờ lảng vảng bước vào phòng trẻ vào thời điểm đó, nó ngửi thấy mùi bánh thơm phức, nhìn thấy chúng nằm không tì vết trên chiếc bàn thấp, và chẳng màng suy nghĩ đến hậu quả, nó nuốt chửng cả sáu chiếc bánh chỉ trong một ngượng. Thật mừng là bánh còn rất nóng và làm nó bỏng nặng đến mức không kìm được một tiếng ẳng đầy ngạc nhiên. Daisy nghe thấy, lao vào, nhìn thấy chiếc đĩa trống không cùng cái đuôi vàng khè đang tót biến dưới gầm giường. Không nói không rằng, con bé chộp lấy cái đuôi ấy, lôi kẻ trộm ra và lắc mạnh cho đến khi đôi tai chú ta đập phành phạch, rồi tống cổ nó xuống nhà bếp dưới nhà, nơi nó phải trải qua một buổi tối cô đơn trong thùng chứa than.

Được sự đồng cảm khích lệ từ Demi, Daisy làm thêm một bát bột nữa và rán một tá bánh, thậm chí còn ngon hơn mẻ trước. Quả thực, sau khi ăn hai cái, chú Fritz đã sai người nhắn lên rằng chưa bao giờ chú được nếm món nào ngon đến thế, và mọi đứa trẻ ở bàn ăn phía dưới đều ghen tị với Demi ở bữa tiệc bánh kếp trên gác.

Đó quả là một bữa tối thực sự tuyệt vời, vì chiếc nắp ấm trà tí hon chỉ rơi ra có ba lần và chiếc bình sữa chỉ bị đổ có một lần; những chiếc bánh kếp nổi lềnh bềnh trong siro, còn bánh mì nướng thì mang hương vị thịt bò bít-tết thơm ngon đặc quánh nhờ việc cô đầu bếp dùng luôn vỉ nướng thịt để nướng bánh mì. Demi quên bẵng triết học để nhồi nhét như một kẻ tham ăn phàm tục, trong khi Daisy lên kế hoạch cho những bữa tiệc hoành tráng còn mấy con búp bê thì mỉm cười thân thiện nhìn theo.

“Thế nào các cục cưng, hai đứa đã có một buổi tối vui vẻ chứ?” dì Jo hỏi, bước lên với bé Ted trên vai.

“Vui lắm ạ. Lát nữa em sẽ lại lên đây,” Demi dõng dạc trả lời.

“Dì e là con đã ăn quá nhiều rồi đấy, nhìn bãi chiến trường trên bàn kia kìa.”

“Không đâu ạ; em chỉ ăn có mười lăm cái bánh thôi, với lại chúng toàn là bánh tí hon mà,” Demi thanh minh, nãy giờ vẫn bắt cô em gái phải liên tục bận rộn tiếp đĩa cho mình.

“Chúng chẳng làm hại gì được nó đâu, bánh ngon thế cơ mà,” Daisy nói với một sự pha trộn ngộ nghĩnh giữa tình mẫu tử và niềm tự hào của một người nội trợ khiến dì Jo chỉ biết mỉm cười và thốt lên:

“Thôi được, nói chung thì trò chơi mới này đã thành công rực rỡ rồi nhỉ?”

“Em thích nó lắm,” Demi đáp, ra chiều sự đồng thuận của cậu là điều quan trọng nhất.

“Đây là trò chơi đáng yêu nhất từng được tạo ra!” Daisy vừa reo lên vừa ôm chặt lấy chiếc chậu rửa bát nhỏ xinh khi chuẩn bị rửa mấy chiếc cốc. “Con chỉ ước ai cũng có một chiếc bếp lò nấu ăn ngọt ngào như của con,” con bé nói thêm, trìu mến nhìn ngắm nó.

“Trò chơi này phải có một cái tên chứ nhỉ,” Demi nghiêm nghị nói, dùng lưỡi liếm sạch lớp siro còn dính trên mặt.

“Có rồi chứ.”

“Ôi, tên gì thế ạ?” hai đứa trẻ háo hức hỏi.

“Ừm, dì nghĩ chúng ta sẽ gọi nó là Pattypans (Bếp bánh mini),” và dì Jo lui ra, hoàn toàn mãn nguyện với sự thành công của cái bẫy mới nhất giăng ra để bắt lấy một tia nắng ấm.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.